Trịnh Doanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Doanh
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Doanh.png
Chân dung Trịnh Doanh trong Trịnh gia chính phả
Minh Đô Vương
Tại vị 1740 - 1767
Tiền nhiệm Trịnh Giang
Thời vua Lê Ý Tông
Lê Hiển Tông
Kế nhiệm Trịnh Sâm
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn Thị Ngọc Diễm
Hậu duệ
Tước hiệu Minh Đô Vương (明都王)
Thụy hiệu Ân Vương (恩王)
Miếu hiệu Nghị Tổ (毅祖)
Gia tộc Họ Trịnh
Thân phụ Trịnh Cương
Thân mẫu Vũ Thị Ngọc Nguyên
Sinh 1720
Mất 1767
Việt Nam

Minh Đô Vương Trịnh Doanh (chữ Hán: 鄭楹, 17201767), thụy hiệu Nghị Tổ Ân vương là vị chúa Trịnh thứ tám thời Lê Trung Hưng, ở ngôi từ năm 1740 đến 1767, đồng thời là một nhà thơ Việt Nam. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, Việt Nam.

Trịnh Doanh là con trai thứ ba của An Đô vương Trịnh Cương và là em trai của Uy Nam vương Trịnh Giang. Từ khi còn trẻ ông đã sớm bộc lộ là người có vǎn tài võ lược, được Trịnh Giang rất tin tưởng. Năm 1740, do Trịnh Giang bỏ bê việc nước, bà thái phi họ Vũ (mẹ của Trịnh Giang và Trịnh Doanh) đã cùng bọn đại thần Nguyễn Quý Cảnh tôn lập Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang.

Trong thời gian cai trị, Trịnh Doanh chú tâm vào việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy của nông dân trong nước, và trong vòng 10 năm thì tình hình cơ bản đã tạm yên. Ngoài ra ông cũng cố gắng đưa ra một số biện pháp cải cách để chấn hưng đất nước và xoa dịu sự bất bình của nhân dân, song không thể cứu vãn sự suy thoái của chính quyền Lê-Trịnh. Ông qua đời vào năm 1767 và ngôi chúa được truyền cho người con trai trưởng là Trịnh Sâm.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Doanh chào đời vào năm 1720 dưới triều Lê Dụ Tông. Ông là người con trai thứ ba của An Đô vương Trịnh Cương, vị chúa Trịnh thứ sáu, mẫu thân là bà thái phi họ Vũ. Năm 1729, Trịnh Cương qua đời, Trịnh Giang lên nối ngôi. Sau khi làm chúa, Trịnh Giang làm việc đại nghịch là giết vua, lại hãm hại nhiều đại thần dưới thời cha mình, rồi sa vào tửu sắc, trọng dụng bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ lũng đoạn triều chính; khiến nhân dân thống khổ, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi.

Để có nhiều thời gian ăn chơi, vào năm 1735, Trịnh Giang phong cho Trịnh Doanh làm Tiết chế quân thủy, quân bộ các xứ, chức Thái úy, tước Ân quốc công, mở phủ Lượng quốc. Trịnh Doanh mỗi tháng ba lần tiếp kiến trăm quan ở trạch các, để nghe trình bày công việc. Tuy nhiên Trịnh Doanh bị Hoàng Công Phụ hiếp chế nhưng cũng không nắm được thực quyền. Do đó đất nước ngày càng đi xuống, nạn đói nổ ra khắp nơi. Sách Đại Việt sử kí dẫn lại tình cảnh đất nước lúc đó (1741)

Dân đói dắt nhau đi xin ăn đầy đường. Giá gạo tăng vọt, một trăm quan tiền không đổi lấy bữa no. Dân phần nhiều ăn khoai, đến nỗi có cả người ăn thịt rắn, thịt chuột cho qua ngày. Bệnh tật cả phát, xác chết chồng lên nhau, xương trắng đầy đồng. Số người sống sót không đến một phần mười, khói bếp tiêu điều lạnh lẽo; những nơi sầm uất hóa ra gò đống.

Chính vì tình cảnh đó, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, ban đầu chỉ là lẻ tẻ, nhưng về sau phát triển rộng khắp, lôi kéo hàng ngàn, hàng vạn người tham gia như cuộc khởi nghĩa Nguyễn Đương Hưng, Nguyễn Tuyển - Nguyển Cừ, Hoàng Công Chất, Nguyễn Hữu Cầu ...

Chính biến năm 1740[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày làm việc giết vua, Trịnh Giang lấn quyền càn giỡ mỗi ngày một quá, dâm dục chơi bời không kiêng kị gì cả, sau mắc chứng bệnh kinh quý, sợ sấm sét. Bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ bèn đào đất làm cung Thưởng Trì dưới hầm cho Giang ở, từ đấy Giang không bước chân ra ngoài, Công Phụ cùng đồ đảng của hắn chuyên chính lộng quyền, các quan đại thần kế tiếp nhau người bị giết, người bị phạt, người nào cũng nơm nớp lo sợ không tự bảo toàn được thân. Chính sự trái ngược, thuế khóa nặng nề, lòng dân mong sao cho chóng nổi lên loạn lạc.

Còn Trịnh Doanh là người sáng suốt, quả quyết, có tài văn võ, rất được lòng người. Nhưng ông bị Hoàng Công Phụ ngăn trở nên chẳng nắm được quyền hành. Trước tình hình đó, vào đầu năm 1740, bà Trịnh thái phi Vũ thị cho triệu Bồi tụng Hữu tư giảng Nguyễn Quý Cảnh, nhờ đến khuyên Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang. Lúc ấy Quý Cảnh đang có trọng tang ở nhà, bèn nhân lúc nhàn rỗi nói với Doanh. Doanh khóc và ngăn cản đi. Quý Cảnh đem việc ấy nói với bồi tụng Nguyễn Công Thái và các đại thần Trịnh Đạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Đinh Hoàn, họ đều đồng tình[1].

Lúc đó Hoàng Công Phụ đã đem quân đánh Nguyển Tuyển, thành Thăng Long bỏ trống. Quý Cảnh chia binh giữ các cung điện và các ngỏ ngách trong thành, rồi vào ngày khai bảo[2] họp các quan phò lập Trịnh Doanh lên làm chúa[1].

Sáng hôm sau, Trịnh Doanh đến phủ đường, bọn Quý Cảnh và Trương Khuông theo sau hộ vệ. Một lúc sau, Tào Thái hầu đưa sắc văn và dụ chỉ đến. Công Thái xướng lên rằng "Có sắc mệnh". Trịnh Doanh quỳ xuống nhận chiếu. Nội giám Phan Lai hầu lên tiếng trách móc liền bị tống vào ngục. Trương KhuôngNguyễn Đình Hoàn liền phò Trịnh Doanh lên ngai, bọn Quý Cảnh đứng hầu xung quanh, nội thị Giáp Nguyên Khoa đánh trống triệu các quan. Bọn hoạn quan ở cung Thưởng Trì được tin, vội tập hợp lực lượng đánh Quý Cảnh và tôn Trịnh Giang làm chúa như cũ, nhưng bị hương binh của Quý Cảnh đánh bại, giết sạch. Trăm quan cùng đem nhau đến lạy mừng. Trịnh Doanh tự tiến phong Nguyên soái, tổng quốc chính, Minh Đô vương, tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương[1].

Các chính sách mới[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Trịnh Doanh ban hành một số chính sách mới 1. Bỏ giám ban mà Trịnh Giang đặt ra, khôi phục hai ban văn vũ theo chế độ cũ, để triều đình được nghiêm trọng; 2. Ba năm xét công trạng các quan một lần, để phân biệt người tốt, người xấu; 3. Lục dụng người không mắc tội mà phải giáng truất, để cất nhắc người có tài mà bị chìm đắm; 4. Nghiêm ngặt đối với những đơn xin chức tước hoặc bảo toàn tính mệnh, để con đường làm quan được trong sạch; 5. Tăng thêm khẩu phần ruộng, để binh lính đủ lương ăn; 6. Rộng xá thuế tô, thuế dung, để cứu chữa sự đau khổ cho dân; 7. Đình chỉ tất cả công việc xây dựng, để sức lực của dân được thư thả; 8. Triệt bỏ các sở tuần ti, bến đò đặt trái phép, để tỏ rõ chính thể khoan hồng; 9. Cấm chỉ sự ức hiếp và lối đặt tiền trước để mua hàng; 10. Định lệnh thưởng và phạt tướng sĩ có công hoặc có tội, ra ân rộng rãi cho quân sĩ đã chết vẫn được hưởng miễn trừ; 11. Định rõ việc khiếu tố các viên quan cai quản làm việc hà khắc nhũng lạm; 12. Đê đường, giao cho viên quan ở trấn đốc thúc sửa đắp, để việc làm ruộng được thuận tiện; 13. Tiền của cải giao về bộ Hộ giữ gìn quản trị, để việc chi dùng trong nước được đầy đủ; 14. Các việc kiện tụng, cấm dâng tờ khải khiếu tố càn rỡ; 15. Miễn tô ruộng cho hai xứ Thanh, Nghệ.

Điều lệnh ban ra, trong ngoài đều mừng rỡ. Trịnh Doanh còn hạ lệnh cho Nguyễn Đình Hoàn đem quân bảo vệ cung Thưởng Trì bắt giết đồ đảng thân tín của Hoàng Công Phụ. Công Phụ còn đóng quân ở Vân Giang, hay tin vội bỏ trốn[1]. Trịnh Doanh lại ban thêm các chính sách khoan hồng

  1. Quan hoặc quân để mất đồ vật công chưa đền, nếu là do thất quản thì miễn tội, nếu nhân việc ấy mà luận tội phạt phải bồi thường thì được khất
  2. Truy phục quan tước cho Lê Anh Tuấn, Đỗ Bá Phẩm, Nguyễn Thọ Trường.
  3. Bầy tôi can tội lây mà phải giáng truất, nay đều được tẩy rửa tội lội và lại được vào chầu chực, như bọn Đào Hoàng Thực, Vũ Công Trấn, Lê Trọng Thứ, Lê Vĩ,...
  4. Con cháu công thần bị lưu lạc dân gian và hàng ngũ quân lính đều xét theo tài năng rồi bổ dụng. Do đấy, người có tài mà bị chìm đắm không ai là không có lòng phấn khởi.

Tôn lập dòng trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Doanh quan tâm đến việc thu phục lòng dân. Biết dân vẫn bất bình việc Trịnh Giang bỏ trưởng lập thứ, vào mùa hạ năm 1740, Trịnh Doanh ép Ý Tông Huy hoàng đế phải truyền ngôi cho con trưởng của Thuần Tông Giản hoàng đế là Duy Diêu, tức là Hiển Tông Vĩnh hoàng đế. Ý Tông lên làm thượng hoàng, ra ở điện Kiến Thọ[1].

Hiển Tông Vĩnh hoàng đế trước kia đáng lẽ đã được lên ngôi, nhưng lại bị Trịnh Giang giam cầm. Trịnh Doanh mật sai người dời Duy Diêu đến ở nhà quận Bính Vũ Tất Thận. Trước đây, Tất Thận chưa biết việc này. Một đêm, nằm mộng thấy một người đến nhà với nghi vệ thiên tử; hôm sau thấy Duy Diêu đến. Tất Thận bèn đem việc này nói với Doanh. Doanh muốn nhờ vào phúc đức Duy Diêu, mới cùng các đại thần bàn định tôn lập làm vua và xin nhà vua nhường ngôi cho Duy Diêu. Chiếu ban ra, sĩ đại phu cả thảy đều mừng rỡ. Sách Khâm định việt sử thông giám cương mục bàn về việc này

Nói về nhà Lê, từ khi Trịnh Tùng bạo nghịch giết vua đến nay đã sáu đời, chúng rập theo hành động cũ, bắt chước thói xấu của nhau, đối với vua Lê, việc gì chúng cũng lấn vượt. Đem đại nghĩa kinh Xuân Thu (Khổng Tử) mà xét, tất nhiên phải chịu hình phạt búa rìu. Trịnh Doanh biết rước lập Hiển Tông, muốn nương nhờ vào phúc đức, thế mà lại tác phúc tác oai. tự nắm lấy quyền bính trong nước, rồi một lần truyền ngôi nữa, con là Trịnh Sâm bắt chước, lăng loàn áp bức vua Lê ngày càng tệ hơn. Câu sấm ngữ "Lê bại Trịnh vong" [3] chung quy không thuốc nào cứu chữa được. Thế thì những kẻ giả thác danh nghĩa chả đáng nên lấy đấy làm gương răn đó sao?

Dẹp Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và Vũ Đình Dung[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ từ miền núi, miền biên viễn cho tới bốn trấn bên trong, đâu đâu cũng phát sinh lực lượng nổi dậy. Để đối phó, Trịnh Doanh đề ra các chính sách tuyển thêm ưu binh từ hai xứ Thanh, Nghệ là quê hương của vua Lê và chúa Trịnh. Theo lệ này thì cứ ba suất đinh thì lấy một lính. Lại hạ lệnh cho các trấn ngoài nếu dâng nộp o diên, diêm tiêu, lưu hoàng, sẽ miễn cho việc đánh thuế mỏ và miễn tiền thuế dung, thuế điệu của dân đinh trong khi vực mà người phiên mục ấy cai quản. Những khách buôn ở các cửa hàng trong kinh kỳ và phố Lai Triều, nếu người nào tình nguyện dâng nộp để xin thưởng chức sắc, sẽ thưởng cho theo như thể lệ người nộp thóc hoặc nộp tiền; nếu người nào không muốn lấy chức sắc thì trã lại bằng tiền; người nào ẩn giấu sẽ phải tội[1].

Ngay sau khi mới lên ngôi, Trịnh Doanh cử Trịnh Kính đánh dẹp Sơn Nam song bị Hoàng Công Chất đẩy lui. Ông lại sai Trần Đình Miên, Nguyễn Bá Lân đánh Sơn Tây, Lê Duy Mật phải lui về Thượng Đạo. Lúc đó quân Ngân Già[4] của Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao uy hiếp phố Chân Ninh thanh thế rất lừng lẫy, giết Đốc lãnh Hoàng Kim Trảo. Tháng 2 ÂL, tù trưởng trấn Lạng Sơn Toản Cơ nổi dậy, đánh phá Đoàn Thành, giết Tổng phủ Ngô Đình Thạc. Thống lĩnh Bắc đạo Nguyễn Trọng Uông giao chiến với Nguyển Tuyển ở xã Bình Ngô[5], nhưng thua trận bị giết, triều đình cử con là Đức Thân lên thay[1].

Bấy giờ có cuộc khởi nghĩa của hai thủ lĩnh Tế và Bồng ở Sơn Tây. Trịnh Doanh sai quận Thể Vũ Tá Lý đánh dẹp, giết được hai người. Thủ hạ của Tế là Nguyễn Danh Phương lui quân về Tam Đảo, tiếp tục chiếm đóng vùng này, làm thành lũy, chiêu mộ binh lính, vơ vét lương ăn, chứa khí giới, họp đồ đảng, ẩn náu nơi núi rừng. Trịnh Doanh vì còn Nguyễn TuyểnHoàng Công Chất ở vùng đông nam nên tạm không lo đến Tam Đảo.

Mùa hạ tháng 5 ÂL năm 1740, Nguyễn Tuyển ngày càng lớn mạnh. Trịnh Doanh hạ lệnh thu nhặt hết chuông khánh ở các chùa thờ Phật để đúc vũ khí, khiến nhiều công trình có giá trị của dân tộc bị phá hủy.

Mùa đông tháng 10 ÂL năm 1740, Trịnh Doanh đích thân dẫn quân đánh Ngân Già. Khi đó quân khởi nghĩa không có chỗ ở cố định, chỉ dựa vào nơi bùn lầy làm hiểm trở, gặp quân triều đình thì vác dao xông vào chém bừa bãi, các tướng nhiều lần bị thua. Tháng 11 ÂL, quân tiến đến đóng tại xã Vũ Điện, sau kéo đến Hiến Doanh, chia các tướng thành từng bộ phận, hẹn ngày đều tiến quân: Sáng sớm xuất phát từ Hiến Doanh, chiều đến sông Vị Hoàng sáng sớm hôm sau đến Lục Đạo. Bọn Đình Dung đem hết quân ra đánh để kháng cự. Doanh sai Đinh Văn Giai, Nguyễn Đình Hoàn, Vũ Tất ThậnTrương Khuông đốc suất quân các doanh ra đánh. Quân Trịnh bị một lần phục binh; Trịnh Doanh giận lắm bèn thúc voi mà tiến. Ở đó bốn mặt bùn lầy, nên quân khởi nghĩa chủ quan. Ai ngờ lúc đó đã vào mùa khô, bùn lầy trở nên khô ráo, Trịnh Doanh bèn thúc quân đánh kẹp vào; quân khởi nghĩa tan vỡ, toàn xã Ngân Già biến thành vũng mấu, thây người chết chồng chết lên nhau[1]. Cuộc khởi nghĩa Ngân Già bị dẹp.

Nhân lúc Trịnh Doanh đánh Ngân Già, cả thành Thăng Long bỏ trống, quân Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Ninh Xá tiến thẳng quân sát bến Bồ Đề, uy hiếp kinh đô. Thái phi sai Trịnh Đạc giữ các cửa thành, Phạm Kinh Vĩ, Nguyễn Bá Quýnh đem hết dân cư ngoài thành ra bến sông làm nghi binh. Tướng Đặng Đình Mật đưa quân ra đón đánh nhưng bại trận phải lui về. Quận Diệu Trần Cảnh cùng Bàng Thọ hầu nghe tin bèn đưa quân đánh vào mặt sau của quân khởi nghĩa; Trịnh Doanh được tin cũng lập tức quay về Thăng Long. Khi về tới Kim Lan[6] thì Nguyển Tuyển đã phải lui quân.

Trước việc quân khởi nghĩa còn mạnh, vào đầu năm 1741, Trịnh Doanh chia Sơn Nam làm thượng lộ và hạ lộ. Sơn Nam cùng Sơn Tây và Kinh Bắc đều đặt chức chưởng đốc. Không lâu sau, Nguyễn Cừ và cháu là Nguyễn Diên bị đánh bại[7].

Đối phó với Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đó các hoàng thân triều Lê do Lê Duy Mật đứng đầu nổi lên Tháng 9 ÂL, Duy Mật lĩnh quân theo đường An Hóa[8], Phụng Hóa thuộc Thiên Quang, vượt Mĩ Lương và Minh Nghĩa kéo ra sông Đà, sông Thao. Trịnh Doanh sai Đặng Đình Mật đến Thanh Hóa, đốc các đạo An Sơn, Mĩ Lương và Chương Đức tiến đánh. Đình Mật bất ngờ đánh úp, phá được quân Duy Mật. Duy Mật rút quân giữ huyện Văn Lãng thuộc Thái Nguyên, sau lại trở về Thanh Hoa dựng doanh lũy ở xã Ngọc Lâu[9], xưng hiệu là Thiên Nam đế tử.

Bấy giờ vẫn còn Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công ChấtLê Duy Mật. Trịnh Doanh hạ lệnh các quân lính phải phân phối đi đánh phá càn quét các quan giữ chính quyền trong phủ xin tạm kén dân các huyện gần kinh kỳ, cứ 5 suất đinh kén lấy một người làm hương binh, tha dao dịch cho họ, duyệt tập theo như phép lính chính thức. Ông hạ lệnh cho Tất Thận và Quý Cảnh chia nhau quản lãnh, phân phối hương binh đóng ở ngoài kinh thành, để phòng bị việc bắt trắc xảy ra.

Tháng 3 ÂL năm 1742, Trịnh Doanh giả mệnh Hiển Tông Vĩnh hoàng đế, tự phong làm đại nguyên soái, tổng quốc hính, Thượng sư, Minh vương. Trịnh Doanh cho đặt cái ống bằng đồng ở cửa phủ, hạ lệnh cho người có việc hoặc người bị oan ức làm tờ tố cáo bỏ vào trong ống, cứ 5 ngày người có trách nhiệm đem ống ấy tiến trình. Lúc ấy, nhiều người có thư tố cáo quan lại tham nhũng nhưng phần nhiều không có chứng cứ. Rốt cục Trịnh Doanh theo lời Tả chính ngôn Lê Trọng Thứ, bỏ cái ông ấy đi[7].

Năm 1743, sau khi Nguyễn Cừ chết, con rể là quận He Nguyễn Hữu Cầu tập hợp lại lực lượng, chiếm Đồ Sơn làm căn cứ, đánh phá xã Lão Phong, tướng Trịnh Bảng đem quân đánh, bị thua chết. Hữu Cầu thế lực ngày càng lớn[7]. Trịnh Doanh dùng Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng chống lại Cầu. Năm 1746, Nguyễn Hữu Cầu vì thua trận liên tục nên giả cách xin hàng triều đình. Triều đình có lệnh phong ông ta làm Ninh Đông tướng quân, Hương Nghĩa hầu, triệu về kinh sư. Hữu Cầu lấy cớ bị Đình Trọng ngăn đón để tố cáo về triều. Trịnh Doanh sai thiêm tri Nguyễn Phi Sảng đem lệnh chỉ đến phủ dụ và triệu về, mặt khác dụ bảo Đình Trọng hoãn lại đừng đánh Hữu Cầu vội. Nhưng Đình Trọng vì mối thù với Nguyễn Hữu Cầu[10] nên không chịu lui; rồi nhân lúc bất ngờ mà đánh úp, thắng một trận lớn khiến Hữu Cầu phải bỏ chạy. Khi đó Trịnh Doanh đang hăng hái về công việc chính trị, hạ lệnh đặt chuông và mõ ở cái điếm về cửa phía tả phủ đường. Có người nào trình bày công việc hiện thời và người nào có tài nghệ mà tự mình tiến cử, thì đánh chuông; người nào bị bọn quyền quý ức hiếp và người nào có sự oan uổng chưa được bày tỏ, thì đánh mõ. Những người này đều phải làm đủ giấy tờ niêm phong kín. Lại phiên lập tức dâng lên để chúa biết. Lại vì từ những năm Bảo Thái, việc thi cử đã chẳng ra gì, số người đỗ do thực học chẳng bao nhiêu; nên Doanh bỏ phép thi "tứ trường", cho khôi phục lại phép thi "sảo thông", lại cho phúc khảo cống sĩ; nhưng vì thời buổi loạn lại nên chỉ loại bớt có 2, 3 phần mười mà thôi[11].

Nguyễn Hữu Cầu tung hoành ngang dọc khắp thiên hạ trong mười năm, hai lần tấn công Kinh Bắc, uy hiếp Thăng Long, là tên giặc kiệt hiệt một đời. Hai bên giằng co trong nhiều năm, tới năm 1751 thì quân Trịnh do Phạm Đình Trọng đánh bại và bắt được Cầu ở Nghệ An. Vì tình hình đông nam đã tạm yên, nên chúa rút Ngũ Phúc và Đàm Xuân Vực về, chuyển lên vùng Kinh Bắc, cùng đô đốc Bùi Thế Đạt tiếp ứng lẫn nhau, sau đó cử Đinh Văn Giai trấn thủ Sơn Tây.

Năm 1749, quận Hẻo Nguyễn Danh Phương từ Bạch Hạc đến cướp xã Cổ Đô huyện Tiên Phong. Trịnh Doanh hạ lệnh cho Nguyễn Phan cùng Bùi Trọng Huyến đi đánh[11]. Quận Hẻo thường xuyên đánh phá các vùng xung quanh khiến quân Trịnh chống đỡ vô cùng vất vả. Đến cuối năm 1750, Trịnh Doanh tự đốc suất đại quân đánh Nguyễn Danh Phương, hạ lệnh cho Hoàng Ngũ PhúcĐỗ Thế Giai định 37 điều quân lệnh, chia binh sĩ làm bốn đạo quân, bổ dụng Hoàng Ngũ Phúc tạm trông coi việc quân. Nguyễn Nghiễm làm tán lý, Đoàn Chú làm hiệp đồng[12].

Trịnh Doanh nhân lúc đêm tối đánh đồn Ức Kỳ rồi lại đánh sang Hương Canh. Hai bên giằng co rất lâu chưa phân thắng bại. Trịnh Doanh đưa kiếm cho tì tướng Nguyễn Phan, bảo rằng, hạ lệnh phải thắng bằng được, nếu không phải xử theo quân pháp[12]. Phan ra sức đốc thúc tướng sĩ, cố sức đánh, phá tan được. Danh Phương thu nhặt số quân còn sót lại giữ đại đồn Ngọc Bội. Trịnh Doanh lại sai Nguyễn Phan tiến đánh. Quân quận Hẻo vỡ tan tành, Danh Phương đốt doanh lũy, rồi nhân đêm chạy trốn. Quan quân đuổi theo, bắt được Danh Phương ở xã Tĩnh Luyện, huyện Lập Thạch[12]. Đó là tháng 2 ÂL năm 1751.

Giữa lúc đó thì chiếc cũi chở Nguyễn Hữu Cầu cũng đã đến. Trịnh Doanh mở tiệc mừng công ở xã Xuân Hi[13] để thưởng tướng sĩ; lại bày trò vui bắt Cầu thổi sáo, Phương rót rượu[12], tam quân xúm quanh lại xem, tiếng vui mừng nổi lên như sấm, bèn kéo quân về kinh sư. Sau đó Nguyễn Hữu Cầu bị chém cùng một lúc với Nguyễn Danh Phương. Cương mục bàn về sự kiện "vui" ngày hôm đó

Một việc vui sướng ngàn đời. Nếu không có Trịnh Doanh, thì việc này cũng rất khó khăn.[12]

Thế là hai vị tướng tiêu biểu trong khởi nghĩa nông dân đã bị giết hại; chỉ còn lại Hoàng Công ChấtLê Duy Mật, thế lực suy yếu hơn trước.

Xây dựng đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1750, khi bạo loạn trong nước vẫn chưa dẹp yến, chúa ban bố 12 điều hiểu thị trong kinh ngoài trấn

  1. Viên đại thần vào hạng thân thích, hạng có công, tâu bày công việc, làm tờ niêm phong kín dâng nộp.
  2. Viên chưởng phủ và tham tụng tùy từng việc mà dâng điều hay, ngăn điều dở.
  3. Viên thống lãnh các đạo quân phải xếp đặt công việc kỷ càng cho hợp lẽ phải.
  4. Viên ngự sử khi đàn hặc đứng đối diện với hàng nghi trượng.
  5. Cấm nhà quyền thế ức hiếp người khác.
  6. Viên thiêm sai khám xét kiện tụng phải theo lẽ công bằng.
  7. Viên nội sai chi ra thu vào1 phải rõ ràng cẩn thận.
  8. Trăm quan phải kính cẩn làm đầy đủ chức phận.
  9. Binh lính phải có kỷ luật, không được sinh lòng kiêu căng, lười biếng.
  10. Dân phải theo lệnh trên, các hào mục trong làng không được quấy nhiễu dân.
  11. Cấm sở tuần ti đánh thuế trái pháp.
  12. Răn cấm lại dịch tiết lậu việc quan hoặc lười biếng bỏ việc.

Lại vì việc binh cần nhiều vàng bạc, nên nhân cuối năm 1750 có khoa thi Hương, chúa hạ lệnh cho mỗi người nộp ba quan tiền, sẽ miễn phải khảo hạch và đều cho đi thi, gọi là "tiền thông kinh". Do đó "người làm ruộng, người buôn bán, tên đồ tể đều hớn hở nộp quyển đi thi. Ngày vào trường thi, học trò giày xéo lẫn lên nhau đến nỗi có người chết. Trong trường thi thì kẻ mang sách, kẻ mướn người làm bài hộ một cách công khai, quan trường cùng người gian trá khác chi các chợ. Phép thi như thế, thực không có gì thối nát hơn nữa"[12].

Tháng 6 năm 1751, chúa chấn chỉnh chức trách các viên quan giữ việc chính trịm bèn hạ lệnh cho tham tụng Nhữ Đình Toản châm chước điển lệ các triều, xếp đặt quan chức phẩm trật thành từng loại, gọi là "Tấn thân thực lục". Lại ban hành 9 điều nói rõ chức trách công việc các quan trong kinh, ngoài trấn:

  1. Giúp đỡ vua làm cho bụng nghĩ của vua được ngay thẳng.
  2. Phân biệt, kèn chọn quan lại.
  3. Bàn định chính sách đối với dân.
  4. Định kỷ luật quân ngũ.
  5. Xếp đặt việc chi dùng trong nước.
  6. Sách tỏ về thể lệ kiện tụng.
  7. Bàn định việc tính toán chi thu.
  8. Việc thường, việc phạt phải cho đúng lẽ.
  9. Hiệu lệnh phải tin thật.[12]

Từ sau các cuộc nổi dậy nông dân, dân ở các nơi bị điêu tàn, các huyện Chương Đức, Mĩ Lương, Yên Sơn và Thạch Thất bị phiêu tán nhiều hơn cả; nên vào năm 1752, triều đình bèn sai sứ thần chia nhau đi yên ủi chiêu tập nhân dân. Năm sau, vì binh lửa đã tạm lắng nên giảm số đinh cho phủ Kinh Môn và Nam Sách thuộc Hải Dương; lấy quân lính đi đánh giặc đã được rút về, phân phối đi cày cấy ở các lộ, tích trử thóc lúa, để việc phòng bị nơi biên giới được đầy đủ. Bầy giờ Trần Cảnh bị bãi chức, Trịnh Doanh lại triệu Nguyễn Công Thái đã trí sĩ về giữ chức Tham tụng. Công Thái xin bỏ thể lệ nộp "tiền thông kinh" khoa thi hương, Trịnh Doanh y cho[12]. Tháng 12 ÂL năm 1753, Trịnh Doanh lập con là Trịnh Sâm làm thế tử, có Nguyễn Công Thái giữ chức sư phó giảng dạy cho Trịnh Sâm. Năm 1754, quận Hải Phạm Đình Trọng mất, thọ 40 tuổi. Tháng 6 năm đó, Trịnh Doanh lấy cớ rằng trong nước mới bình yên, bắt các quân lính phô trương sức mạnh, mời Hiển Tông Vĩnh hoàng đế ngự ra xét duyệt, trăm quan làm lễ chầu mừng. Bèn hạ lệnh cho thủy binh bày hàng chiến thuyền ở giữa sông, dung nghi quân sĩ rất tề chỉnh, bơi chèo ngược dòng nước, thuyền phóng đi như bay. Nhà vua rất bằng lòng, gần tối, xa giá trở về cung[12].

Đối với các đạo từ phương Tây du nhập vào, chính quyền chúa Trịnh chủ trương ngăn cấm. Chính sách này đã có từ thời Trịnh Tạc. Đến đây, Trịnh Doanh lại ra lệnh cấm đạo, nhưng người dân chết cũng không bỏ, không ngăn cấm vào đâu được.

Tháng 3 ÂL năm 1755, Trịnh Doanh tự gia phong Thượng sư Thượng phụ Anh Đoán Văn Trị Võ Công Minh Vương. Ít lâu sau Nguyễn Công Thái bị bãi chức Tham tụng. Vào năm 1758, Trịnh Doanh xin nhà vua phong cho Trịnh Sâm làm tiết chế thủy bộ chư quân, chức thái úy, tước Tĩnh quốc công, mở phủ Lượng quốc, mọi việc nhà nước đều giao cho Sâm quyết định. Năm 1760, vì được mùa, triều đình hạ lệnh cho dân nộp thóc sẽ trao cho quan chức: 6 vạn bát quan trao chức tri phủ, 4 vạn bát quan trao chức tri huyện ...[14]. Sử cũ đánh giá

Phủ huyện là người tiêu biểu của dân, triều đình giao phó cho cai trị hàng trăm dặm đất, trách nhiệm không nhỏ. Thế mà lại cho người nộp của để làm quan ở phủ huyện, vậy thì coi việc vui mừng việc đau khổ của dân, chẳng phải cũng quá khinh thường lắm sao?

Tháng 2 ÂL năm 1765, do Đỗ Thế Giai lại được bổ dụng lên thay Nguyễn Công Thái, nên lại bàn việc khôi phục tiền thông kinh: huyện lớn lấy 70 người, huyện vừa 50 người, huyện nhỏ 40 người, người nào khảo hạch không trúng, theo thể lệ nộp tiền thông kinh, cũng được vào thi[14].

Tháng 2 ÂL năm 1767, Trịnh Doanh mất, cầm quyền 27 năm, thọ 48 tuổi; Trịnh Sâm lên nói ngôi, truy tôn ông làm Nghị Tổ Ân vương[15].

Nhà thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như Định Nam Vương Trịnh Căn trước đây, Trịnh Doanh không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, mà còn là một nhà thơ. Thơ của Trịnh Doanh thiên về thơ nôm. Tập thơ nôm mà ông để lại có tên "Càn nguyên ngự chế thi tập" hiện nay vẫn còn lưu bản chép tay, do con trai là Trịnh Sâm đặt tên và quan Thị thư Viện hàn lâm kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám là Phan Lê Phiên biên soạn, viết tựa.

Cả tập thơ này chia làm 4 quyển, tổng số 263 bài, trong đó có 241 bài thơ nôm và 22 bài thơ chữ Hán. Nội dung chính của tập thơ xoay quanh 3 nội dung chính:

  • Quan niệm về tu thân, tề gia, trị nước
  • Chỉ bảo, khuyến khích bề tôi làm tròn nhiệm vụ
  • Đề, vịnh cảnh vật, cảm hứng.

Những nội dung trên phàn lớn do yêu cầu chính trị, quân sự và hoàn cảnh cụ hể quy định. Trịnh Doanh tỏ ra là người coi trọng sử dụng chữ nôm. Thể thơ chủ yếu mà ông áp dụng là thơ Đường luật, đôi lúc xen với câu 6 chữ, một số ít làmtheo thể thơ lục bát hoặc thơ song thất lục bát. Các nhà nghiên cứu văn học đánh giá Trịnh Doanh xứng đáng được xếp vào hàng ngũ các tác gia có tên tuổi của Việt Nam.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các chúa Trịnh, Trịnh Doanh có cuộc đời và sự nghiệp khá giống với ông tổ 5 đời là Định Nam Vương Trịnh Căn. Trẻ tuổi đã ra mặt trận, tiếp quản khi chiến sự gay go, chuyển thế nguy thành an cho nước nhà, trọng dụng nhân tài chỉnh đốn chính sự, say mê công việc và một cuộc đời không thiếu thi ca, đặc biệt là những bài thơ bằng chữ Nôm.

Nói theo thuyết di truyền thì Trịnh Doanh được thừa hưởng dòng máu vừa hùng lược vừa lãng mạn, có pha lẫn sự nghiêm nghị, cứng rắn của tổ tiên. Có khác chăng là Trịnh Doanh không sống thọ được như Trịnh Căn. Có ý kiến cho rằng nếu ông sống thêm được khoảng 30 năm nữa như Định Nam Vương, có thể nhiều biến cố lịch sử của nước Đại Việt đã khác đi.

Tuy vậy, các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài dù bị dẹp yên nhưng vẫn để lại hậu quả khá nặng nề. Nhân tài vật lực Bắc Hà bị suy sút nghiêm trọng, vì vậy, nhìn nhận một cách khách quan thì thời Trịnh Doanh khôi phục lại cũng không thể phồn thịnh được như thời Trịnh Căn và Trịnh Cương.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú Thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Cương mục, chính biên quyển 38
  2. ^ Chế độ đời phong kiến, hàng năm cứ đến hạ tuần tháng chạp dùng một ngày nào đó làm lễ hạp tỉ của vua chúa, hoặc hạp ấn của các quan, nghĩa là bỏ ấn tín vào một cái hộp khóa lại và niêm phong cẩn thận, bắt đầu từ ngày ấy, mọi công việc quan đều nghĩ cả. Đến đầu tháng giêng năm sau sẽ dùng một ngày nào đó làm lễ khai bảo tỉ của vua chúa và ấn tín của các quan, lúc ấy mới vắt đầu làm việc.
  3. ^ Tương truyền cuối đời Lê-Trịnh có câu sấm: "Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong". Nghĩa là nhà Lê còn thì nhà Trịnh còn, nhà Lê bại thì Trịnh cũng mất.
  4. ^ Xã Ngân Già, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
  5. ^ Nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
  6. ^ Nay là xã Kim Quan, huyện Gia Lâm, Hà Nội
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CM39
  8. ^ Tên một huyện thuộc tỉnh Ninh Bình
  9. ^ Huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
  10. ^ Trước kia, Hữu Cầu nhiều lần bị Đình Trọng đánh bại, bèn đào mã mẹ Đình Trọng quẳng xuống sông, Đình Trọng khóc lóc tố cáo với Trịnh Doanh, thề quyết chí giết Hữu Cầu
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CM40
  12. ^ a ă â b c d đ e ê Cương mục, chính biên quyển 41
  13. ^ nay là huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và một số xã thuộc huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc).
  14. ^ a ă Cương mục, chính biên quyển 42
  15. ^ Cương mục, chính biên quyển 43

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]