Lê Trung Tông (Hậu Lê)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Trung Tông
黎中宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 1548 - 1556
Tiền nhiệm Lê Trang Tông
Nhiếp chính Trịnh Kiểm
Kế nhiệm Lê Anh Tông
Thông tin chung
Tên thật Lê Duy Huyên (黎維暄)
Niên hiệu Thuận Bình (顺平)
Thụy hiệu Vũ Hoàng đế (武皇帝)
Miếu hiệu Trung Tông (中宗)
Triều đại Nhà Lê trung hưng
Thân phụ Lê Trang Tông
Sinh 1535
Mất 24 tháng 1, 1556 (20–21 tuổi)
Tây Đô, Thanh Hóa, Đại Việt
An táng Diên Lăng (景陵)

Lê Trung Tông (chữ Hán: 黎中宗, 1535 - 24 tháng 1, 1556), là vị hoàng đế thứ hai của nhà Lê trung hưng và là thứ 13 của Nhà Hậu Lê, ở ngôi từ năm 1548 đến năm 1556, tất cả tám năm.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Mẹ là Trinh Thục hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Cửu (bà Ngọc Cửu là cháu 4 đời của Thượng đẳng phúc thần đại vương Trịnh Khắc Phục, quê làng Thủy Chú- nay là xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)<Theo gia phả hán văn của họ Trịnh [Thủy Chú]>

Làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1548, ngày 29 tháng 1, Trang Tông mất, Thái tử Duy Huyên lập tức kế vị, lấy niên hiệu Thuận Bình (顺平). Ông lên ngôi khi đã 13 tuổi, và mọi việc do Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm đứng ra giúp đỡ. Dưới thời Trung Tông hoàng đế, vùng kiểm soát của nhà Lê tiếp tục được mở rộng, tiếng vang lan ra đến Thăng Long.

Năm 1551, tướng nhà MạcLê Bá Ly cùng thông gia Nguyễn Thiến đem gia quyến và 14.000 quân chạy vào Thanh Hóa theo nhà Lê Trung Hưng [1].

Năm 1554, Trịnh Kiểm điều quân đánh Thuận Hóa. Quân Mạc bị đánh tan, nhà Lê lấy lại được cả Thuận HóaQuảng Nam. Từ đó, lãnh thổ Đại Việt chính thức chia làm 2 phần: từ Ninh Bình trở ra trong tay nhà Mạc gọi là Bắc triều (北朝), từ Thanh Hóa trở vào Nam gọi là Nam triều (南朝).

Lê Trung Tông tiếp tục chọn thủ phủ tại Vạn Lại, thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoa (nay là xã Xuân Châu, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá) để lập Hành điện [2].

Thời Lê Trung Hưng, khoa thi Chế đầu tiên được tổ chức vào năm 1554 tại hành cung Vạn Lại (Thanh Hóa). Trên văn bia đặt tại Văn Miếu Hà Nội còn ghi về khoa thi này như sau:

"Bấy giờ, những dũng tướng nanh vuốt xông pha ở nơi tên đạn thì nhiều mà mưu thần tâm phúc giúp vận trù ở nơi màn trướng thì ít. Bèn vào năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình thứ 6 bắt đầu đặt Chế khoa, đích thân Hoàng đế ra đề thi văn sách hỏi về đạo trị nước xưa nay”. Chế khoa năm đó lấy đỗ 13 tiến sĩ chia làm hai giáp: Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân (gồm 5 vị) và Đệ nhị giáp đồng Chế khoa xuất thân (8 vị)"[3].

Từ đó hào kiệt, danh sĩ tứ phương tìm về theo nhà Lê ngày càng đông, các sĩ tử cũng tìm về Vạn Lại. Dưới sự trị vì của Lê Trung Tông, một Nam triều có đầy đủ quan văn, quan võ được thiết lập, nhiều sắc phong và lệnh chỉ đã được ban ra.

Ngày 24 tháng 1 năm Bính Thìn (1556), Trung Tông mất tại hành cung Vạn lại, thọ 22 tuổi. Ông được an táng tại Cảnh Lăng (景陵), miếu hiệuTrung Tông (中宗), thụy là Vũ Hoàng Đế.

Vì Trung Tông không con nối ngôi, Trịnh Kiểm đã sai người tìm cháu họ Lê để lập lên ngôi. Sau nhiều ngày, triều đình tìm được cháu của Lê Trừ, anh thứ hai của Lê Thái Tổ là Lê Duy Bang hiện khi đó đang ở hương Bố Vệ [4], huyện Đông Sơn, lập lên ngôi, tức là Lê Anh Tông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1] Chiến tranh Lê-Mạc
  2. ^ [2] Hà Đình Đức. Vạn Lại –Yên Trường, một thời kinh đô nước Việt
  3. ^ [3] Văn bia đề danh chế khoa Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình năm thứ 6 (1554). Bia Văn Miếu Hà Nội. Bia số 15
  4. ^ ở phía nam thị xã Thanh Hoá ngày nay
Lê Trung Tông
Sinh: , 1535 Mất: , 1556
Tước hiệu
Tiền vị
Lê Trang Tông
Hoàng đế nhà Lê trung hưng
1548-1556
với Trịnh Kiểm (1548-1556)
Kế vị
Lê Anh Tông
Tước hiệu thừa kế trên danh nghĩa
Tiền vị
Lê Trang Tông
— DANH NGHĨA —
Hoàng đế Đại Việt
Tự nhận là dòng dõi hoàng gia
1548-1556
Lý do cho sự thất bại kế vị:
Nam Bắc triều
Kế vị
Lê Anh Tông