Lê Ý Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Ý Tông
黎懿宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì1735 - 1740
Tiền nhiệmLê Thuần Tông
Nhiếp chínhTrịnh Giang (1735-1740)
Kế nhiệmLê Hiển Tông
Thái thượng hoàng Đại Việt
Tại vị1740 - 1759
Tiền nhiệmLê Dụ Tông
Kế nhiệm Thái thượng hoàng cuối cùng của nhà Hậu Lê
Thông tin chung
Tên thật
Lê Duy Thận (黎維祳)
Lê Duy Chẩn
Niên hiệu
Vĩnh Hựu (永佑 1735 - 1740)
Thụy hiệu
Ôn Gia Trang Túc Khải Túy Minh Mẫn Khoan Hồng Uyên Duệ Huy Hoàng đế
Miếu hiệu
Ý Tông (懿宗)
Triều đạiNhà Lê Trung hưng
Thân phụLê Dụ Tông
Sinh1719
Mất1759
Đông Kinh, Đại Việt
An tángLăng Phù Lê

Lê Ý Tông (chữ Hán: 黎懿宗 17191759), tên húyLê Duy Thận (黎維祳),[1] là vị hoàng đế thứ 14 của nhà Lê Trung hưng và thứ 25 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.

Ông là cháu ngoại bà Vũ Thái phi họ Trịnh nên từ bé được nuôi nấng trong cung phủ thân cận yêu thương có phần dễ kiềm chế nên Trịnh Giang đã bỏ qua Duy Diêu con trưởng Thuần Tông Giản Hoàng đế mà lập ông làm vua từ tháng 4 năm 1735, sau khi vua Lê Thuần Tông mất, đến tháng 5 năm 1740.[2]

Tháng 5 năm 1740, Trịnh Doanh ép ông nhường ngôi cho Lê Duy Diêu, con trưởng của Thuần Tông để làm Thái thượng hoàng. Trong tờ chiếu nhường ngôi của ông có đoạn viết rằng nghĩ trong phương xa có kẻ càn rỡ, muốn cõi bờ yên vui nên tôn con trưởng để trọng tông thống mà thu phục lòng người. Sau khi lên làm Thái Thượng hoàng, số xã dân cung phụng được lấy bằng 1/3 số chính phần của vua Lê thời kì này.

Ông là con thứ mười một của Dụ Tông, em của Thuần TôngĐế Duy Phường. Ông làm vua được 6 năm, làm Thái thượng hoàng được 19 năm ở điện Càn Thọ. Đời Ý Tông chỉ đặt một niên hiệu là Vĩnh Hựu.

Ông mất tháng 6 nhuận năm 1759, thọ 41 tuổi. Táng tại lăng Phù Lê ở núi Trinh Sơn thôn. Nguyên Sơn xã Thiệu Nguyên huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ngọc phả nhà Lê chép là Lê Duy Chấn.
  2. ^ Âm lịch.