Vua Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê
   Nhà Lê sơ (1428 - 1527)
   
   trung
   hưng
(1533 - 1789)
Nhà Mạc (1527 - 1592)
Trịnh-Nguyễn
phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Quốc gia Việt Nam
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa

Vua Việt Nam là nhà cai trị nước Việt Nam độc lập tự chủ từ thời dựng nước đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tùy hoàn cảnh lịch sử mà có thể mang tước hiệu khác nhau, cao nhất là hoàng đế và thấp hơn là vương.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Trong huyền sử, khái niệm vua Việt Nam đã thấy ghi chép từ Hồng Bàng thị nhưng còn nhiều điểm nghi vấn mơ hồ chưa thể khẳng định rõ rệt, sau đó nhà Thục cướp ngôi họ Hùng và họ Triệu lấy nước của nhà Thục. Thế nhưng Hồng Bàng thị là dòng dõi Thần Nông thị,[1] Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị[1] còn Triệu Đà cũng là người Hán [2]...như vậy những triều đại sơ khai đều có sự nghi vấn gây tranh cãi. Trong ngàn năm Bắc thuộc, từng trỗi dậy những chính quyền nhưng thời gian tồn tại chưa được bao lâu đã bị dẹp yên, sự nghiệp chưa ổn định lâu dài nên chưa thể cấu thành triều đại. Từ khi họ Khúc giành lấy quyền tự chủ cho đến hết loạn 12 sứ quân, danh nghĩa Việt Nam vẫn chỉ là một phiên chấn của Trung Quốc với cái tên Tĩnh hải quân, các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc đó chỉ ở mức Tiết độ sứ ở cả trong nước và ngoại giao, đến lúc Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán mới tự xưng vương. Bắt đầu từ đấy, vua Việt Nam mới chính thức được xác định, tuy nhiên nhà Ngô vẫn chưa đặt quốc hiệu. Bấy giờ bên Trung Quốc cũng đang loạn to, chính quyền trung ương còn mải lo đánh dẹp nên chưa thể nhòm ngó xuống mạn cực nam, chỉ có nước Nam Hán kế cận thỉnh thoảng xung đột mà thôi. Đến thời nhà Đinh, đối với thần dân trong nước, các vua người Việt đã xưng hoàng đế và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, gặp lúc nhà Tống cũng mới chấm dứt cục diện Ngũ đại thập quốc nên sai sứ sang sắc phong vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương, từ đó nền quân chủ Việt Nam mới được xác lập.

Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người ViệtThăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng, ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mạng trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mạng trời cai trị dân đối với dân nước Việt. Vua Việt Nam tự ví mình với Mặt Trời như vua Trung Quốc. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vua ở Thăng Long là ngai vàng của Hoàng đế nước Nam người trị vì "Đế quốc phương Nam" theo mệnh trời. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc.

Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Các vua nước Việt được chính thức dùng các nghi thức đặc biệt nhạy cảm với vua Trung Quốc như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, được quyền phong chức tước cho các thánh, thần, sông núi ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi...; có vua Việt Nam còn mượn cớ đau chân để khỏi quỳ gối trước chiếu chỉ vua Trung Quốc để chứng tỏ mình không phải là cấp dưới của vua Trung Quốc. Tóm lại, các vị vua của Việt Nam là các vị vua thực sự như các vua Trung Quốc.

Các vua Việt Nam đã dùng gần như đầy đủ các nghi thức thần quyền quân chủ dành riêng cho vua chúa Trung Quốc, chỉ có cái khác duy nhất là quyền lực thần quyền này không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại, quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi.

Thiên mệnh của vua Trung Quốc chỉ kéo dài đến biên giới Việt-Hoa. Theo ý thức thần quyền của hai chế độ quân chủ thì biên giới này do Trời vạch sẵn và được Trời cũng như các thần bảo vệ. Cả hai nước đều ý thức được tầm quan trọng của đường biên giới này trong việc duy trì quyền lực giữa hai nước và đã giữ được sự cố định truyền thống của nó trong một thời gian rất dài trong lịch sử. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế với giá rẻ nhất.

Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình như vua Quang Trung. Vào lúc loạn lạc thay đổi triều đại ở Việt Nam là cơ hội tốt để các triều đại quân chủphong kiến phương bắc mượn cớ giúp vua triều trước, không chịu sắc phong cho vua mới hoặc đem quân qua can thiệp nhằm chiếm đóng và đô hộ lâu dài nước Việt như thời nhà Minh, nhà Thanh. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng thụy hiệu hoặc miếu hiệu, trong khi các vua nhà Nguyễn được biết bằng niên hiệu.

Đối với Trung Quốc thì vua Việt Nam có tước hiệu là:

  • Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ: thời họ Khúc và nhà Ngô
  • Giao Chỉ Quận Vương: thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và gian đoạn đầu nhà Hậu Lý
  • An Nam Quốc Vương: thời nhà Hậu Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê và nhà Tây Sơn
  • An Nam Đô Thống Sứ Ty: thời nhà Mạc và giai đoạn đầu nhà Lê trung hưng
  • Việt Nam Quốc Vương: thời nhà Nguyễn

Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đến hết thời kỳ quân chủ. Trong danh sách này, ngoài những vị vua còn liệt kê một số nhân vật không phải vua nhưng đã nắm giữ thực quyền cai trị tối cao lãnh đạo đất nước như: các vị Tiết độ sứ thời tự chủ, các chúa Trịnh và chúa Nguyễn thời Lê trung hưng...Những vị vua tự xưng chế độ chưa thực sự ổn định, nhưng do chống ngoại xâm nên cũng bỏ qua sự trung lập mà đưa vào để tôn vinh sự chính thống và độc lập dân tộc:

Thời kỳ sơ sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Hồng Bàng hiện vẫn còn gây tranh cãi về tính chính xác và thời điểm xuất hiện. Do đó giai đoạn này được xem có tính truyền thuyết nhiều hơn.

Chân dung Vua[3] Miếu hiệu Thụy hiệu[3] Niên hiệu Tên húy Thế thứ[1] Trị vì
Kinh Dương Vương không có Kinh Dương Vương[4] không có Lộc Tục[3] khai sáng triều đại, con thứ Đế Minh, em Đế Nghi Trước TK VII TCN  ?
Lạc Long Quân & Âu Cơ - Tết 2009.jpg Lạc Long Quân không có Lạc Long Quân[5] không có Sùng Lãm[3] con Kinh Dương Vương  ?  ?
Hùng Vương (I) không có Hùng Vương[6] không có không rõ con trưởng Lạc Long Quân TK VII TCN [7][8]  ?
Hùng Vương (II) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (III) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (IV) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (V) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Mausoleum of Hung King.JPG Hùng Vương (VI) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (VII) không có Hùng Vương[6] không có Lang Liêu[9]  ?  ?
Hùng Vương (VIII) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (IX) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (X) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XI) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XII) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XIII) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XIV) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XV) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XVI) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XVII) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XVIII) không có Hùng Vương[6] không có không rõ  ? 258TCN[3] hoặc 208TCN

Nhà Thục (257-208 TCN, hoặc 207-179 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[3] Miếu hiệu Thụy hiệu[3] Niên hiệu Tên húy[3] Trị vì
AnDuongVuong.jpg An Dương Vương không có An Dương Vương[10] không có Thục Phán 257TCN—208TCN[3]
hoặc 207TCN—179TCN[11]

Nhà Triệu (207-111 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[3] Miếu hiệu Thụy hiệu[3] Niên hiệu Tên húy Thế thứ[11] Trị vì[3]
Zhao Tuo(Heyuan).JPG Triệu Vũ Đế[2] không có Vũ Vương
Vũ Đế[12]
không có Triệu Đà[3] Khai sáng triều đại 207TCN 137TCN
Si lü yu yi.JPG Triệu Văn Đế[2] không có Văn Đế không có Triệu Hồ[11]
Triệu Mạt[13]
Triệu Muội[3]
cháu nội Triệu Đà, con Triệu Trọng Thuỷ 137TCN 125TCN
Triệu Minh Vương[2] không có Minh Vương không có Triệu Anh Tề[3] con Triệu Hồ 125TCN 113TCN
Triệu Ai Vương[2] không có Ai Vương không có Triệu Hưng[3] con thứ Triệu Anh Tề 113TCN 112TCN
Thuật Dương Vương[2] không có Thuật Dương Vương
Vệ dương vương
Vệ dương hầu[14]
không có Triệu Kiến Đức[3] con trưởng Triệu Anh Tề, anh Triệu Hưng 112TCN 111TCN

Nhà Triệu nếu trung lập thì là một triều đại chính thống của Việt Nam, còn nếu bỏ qua sự trung lập thì sẽ bị quy thành kẻ xâm lăng. Hiện trường hợp này vẫn còn đang tranh cãi, có sách tính từ khi Triệu Đà diệt nước Âu Lạc bắt đầu thời Bắc thuộc, có sách lại tính từ khi nhà Hán diệt nước Nam Việt mới tính là Bắc thuộc. Vì người Trung Quốc cũng không coi chính thể này là triều đại của họ, cho nên tạm thời vẫn liệt kê ở đây như một triều đại nối tiếp hợp pháp của Việt Nam.

Chống Bắc thuộc lần I, II và III[sửa | sửa mã nguồn]

Trưng Nữ Vương (40-43)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua Thụy hiệu Tôn hiệu Niên hiệu Tên húy Trị vì[15]
HaiBaTrung.JPG Trưng Vương[16] không có Trinh Linh Chi Phu nhân[17] không có Trưng Trắc[15] 40 43

Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương (544-603)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[18] Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy[18] Trị vì[18]
Emperor Ly Nam De.jpg Lý Nam Đế không có Nam đế
Nam Việt đế[19]
Thiên Đức (544-548)[18] Lý Bí
Lý Bôn
544 548
Cuathanphu2.jpg Triệu Việt Vương không có Nam Việt quốc vương
Dạ Trạch Vương[20]
không có Triệu Quang Phục 548 571
Hậu Lý Nam Đế[21] không có Nam Đế[22] không có Lý Phật Tử 571 603

Họ Mai (713 - 723)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Trị vì
Mai Hắc Đế không có Đại Đế
Hắc Đế[23]
không có Mai Thúc Loan 713 723
Mai Thiếu Đế[24] không có không có không có Mai Bảo Sơn 723 723
Bạch Đầu Đế[24] không có không có không có Mai Kỳ Sơn[25] 723 723

Họ Phùng (779-791)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
TuongPhungHung.jpg Phùng Hưng[26] không có Bố Cái Đại Vương[27] không có Phùng Hưng
Phùng Cự Lão
con Phùng Hạp Khanh, thế tập Biên Khố Di Tù Trưởng chưa rõ 791
Phùng An[28] không có không có không có Phùng An con Phùng Hưng 791 791

Thời kỳ tự chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Khúc (905-923) hoặc (905-930)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Tiết độ sứ[29] Tôn hiệu[29] Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Khúc Tiên Chủ[30] Tiên Chủ[31] không có không có Khúc Thừa Dụ[29] Mở màn nền tự chủ[29] 905 907[29]
Khúc Trung Chủ[30] Trung Chủ[31] không có không có Khúc Hạo
Khúc Thừa Hạo[32]
con Khúc Thừa Dụ[29] 907 917[29]
Khúc Hậu Chủ[30] Hậu Chủ[31] không có không có Khúc Thừa Mỹ[32] con Khúc Hạo[32] 917 923[32]
930[33]

Dương Đình Nghệ và Kiều Công Tiễn (931-938)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Tiết độ sứ[32] Tôn hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy[29] Trị vì[29]
Dương Chính Công[30] không có không có không có Dương Đình Nghệ
Dương Diên Nghệ
931 937
Kiều Công Tiễn[30] không có không có không có Kiều Công Tiễn
Kiểu Công Tiễn
937 938

Thời kỳ độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

                Minh thuộc       Nam-Bắc triều và Trịnh-Nguyễn phân tranh     Pháp thuộc  
Trước độc lập Nhà Ngô   Nhà Đinh Nhà Tiền Lê Nhà Lý Nhà Trần Nhà Hồ Nhà Hậu Trần   Nhà Hậu Lê Nhà Mạc Nhà Hậu Lê Nhà Tây Sơn Nhà Nguyễn Việt Nam hiện đại
                                 
                          Chúa Trịnh        
                          Chúa Nguyễn        
939       1009 1225 1400     1427 1527 1592 1788 1858 1945


Nhà Ngô (939-965)

939 965 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Tượng Ngô Quyền.jpg Tiền Ngô Vương không có không có không có Ngô Quyền Sáng lập triều đại, con rể Dương Đình Nghệ 939 944
Dương Bình Vương không có không có không có Dương Tam Kha
Dương Chủ Tướng
Dương Thiệu Hồng
Con trai Dương Đình Nghệ 944 950
Thiên Sách Vương[34] không có không có không có Ngô Xương Ngập Con trưởng Ngô Quyền 951 954
Nam Tấn Vương[34] không có không có không có Ngô Xương Văn Con thứ Ngô Quyền 950 965

Nhà Đinh (968-980)

939 968 980 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
VuaDinhTienHoang.jpg Đinh Tiên Hoàng không có Tiên hoàng đế[35] Thái Bình (970-979) Đinh Bộ Lĩnh
Đinh Hoàn[36]
Sáng lập triều đại 968 979
Dinhtoan.jpg Đinh Phế Đế không có Phế Đế[37] Thái Bình[38] (979-980) Đinh Toàn
Đinh Tuệ
Con út Đinh Tiên Hoàng 979 980

Nhà Tiền Lê (980-1009)

939 980 1009 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Le Dai Hanh.jpg Lê Đại Hành không có Đại Hành hoàng đế[39] Thiên Phúc (980-988)
Hưng Thống (989-993)
Ứng Thiên (994-1005)
Lê Hoàn Sáng lập triều đại, Phó vương nhiếp chính thời Đinh Phế Đế 980 1005
Lê Trung Tông Trung Tông không có Ứng Thiên[38] (1005-1005) Lê Long Việt Con thứ Lê Đại Hành 1005 1005
Lelongdinh.jpg Lê Ngọa Triều không có Ngọa Triều hoàng đế[40] Ứng Thiên[38] (1005-1007)
Cảnh Thụy (1008-1009)
Lê Long Đĩnh Con thứ năm Lê Đại Hành, 1005 1009

Nhà Lý (1010-1226)

939 1010 1226 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Tượng Lý Thái Tổ.jpg Lý Thái Tổ Thái Tổ Thần Vũ hoàng đế[41] Thuận Thiên (1010-1028) Lý Công Uẩn Sáng lập triều đại. Nguyên là Điện tiền chỉ huy sứ và là phò mã trưởng Lê Đại Hành 1009 1028
LýTháiTông.jpg Lý Thái Tông Thái Tông không rõ[42] Thiên Thành (1028-1033)
Thông Thụy (1034-1038)
Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041)
Minh Đạo (1042-1043)
Thiên Cảm Thánh Vũ (1044-1048)
Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054)
Lý Phật Mã
Lý Đức Chính
Con trưởng Lý Thái Tổ 1028 1054
Lý Thánh Tông.JPG Lý Thánh Tông Thánh Tông Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần hoàng đế[43] Long Thụy Thái Bình (1054-1058) Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065)
Long Chương Thiên Tự (1066-1068)
Thiên Huống Bảo Tượng (1068 - 1069)
Thần Vũ (1069-1072)
Lý Nhật Tôn Con trưởng Lý Thái Tông 1054 1072
Lý Nhân Tông.JPG Lý Nhân Tông Nhân Tông không có[43] Thái Ninh (1072-1076)
Anh Vũ Chiêu Thắng (1076-1084)
Quảng Hựu (1085-1092)
Hội Phù (1092-1100)
Long Phù (1101-1109)
Hội Tường Đại Khánh (1110-1119)
Thiên Phù Duệ Vũ (1120-1126)
Thiên Phù Khánh Thọ (1127-1127)
Lý Càn Đức Con trưởng Lý Thánh Tông 1072 1127
Lý Thần Tông Thần Tông Quảng Văn Sùng Hiếu Khâm Minh Văn Vũ hoàng đế[43] Thiên Thuận (1128-1132)
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138)
Lý Dương Hoán Cháu nội Lý Thánh Tông 1127 1138
Lý Anh Tông Anh Tông không có[44] Thiệu Minh (1138-1139)
Đại Định (1140-1162)
Chính Long Bảo Ứng (1163-1173)
Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)
Lý Thiên Tộ Con thứ Lý Thần Tông 1128 1175
Lý Cao Tông Cao Tông không có[44] Trinh Phù (1176-1185)
Thiên Tư Gia Thuỵ (1186-1201)
Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1204)
Trị Bình Long Ứng (1205-1210)
Lý Long Cán
Lý Long Trát
Con thứ 6 Lý Anh Tông 1176 1204
Lý Thẩm[45][46] không có không có không có Lý Thẩm Con thứ Lý Cao Tông 1209 1209
Den do.jpg Lý Huệ Tông Huệ Tông không có[44] Kiến Gia (1211–1224) Lý Sảm
Lý Hạo Sảm
Con trưởng Lý Cao Tông 1211 1224
Lý Nguyên Vương[47][46] không có Nguyên Vương[48] Càn Ninh (1214–1216) không rõ Con thứ Lý Anh Tông 1214 1216
Lý Chiêu Hoàng không có Chiêu Hoàng[49] Thiên Chương Hữu Đạo (1224–1226) Lý Phật Kim
Lý Thiên Hinh
Con gái Lý Huệ Tông 1224 1226

Nhà Trần (1226-1400)

939 1226 1400 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Trần Thái Tông Thái Tông Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế[50] Kiến Trung (1226-1237)
Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350)
Nguyên Phong (1251-1258)
Trần Cảnh Sáng lập triều đại, chồng và anh họ Lý Chiêu Hoàng 1226 1258
Trần Thánh Tông Thánh Tông Hiến Thiên Thể Đạo Huyền Công Thịnh Đức Nhân Minh Văn Vũ Tuyên Hiếu hoàng đế[50] Thiệu Long (1258-1272)
Bảo Phù (1273-1278)
Trần Hoảng Con thứ hai Trần Thái Tông 1258 1279
Trần Nhân Tông.jpg Trần Nhân Tông Nhân Tông Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Duệ Hiếu hoàng đế[51] Thiệu Bảo (1278-1285)
Trùng Hưng (1285-1293)
Trần Khâm Con trưởng Trần Thánh Tông 1278 1293
Trần Anh Tông TLĐSXSĐ.jpg Trần Anh Tông Anh Tông Thể Thiên Sùng Hóa Khâm Minh Duệ Hiếu hoàng đế[51] Hưng Long (1293-1314) Trần Thuyên Con trưởng Trần Nhân Tông 1293 1314
Trần Minh Tông Minh Tông Chương Nghiêu Văn Triết hoàng đế[52] Đại Khánh (1314-1323)
Khai Thái (1324-1329)
Trần Mạnh Con thứ tư Trần Anh Tông 1314 1329
Trần Hiến Tông Hiến Tông không có[53] Khai Hựu (1329-1341) Trần Vượng Con trưởng Trần Minh Tông 1329 1341
Trần Dụ Tông Dụ Tông không có[54] Thiệu Phong (1341-1357)
Đại Trị (1358-1369)
Trần Hạo Con thứ mười Trần Minh Tông, dòng hoàng đích tử 1341 1369
Trần Nhật Lễ[55] không có Hôn Đức Công[56] Đại Định (1369-1370) Dương Nhật Lễ
Trần Nhật Kiên
Con riêng của chị dâu Trần Dụ Tông 1369 1370
Trần Nghệ Tông Nghệ Tông Quang Nhiên Anh Triết hoàng đế[57] Thiệu Khánh (1370-1372) Trần Phủ Con thứ ba Trần Minh Tông 1370 1372
Trần Duệ Tông Duệ Tông không có[58] Long Khánh (1373-1377) Trần Kính Con thứ 11 Trần Minh Tông 1372 1377
Trần Phế Đế không có Phế Đế[37] Xương Phù (1377-1388) Trần Hiện Con thứ Trần Duệ Tông 1377 1388
Trần Thuận Tông Thuận Tông không có[59] Quang Thái (1388-1398) Trần Ngung Con thứ của Trần Nghệ Tông 1388 1398
Trần Thiếu Đế không có[60] Thiếu Đế Kiến Tân (1398-1400) Trần An Con trưởng Trần Thuận Tông 1398 1400

Nhà Hồ (1400-1407)

939 1400 1407 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Hồ Quý Ly Quốc Tổ[61] Chương Hoàng[62] Thánh Nguyên (1400) Hồ Quý Ly
Lê Quý Ly
Sáng lập triều đại, phò mã Trần Minh Tông, ông ngoại Trần Thiếu Đế 1400 1400
Hồ Hán Thương không có không có Thiệu Thành (1401-1402)
Khai Đại (1403-1407)
Hồ Hán Thương Con thứ Hồ Quý Ly 1400 1407

Chống Bắc thuộc lần IV[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hậu Trần (1407-1413)

939 1407 1413 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Giản Định Đế không có không có Hưng Khánh (1407-1409) Trần Ngỗi
Trần Quỹ
Con trai thứ Trần Nghệ Tông 1407 1409
Trùng Quang Đế không có không có Trùng Quang (1409-1414) Trần Quý Khoáng
Trần Quý Khoách
Cháu nội Trần Nghệ Tông 1409 1414

Thực ra nhà Hậu Trần là một cuộc khởi nghĩa thất bại, chưa ổn định chỉ mang tính chất cục bộ nhưng do đề cao việc chống giặc ngoại xâm cho nên sử sách bỏ qua sự trung lập mà vẫn xem như một triều đại.

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Trị vì
Trần Cảo[63] không có không có Thiên Khánh (1426-1428) Trần Cảo 1426 1428

Thời kỳ tái độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hậu Lê - giai đoạn Lê sơ (1428-1527)

939 1428 1527 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Le Loi statue.JPG Lê Thái Tổ Thái Tổ Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao hoàng đế[64] Thuận Thiên (1428-1433) Lê Lợi Sáng lập triểu đại 1428 1433
Lê Thái Tông Thái Tông Kế Thiên Thể Đạo Hiển Đức Thánh Công Khâm Minh Văn Tư Anh Duệ Triết Chiêu Hiến Kiến Trung Văn hoàng đế[65] Thiệu Bình (1434-1439)
Đại Bảo (1440-1442)
Lê Nguyên Long Con thứ hai Lê Thái Tổ 1433 1442
Lê Nhân Tông Nhân Tông Khâm Văn Nhân Hiếu Tuyên Minh Thông Duệ Tuyên hoàng đế[66] Thái Hòa (1443-1453)
Diên Ninh (1454-1459)
Lê Bang Cơ Con thứ ba Lê Thái Tông 1442 1459
Lê Nghi Dân[67] không có Lệ Đức hầu[68] Thiên Hưng (1459-1460) Lê Nghi Dân Con trưởng Lê Thái Tông 1459 1460
206ThoiLe LeThanhTong.jpg Lê Thánh Tông Thánh Tông Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần hoàng đế[69] Quang Thuận (1460-1469)
Hồng Đức (1470-1497)
Lê Tư Thành
Lê Hạo
Con thứ tư Lê Thái Tông 1460 1497
Lê Hiến Tông Hiến Tông Thể Thiên Ngưng Đạo Mậu Đức Chí Chiêu Văn Thiệu Vũ Tuyên Triết Khâm Thành Chương Hiếu Duệ hoàng đế[70] Cảnh Thống (1497-1504) Lê Tranh
Lê Tăng
Con trưởng Lê Thánh Tông 1497 1504
Lê Túc Tông Túc Tông Chiêu Nghĩa Hiển Nhân Ôn Cung Uyên Mặc Hiếu Doãn Cung Khâm hoàng đế[71] Thái Trinh (1504) Lê Thuần Con thứ ba Lê Hiến Tông 1504 1504
Lê Uy Mục không có Uy Mục đế[72] Đoan Khánh (1505-1509) Lê Tuấn Con thứ hai Lê Hiến Tông 1504 1509
Lê Tương Dực không có Tương Dực đế[73] Hồng Thuận (1510-1516) Lê Oanh Cháu nội Lê Thánh Tông 1509 1516
Lê Quang Trị[74][75] không có không có không có Lê Quang Trị Chắt Lê Thánh Tông 1516 1516
Lê Chiêu Tông Chiêu Tông Thần hoàng đế[76] Quang Thiệu (1516-1526) Lê Y
Lê Huệ
Anh họ Lê Quang Trị, chắt Lê Thánh Tông 1516 1526
Lê Bảng[77][75] không có không có Đại Đức (1518-1519) Lê Bảng Chắt Lê Khắc Xương, người anh của Lê Thánh Tông 1518 1519
Lê Do[78][75] không có không có Thiên Hiến (1519) Lê Do Em Lê Bảng 1519 1519
Lê Cung Hoàng không có Cung hoàng đế[79] Thống Nguyên (1522-1527) Lê Xuân
Lê Lự
Em Lê Chiêu Tông 1522 1527

Thời kỳ chia cắt[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Triều - Nhà Mạc (1527-1592)

939 1527 1592 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
莫太祖·安南來威圖冊.jpeg Mạc Thái Tổ Thái Tổ Nhân Minh Cao hoàng đế Minh Đức (1527-1530) Mạc Đăng Dung Sáng lập triều đại 1527 1530
Statue of Emperor Mạc Thái Tông.jpg Mạc Thái Tông Thái Tông Khâm Triết Văn hoàng đế Đại Chính (1530-1540) Mạc Đăng Doanh Con trưởng Mạc Thái Tổ 1530 1540
Mạc Hiến Tông Hiến Tông Hiển hoàng đế Quảng Hòa (1540-1546) Mạc Phúc Hải Con trưởng Mạc Thái Tông 1540 1546
Mạc Chính Trung[80] không có không có không có Mạc Chính Trung Em Mạc Thái Tông 1546 1547
Statue of Emperor Mạc Tuyên Tông.jpg Mạc Tuyên Tông Tuyên Tông Anh Nghị Duệ hoàng đế Vĩnh Định (1547)
Cảnh Lịch (1548-1553)
Quang Bảo (1554-1561)
Mạc Phúc Nguyên Con Mạc Hiến Tông 1546 1561
Statue of Emperor Mạc Mậu Hợp.jpg Mạc Mậu Hợp[81] không có không có Thuần Phúc (1562-1565)
Sùng Khang (1566-1577)
Diên Thành (1578-1585)
Đoan Thái (1586-1587)
Hưng Trị (1588-1590)
Hồng Ninh (1591-1592)
Mạc Mậu Hợp Con trai Mạc Tuyên Tông 1561 1592
Mạc Toàn không có không có Vũ An (1592-1592) Mạc Toàn Con thứ Mạc Mậu Hợp 1592 1592
Mạc Kính Chỉ[82] không có không có Bảo Định (1592–1593)
Khang Hựu (1593–1593)
Mạc Kính Chỉ Con trưởng Mạc Kính Điển, cháu nội Mạc Thái Tông 1592 1593
Mạc Kính Cung[83] không có không có Càn Thống (1592-1625) Mạc Kính Cung Con thứ 7 Mạc Kính Điển 1592 1625
Mạc Kính Khoan [83] không có không có Long Thái (1623–1638) Mạc Kính Khoan Cháu nội Mạc Kính Điển 1623 1638
Mạc Kính Vũ [83] không có không có Thuận Đức (1638–1677) Mạc Kính Vũ
Mạc Kính Hoàn
Mạc Nguyên Thanh
Con Mạc Kính Khoan 1638 1677

Nam Triều - Nhà Hậu Lê - giai đoạn Lê Trung Hưng (1533-1788)

939 1533 1788 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Lê Trang Tông Trang Tông Dụ hoàng đế Nguyên Hòa (1533-1548) Lê Ninh Được cho là con Lê Chiêu Tông 1533 1548
Lê Trung Tông Trung Tông Vũ hoàng đế Thuận Bình (1548-1556) Lê Huyên Con Lê Trang Tông 1548 1556
Lê Anh Tông Anh Tông Tuấn hoàng đế Thiên Hựu (1556-1557)
Chính trị (1558-1571)
Hồng Phúc (1572-1573)
Lê Duy Bang Cháu 6 đời của Lê Trừ, anh Lê Thái Tổ 1556 1573
Lê Thế Tông Thế Tông Nghị hoàng đế Gia Thái (1573-1577)
Quang Hưng (1578-1599)
Lê Duy Đàm Con thứ năm Lê Anh Tông 1573 1599
Lê Kính Tông Kính Tông Giản Huy Huệ hoàng đế Thận Đức (1600-1600)
Hoằng Định (1601-1619)
Lê Duy Tân Con thứ Lê Thế Tông 1599 1619
Lê Thần Tông Thần Tông Uyên hoàng đế Vĩnh Tộ (1620-1628)
Đức Long (1629-1634)
Dương Hoà (1635-1643)
Lê Duy Kỳ Con trưởng Lê Kính Tông 1619 1643
Lê Chân Tông Chân Tông Thuận hoàng đế Phúc Thái (1643-1649) Lê Duy Hựu Con trưởng Lê Thần Tông 1643 1649
Lê Thần Tông Thần Tông Uyên hoàng đế Khánh Đức (1649-1652)
Thịnh Đức (1653-1657)
Vĩnh Thọ (1658-1661)
Vạn Khánh (1662-1662)
Lê Duy Kỳ Làm vua lần 2 1649 1662
Lê Huyền Tông Huyền Tông Mục hoàng đế Cảnh Trị (1663-1671) Lê Duy Vũ Con thứ Lê Thần Tông 1663 1671
Lê Gia Tông Gia Tông Mỹ hoàng đế Dương Đức (1672-1673)
Đức Nguyên (1674-1675)
Lê Duy Cối
Lê Duy Khoái
Con thứ Lê Thần Tông 1671 1675
Lê Hy Tông Hy Tông Chương hoàng đế Vĩnh Trị (1678-1680)
Chính Hòa (1680-1705)
Lê Duy Hợp
Lê Duy Cáp
Con thứ Lê Thần Tông 1675 1705
Lê Dụ Tông Dụ Tông Hòa hoàng đế Vĩnh Thịnh (1706-1719)
Bảo Thái (1720-1729)
Lê Duy Đường Con trưởng Lê Hy Tông 1705 1729
Lê Đế Duy Phường không có Hôn Đức công[84] Vĩnh Khánh (1729-1732) Lê Duy Phường Con thứ Lê Dụ Tông 1729 1732
Lê Thuần Tông Thuần Tông Giản hoàng đế Long Đức (1732-1735) Lê Duy Tường Con trưởng Lê Dụ Tông 1732 1735
Lê Ý Tông Ý Tông Huy hoàng đế Vĩnh Hựu (1735-1740) Lê Duy Thận
Lê Duy Chẩn
Con thứ 11 Lê Dụ Tông 1735 1740
Lê Hiển Tông Hiển Tông Vĩnh hoàng đế Cảnh Hưng (1740-1786) Lê Duy Diêu Con trưởng Lê Thuần Tông 1740 1786
Lê Chiêu Thống không có Mẫn hoàng đế[85] Chiêu Thống (1786-1788) Lê Duy Khiêm
Lê Duy Kỳ
Con Lê Duy Vỹ, cháu đích tôn Lê Hiển Tông 1786 1788

Đàng Ngoài - Chúa Trịnh (1545-1787)

939 1545 1787 1945
Chân dung Chúa Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Trịnh Kiểm.png Trịnh Kiểm[86] Thế Tổ Minh Khang Thái Vương không có Trịnh Kiểm Con rể Nguyễn Kim 1545 1570
Trịnh Cối[87] không có Tuấn Đức hầu
Trung quốc công[88]
không có Trịnh Cối Con cả Trịnh Kiểm 1570 1570
Trịnh Tùng.png Bình An Vương Thành Tổ Triết Vương không có Trịnh Tùng Con thứ Trịnh Kiểm. Chúa Trịnh đầu tiên 1570 1623
Trịnh Tráng.png Thanh Đô Vương Văn Tổ Nghị Vương không có Trịnh Tráng Con thứ hai Trịnh Tùng 1623 1652
Trịnh Tạc.png Tây Định Vương Hoằng Tổ Dương Vương không có Trịnh Tạc Con thứ hai Trịnh Tráng 1653 1682
Trịnh Căn.png Định Nam Vương Chiêu Tổ Khang Vương không có Trịnh Căn Con trưởng Trịnh Tạc 1682 1709
Trịnh Cương.png An Đô Vương Hy Tổ Nhân Vương không có Trịnh Cương Chắt của Trịnh Căn, cháu Trịnh Vịnh, con Trịnh Bình 1709 1729
Trịnh Giang.png Uy Nam Vương Dụ Tổ Thuận Vương không có Trịnh Giang Con trưởng Trịnh Cương 1729 1740
Trịnh Doanh.png Minh Đô Vương Nghị Tổ Ân Vương không có Trịnh Doanh Con thứ Trịnh Cương, em Trịnh Giang 1740 1767
Trịnh Sâm.png Tĩnh Đô Vương Thánh Tổ Thịnh Vương không có Trịnh Sâm Con trưởng Trịnh Doanh 1767 1782
Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán.png Điện Đô Vương không có không có không có Trịnh Cán Con thứ Trịnh Sâm 1782 1782
Trịnh Khải.png Đoan Nam Vương không có không có không có Trịnh Khải
Trịnh Tông
Con trưởng Trịnh Sâm 1782 1786
Trịnh Bồng.png Án Đô Vương không có không có không có Trịnh Bồng Con Trịnh Giang, anh họ Trịnh Sâm 1786 1787

Đàng Trong - Chúa Nguyễn (1558-1777)

939 1558 1777 1945
Chân dung Chúa Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Tiên Vương[89] Thái Tổ[90] Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cần Nghĩa Đạt Lý hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Hoàng Con út Nguyễn Kim 1558 1613
Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên ở Đàng Trong, thế kỷ 17.jpg Sãi Vương[92] Tuyên Tổ
Hy Tông[90]
Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Nguyên Con trai thứ sáu Chúa Tiên 1613 1635
Thượng Vương Thần Tổ
Thần Tông[90]
Thừa Cơ Toàn Thống Quân Minh Hùng Nghị Uy Đoán Anh Vũ Hiếu Chiêu Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Lan Con trai thứ hai Chúa Sãi 1635 1648
Hiền Vương Nghị Tổ
Thái Tông[90]
Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Tần Con trai thứ hai Chúa Thượng 1648 1687
Nghĩa Vương Anh Tông[90] Thiệu Hư Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Ôn Huệ Từ Tường Hiếu Nghĩa Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Thái
Nguyễn Phúc Trăn
Con trai thứ hai Chúa Hiền 1687 1691
Minh Vương Hiển Tông[90] Anh Mô Hùng Lược Thánh Minh Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Chu Con trưởng Chúa Nghĩa 1691 1725
Ninh Vương Túc Tông[90] Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Vũ Hiếu Ninh Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Chú
Nguyễn Phúc Trú
Nguyễn Phúc Thụ
Con trưởng Chúa Minh 1725 1738
Vũ Vương[93] Thế Tông[90] Kiền Cương Uy Đoán Thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Vũ Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Khoát
Nguyễn Phúc Hiếu
Con trưởng Chúa Ninh 1738 1765
Định Vương Duệ Tông[90] Thông Minh Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định Hoàng Đế[91] không có Nguyễn Phúc Thuần
Nguyễn Phúc Hân
Con trai thứ 16 Chúa Vũ 1765 1776
Tân Chính Vương[94] không có Cung Mẫn Anh Đoán Huyền Mặc Vĩ Văn Mục Vương[91] không có Nguyễn Phúc Dương Cháu nội Chúa Vũ 1776 1777

Niên biểu Lê Trung Hưng - Chúa Trịnh - Chúa Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Timeline Lê Trung Hưng - Chúa Trịnh - Chúa Nguyễn PLY March 23.png

Nhà Tây Sơn (1778-1802)

939 1778 1802 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
NguyenNhac.jpg Thái Đức không có Minh Đức hoàng đế[95] Thái Đức (1778-1788) Nguyễn Nhạc Sáng lập triều đại 1778 1788[96]
Quang Trung statue 02.jpg Quang Trung Thái Tổ Vũ hoàng đế Quang Trung (1788-1792) Nguyễn Huệ Em Thái Đức 1788 1792
Cảnh Thịnh không có không có Cảnh Thịnh (1792-1801)
Bảo Hưng (1801-1802)
Nguyễn Quang Toản Con thứ Quang Trung 1792 1802

Thời kỳ tái thống nhất và Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Nguyễn (1802-1945)

939 1802 1945
Chân dung Hoàng đế Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
GiaLong.jpg Gia Long Thế Tổ Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Vũ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao Hoàng Đế Gia Long (1802-1820) Nguyễn Phúc Ánh
Nguyễn Phúc Chủng
Nguyễn Phúc Noãn
Sáng lập triều đại. Con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân, cháu nội Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát 1802[97] 1820
Minh Mang.gif Minh Mạng Thánh Tổ Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoán Sáng Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân Hoàng Đế Minh Mạng (1820-1841) Nguyễn Phúc Đảm
Nguyễn Phúc Kiểu
Con thứ tư Gia Long 1820 1841
Thiệu Trị Hiến Tổ Thiệu Thiên Long Vận Chí Thiện Thuần Hiếu Khoan Minh Duệ Đoán Văn Trị Vũ Công Thánh Triết Chương Hoàng Đế Thiệu Trị (1841-1847) Nguyễn Phúc Miên Tông
Nguyễn Phúc Tuyền
Nguyễn Phúc Dung
Con trưởng Minh Mạng 1841 1847
Vua Tu Duc.jpg Tự Đức Dực Tông Thể Thiên Hanh Vận Chí Thành Đạt Hiếu Thể Kiện Đôn Nhân Khiêm Cung Minh Lược Duệ Văn Anh Hoàng Đế Tự Đức (1847-1883) Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Nguyễn Phúc Thì
Con thứ Thiệu Trị 1847 1883
Dục Đức Cung Tông Huệ Hoàng Đế không có Nguyễn Phúc Ưng Chân
Nguyễn Phúc Ưng Ái
Con thứ Nguyễn Phúc Hồng Y, cháu nội Thiệu Trị, con nuôi Tự Đức 1883 1883
Hiep Hoa.jpg Hiệp Hòa không có Văn Lãng Quận Vương[98] Hiệp Hòa (1883) Nguyễn Phúc Hồng Dật
Nguyễn Phúc Thăng
Con thứ 29 Thiệu Trị 1883 1883
Vua Kien Phuc.jpg Kiến Phúc Giản Tông Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ Nghị Hoàng Đế Kiến Phúc (1883-1884) Nguyễn Phúc Ưng Đăng Con thứ Nguyễn Phúc Hồng Cai, cháu nội Thiệu Trị 1883 1884
Vua Ham Nghi.jpg Hàm Nghi không có Xuất Hoàng Đế[99] Hàm Nghi (1884-1885) Nguyễn Phúc Ưng Lịch
Nguyễn Phúc Minh
Em trai Kiến Phúc 1884 1885
DongKhanh.jpg Đồng Khánh Cảnh Tông Hoằng Liệt Thống Thiết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế Đồng Khánh (1885-1889) Nguyễn Phúc Ưng Kỷ
Nguyễn Phúc Đường
Con trưởng Nguyễn Phúc Hồng Cai, cháu nội thiệu Trị 1885 1889
Vua Thanh Thai.jpg Thành Thái không có Phế Đế[37][100] Thành Thái (1889-1907) Nguyễn Phúc Bửu Lân
Nguyễn Phúc Chiêu
Con Dục Đức 1889 1907
Vua Duy Tan nho.jpg Duy Tân không có Phế Đế[37][100] Duy Tân (1907-1916) Nguyễn Phúc Vĩnh San
Nguyễn Phúc Hoảng
Con thứ Thành Thái 1907 1916
Roi-Khai-Dinh.jpg Khải Định Hoằng Tông Tự Đại Gia Vận Thánh Minh Thần Trí Nhân Hiếu Thành Kính Di Mô Thừa Liệt Tuyên Hoàng Đế Khải Định (1916-1925) Nguyễn Phúc Bửu Đảo
Nguyễn Phúc Tuấn
Con trưởng Đồng Khánh 1916 1925
BaoDai o Paris.jpg Bảo Đại không có không có Bảo Đại (1925-1945) Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy
Nguyễn Phúc Thiển
Con Khải Định 1925 1945

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái thượng hoàng

Thái thượng hoàng có nghĩa là: vua cha bề trên, có trường hợp chỉ gọi là: thượng hoàng để có nghĩa rộng hơn (vua bề trên).

Tùy từng hoàn cảnh lịch sử, thực quyền của thượng hoàng khác nhau. Thượng hoàng có thể giao toàn quyền cho vua hoặc vẫn nắm quyền chi phối việc triều chính; hoặc có thể thượng hoàng chỉ mang danh nghĩa. Có những vị không ở ngôi vua ngày nào nhưng do có con làm vua nên cũng được tôn xưng là Thái thượng hoàng, trong lịch sử Việt Nam nhà Lý và nhà Trần mỗi triều đại có một vị Thái thượng hoàng như vậy. Đối với các vị chúa, khi nhường ngôi sẽ được tôn xưng là Thái thượng vương, trong lịch sử Việt Nam chỉ có 2 vị Thái thượng vương.

Thông thường thượng hoàng là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông, Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế; Thượng hoàng Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông, Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông; Thượng hoàng Lê Ý Tông là chú của vua Lê Hiển Tông.

Ngoài 7 thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Hồ Quý Ly, Mạc Thái Tổ, các thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều. Dưới đây là bảng thống kê các con số về Thái thượng hoàng:

  1. Thái thượng hoàng đầu tiên: Sùng Hiền Hầu
  2. Thái thượng hoàng giữ ngôi lâu nhất: Trần Minh Tông (28 năm)
  3. Thái thượng hoàng cầm quyền qua nhiều đời vua nhất: Trần Nghệ Tông (3 đời vua)
  4. Thái thượng hoàng lên ngôi nhiều tuổi nhất: Hồ Quý Ly (65 tuổi)
  5. Thái thượng hoàng giữ ngôi ngắn nhất: Trần Giản Định Đế (4 tháng)
  6. Thái thượng hoàng duy nhất sau thời gian ở ngôi trở lại làm vua: Lê Thần Tông
  7. Thái thượng hoàng lên ngôi ít tuổi nhất: Lê Ý Tông (22 tuổi)
  8. Thái thượng hoàng cuối cùng: Lê Ý Tông
  9. Triều đại có nhiều Thái thượng hoàng nhất: nhà Trần (9 vị, kể cả Hậu Trần)

Quê hương các triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Người sáng lập Quê hương
Nhà Thục Thục Phán, tức An Dương Vương chưa rõ
Nhà Triệu Triệu Đà, tức Triệu Vũ Đế huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc
Hai Bà Trưng Trưng Trắc, tức Trưng Vương huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Nhà Tiền Lý Lý Bí, tức Lý Nam Đế huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
(đang tranh cãi)
Họ Mai Mai Thúc Loan, tức Mai Hắc Đế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Họ Phùng Phùng Hưng, tức Bố Cái Đại Vương thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
(đang tranh cãi)
Họ Khúc Khúc Thừa Dụ, tức Khúc Tiên Chủ huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Nhà Ngô Ngô Quyền, tức Tiền Ngô Vương thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
(đang tranh cãi)
Nhà Đinh Đinh Bộ Lĩnh, tức Đinh Tiên Hoàng huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Nhà Tiền Lê Lê Hoàn, tức Lê Đại Hành huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
(đang tranh cãi)
Nhà Lý Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Nhà Trần Trần Thủ Độ (người sáng lập thực tế)
Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông (hoàng đế đầu tiên)
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
Nhà Hồ Hồ Quý Ly huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
Nhà Hậu Trần Trần Ngỗi, tức Giản Định Đế thành phố Hà Nội (nơi sinh)
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (quê tổ)
Nhà Hậu Lê Lê Lợi, tức Lê Thái Tổ (giai đoạn Lê sơ)
Lê Duy Ninh, tức Lê Trang Tông (giai đoạn Lê trung hưng)
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Nhà Mạc Mạc Đăng Dung, tức Mạc Thái Tổ huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng
Chúa Trịnh Trịnh Kiểm (người sáng lập thực tế)
Trịnh Tùng (chúa Trịnh chính thức đầu tiên)
huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Chúa Nguyễn Nguyễn Kim (người sáng lập thực tế)
Nguyễn Hoàng (chúa Nguyễn chính thức đầu tiên)
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
Nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc, tức Thái Đức huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (nơi sinh)
huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (quê tổ)
Nhà Nguyễn Nguyễn Ánh, tức Gia Long thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế (nơi sinh)
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (quê tổ)


Những chính thể tự trị và ly khai[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài những triều đại chính thống, trong lịch sử Việt Nam còn xuất hiện những chính quyền tự chủ và tự lập. Họ là những triều đại không chính thức, có khi chỉ là 1 viên quan địa phương nổi lên hình thành thế lực cát cứ, hoặc là những người dân thường dựng cờ khởi nghĩa, thậm chí là các vương tôn hoàng thân quốc thích tranh chấp ngai vàng trong hoàng tộc nên tạo phản. Vì chính quyền của họ chưa thực sự vững mạnh hoặc chưa đủ điều kiện để thiết lập nên triều đại nên họ chỉ bị coi là giặc cỏ, là quân phiệt cát cứ, hay là quyền thần thế tập nhưng sự tồn tại của họ cũng là một nhân tố không thể thiếu trong dòng chảy lịch sử. Cũng có người đã xưng đế xưng vương đặt ra quốc hiệu, cũng có kẻ xưng công hầu khanh tướng, có người mới chỉ làm thủ lĩnh một vùng nhưng trên thực tế họ ít nhiều đã nắm quyền hành cai quản đất nước hoặc những khu vực địa lý nhất định chẳng khác gì một vương quốc độc lập. Ngoài ra còn có những khu vực tự trị của dân tộc thiểu số do các lãnh chúa người bản xứ cai trị, tuy danh nghĩa là thuần phục triều đình trung ương nhưng trên thực tế họ cũng có bộ máy cai trị và luật lệ riêng.

Vua các quốc gia cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vua Chăm Pa

Ngoài những triều đại của người Kinh ra, trên dải đất Việt Nam hiện tại còn tồn tại nhiều quốc gia cổ đại do người dân tộc thiểu số sáng lập ra như các triều đại Chăm Pa: Hồ Tôn Tinh, Việt Thường thị, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, Panduranga-Chăm Pa, Thuận Thành trấn. Các tiểu quốc của người thiểu số ở Tây Nguyên: Thủy Xá - Hỏa Xá, Tiểu quốc J'rai, Tiểu quốc Mạ, Tiểu quốc Adham... Những quốc gia này cũng có vị trí rất quan trọng trên vũ đài chính trị, và họ cũng tranh đấu với các triều đại người Việt suốt hàng ngàn năm, cuối cùng họ bị đồng hóa. Họ có nền văn hóa và bản sắc dân tộc riêng không ảnh hưởng gì đến nền văn minh Trung Hoa, bởi lãnh thổ của họ đã hoàn toàn thuộc về Việt Nam nên vua của họ cũng cần được xem là một phần lịch sử Việt Nam. Rất tiếc, ngoại trừ vương quốc Chăm Pa, các tiểu quốc khác do sử liệu không nhiều nên thông tin về các vị vua hầu như không có nên không thể lập danh sách riêng.

Ngoài ra còn có trường hợp Phù Nam và Thủy Chân Lạp ở Nam Bộ nhưng vùng đó chỉ là một phần lãnh thổ của hai đế chế này, do đó không hẳn vua của hai chính thể đó là vua Việt Nam mà chỉ có mối liên đới nhất định mà thôi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển 1: Hồng Bàng thị và An Dương Vương
  2. ^ a ă â b c d Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, kỷ nhà Triệu
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Tiền biên, quyển thứ nhất
  4. ^ Kinh Dương Vương không phải thụy hiệu, do vị vua này được vua cha Đế Minh phong ở Kinh Châu và Dương Châu nên lấy đó làm vương hiệu
  5. ^ Lạc Long Quân không phải thụy hiệu, do làm thủ lĩnh của người Lạc Việt cộng thêm truyền thuyết tiên rồng nên người đời sau lấy đó truy tôn làm vương hiệu
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Hùng Vương không phải thụy hiệu, Hùng là họ Vương là vua...thụy hiệu là những chữ đặt giữa hai chữ này, trong Ngọc Phả ở đền Hùng có ghi đầy đủ thụy hiệu nhưng do không phải chính sử nên không đưa vào đây
  7. ^ Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Thị Mỹ Dung, Trần Túy Anh, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2011. Trang 125.
  8. ^ Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008. Trang 47.
  9. ^ Huyền tích chuyện tình Lang Liêu - Ngọc Tiêu
  10. ^ An Dương Vương không phải thụy hiệu, theo cổ sử thì sau khi Thục Phán lấy nước của Hùng Vương đã tự xưng là An Dương Vương
  11. ^ a ă â Sử ký, Nam Việt uý Đà liệt truyện
  12. ^ Ban đầu Triệu Đà xưng vương, sau khi Hán Cao Tổ băng hà thì xưng đế. Tuy nhiên, nhà Hán sai Lục Giả sang chiêu dụ nên Triệu Đà đã bỏ đế hiệu, đến đời Trần mới truy thụy hiệu cho ông là Khai Thiên Thể Đạo Thánh Vũ Thần Triết Hoàng Đế
  13. ^ “Hoài niệm lịch sử”. 16 tháng 7 năm 2014. 
  14. ^ Thuật Dương vương, Vệ Dương vương hay Vệ dương hầu thực ra đều không phải thụy hiệu, chỉ là tước hiệu của vị vua này
  15. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển III - Trưng Nữ Vương
  16. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Tiền biên quyển II
  17. ^ Tôn hiệu của Trưng Trắc do vua Lý Anh Tông truy phong
  18. ^ a ă â b Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV - kỷ nhà Tiền Lý
  19. ^ Nam Việt Đế không phải thụy hiệu, là Lý Bí tự xưng đế hiệu trong thời gian trị vì, sử sách thường gọi là Lý Nam Đế
  20. ^ Triệu Việt Vương không có thụy hiệu, Nam Việt quốc vương là do ông tự xưng, còn Dạ Trạch Vương là do nhân dân tôn xưng bởi ông đóng quân ở đầm Dạ Trạch mà cầm cự rồi đánh đuổi được quân Lương, sau này trong tác phẩm văn học Việt điện u linh tập truy tôn ông là Thánh Liệt Thần Vũ Khai Cơ Minh Đạo Hoàng Đế
  21. ^ Năm 555, Lý Phật Tử nối ngôi Lý Thiên Bảo làm vua nước Dã Năng. Đến năm 571, đánh bại Triệu Việt Vương sát nhập hai quốc gia làm một mối
  22. ^ Nam Đế không phải thụy hiệu, vì Lý Phật Tử cho rằng mình là người kế tục sự nghiệp của Lý Nam Đế nên mới tự xưng như vậy. Đời vua Trần Nhân Tông sách phong Anh Liệt Trọng Uy Nhân Hiếu Hoàng Đế, đến đời vua Trần Minh Tông lại gia tặng bốn chữ Khâm Minh Thánh Vũ
  23. ^ Hắc Đế và Đại Đế đều không phải thụy hiệu, do Mai Thúc Loan da đen nên người đời tôn xưng như vậy
  24. ^ a ă Mai Thiếu Đế và Bạch Đầu Đế là 2 nhân vật không có trong chính sử, theo truyền thuyết dân gian sau khi Mai Hắc Đế bại trận thì 2 người con là Mai Thiếu Đế và Bạch Đầu Đế lần lượt lên thay thế nhưng chỉ được ít lâu thì bị quân Đường đánh bại
  25. ^ Thăm đình Nhu Thượng, khám phá nét kiến trúc thế kỷ 19
  26. ^ Phùng Hưng chỉ xưng là Đô Quân, tuy nhiên vì là khởi nghĩa chống nhà Đường và thực tế đã cầm quyền trị nước một thời gian nên cũng được xếp vào hàng vua Việt Nam
  27. ^ Bố Cái Đại vương không phải thụy hiệu, là tôn hiệu do Phùng An truy tôn sau khi cha mất. Đời nhà Trần truy tặng thêm mấy chữ Phù Hữu, Chương Tín và Sùng Nghĩa
  28. ^ Sau khi Phùng Hưng mất, em là Phùng Hải và con là Phùng An chống phá lẫn nhau, sau đó Phùng An đánh bại Phùng Hải và được lập làm Đô Phủ Quân
  29. ^ a ă â b c d đ e ê Khâm định việt sử thông giám cương mục, Tiền biên - quyển V
  30. ^ a ă â b c Các nhà lãnh đạo họ Khúc, họ Dương và họ Kiều chỉ xưng Tiết độ sứ chứ không xưng vương xưng đế, do đó không được xem là vua. Tuy nhiên, họ có trách nhiệm như một vị vua, do đó cũng được xếp trong danh sách vua Việt Nam
  31. ^ a ă â Những tôn hiệu này đều do sử gia đời sau chua vào, đương thời các Tiết độ sứ họ Khúc trên danh nghĩa vẫn chỉ là quan lại đứng đầu phiên chấn thời Ngũ Đại
  32. ^ a ă â b c Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5 - kỷ Nam Bắc phân tranh
  33. ^ Tân Ngũ Đại sử, Nam Hán thế gia
  34. ^ a ă Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương trên lịch sử gọi là Hậu Ngô Vương, đây là trường hợp hy hữu trong lịch sử bởi một triều đại có 2 vị vua đồng trị vì
  35. ^ Tiên hoàng đế là tôn hiệu do sử gia Lê Văn Hưu, không phải là thụy hiệu
  36. ^ Bộ Lĩnh chỉ là chức vụ do sứ quân Trần Lãm phong tặng, tên thật của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Hoàn
  37. ^ a ă â b Phế đế không phải thụy hiệu, là tôn hiệu do các sử gia chua vào khi viết về các vị vua bị phế truất
  38. ^ a ă â Dùng tiếp niên hiệu cũ.
  39. ^ Thiên tử khi mới băng hà, chưa táng vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế. Ở đây khi Lê Hoàn mới mất, các con còn mải tranh ngôi mà chưa đặt thụy hiệu cho cha
  40. ^ Ngọa Triều là do Lý Thái Tổ đặt, không phải thụy hiệu chính thức, những vị vua cuối cùng đa phần không có thụy hiệu
  41. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển II
  42. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển II, ghi: Truy tôn tên thụy cho Thái Tông Hoàng Đế. Tuy nhiên không chép lại thụy hiệu.
  43. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển III
  44. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển IV
  45. ^ Năm 1209, Quách Bốc tạo phản đánh chiếm kinh thành, Lý Cao Tông bỏ chạy. Lý Thẩm là con trai trưởng được tôn lên làm vua, ít lâu sau Cao Tông phục vị
  46. ^ a ă Lý Thẩm và Lý Nguyên Vương được lập lên ngôi và phế truất trong giai đoạn loạn lạc ngắn ngủi, do đó không được sử sách chính thống xem là vua nhà Lý
  47. ^ Năm 1214, Lý Huệ Tông thất thế phải dời khỏi kinh đô, Trần Tự Khánh lập Huệ Văn Vương lên ngôi, hiệu là Nguyên Vương. Năm 1216, Huệ Tông không nơi nương tựa buộc phải quay lại Thăng Long, Nguyên Vương bị buộc phải thoái nhiệm hoàn vị cho Huệ Tông
  48. ^ Nguyên Vương xem như tôn hiệu, không phải thụy hiệu
  49. ^ Chiêu Hoàng là tôn hiệu, không đồng nhất với thụy hiệu Chiêu hoàng đế
  50. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển V
  51. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VI
  52. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VII
  53. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VII
  54. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VII
  55. ^ Dương Nhật Lễ là con nuôi Trần Dụ Tông đã đổi sang họ Trần, được kế vị hợp pháp, sau do bị lật đổ nên không được chính sử công nhận như 1 vị vua nhà Trần
  56. ^ Hôn Đức Công là tước hiệu sau khi bị phế truất
  57. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VIII
  58. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VII
  59. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VIII
  60. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VIII
  61. ^ Quốc Tổ là xưng hiệu của Hồ Quý Ly khi còn sống, không phải là miếu hiệu
  62. ^ Chương Hoàng xưng hiệu của Hồ Quý Ly khi còn sống, không phải thụy hiệu
  63. ^ Trần Cảo không phải dòng dõi nhà Trần, được Bình Định Vương Lê Lợi dựng lên trong giai đoạn cuối cuộc khởi nghĩa Lam Sơn để hợp thức hóa ngôi vị An Nam quốc vương với nhà Minh
  64. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển X
  65. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XI
  66. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XI
  67. ^ Lê Nghi Dân cướp ngôi anh tự lập làm vua hợp pháp nhà Lê sơ vì lúc đó không có ai tranh chấp, sau bị các đại thần làm chính biến mà mà bị phế truất nên không được sử sách chính thống ghi nhận như một vị vua
  68. ^ Lệ Đức hầu là tước hiệu sau khi bị phế truất của Lê Nghi Dân, bởi ông bị cho là soán nghịch nên không được đặt thụy hiệu
  69. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XIII
  70. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XIV
  71. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XIV
  72. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XV
  73. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XV
  74. ^ Năm 1516, sau khi lật đổ vua Lê Tương Dực, các đại thần người muốn lập Lê Y kẻ lại đòi đưa Lê Quang Trị lên ngôi. Quang Trị ở ngôi được 3 ngày do loạn Trần Cảo buộc phải chạy vào Tây Kinh, các thế lực ủng hộ Lê Y cũng lánh nạn tới đó, bởi thế cô lực mỏng nên Trịnh Duy Đại đã sát hại Lê Quang Trị mà về hàng Lê Y
  75. ^ a ă â Lê Quang Trị, Lê Bảng và Lê Do được quyền thần lập lên ngôi, sau đó cả ba người đều bị phế truất trong thời gian loạn lạc ngắn ngủi. Do đó nên họ ít được nhắc tới trong sử sách dưới tư cách là các vị vua chính thống nhà Lê sơ
  76. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XV
  77. ^ Năm 1518, nhân lúc Lê Chiêu Tông đưa quân chấn áp loạn đảng, Trịnh Tuy lập Lê Bảng lên làm vua, được nửa năm thì chính Trịnh Tuy lại phế truất vị vua này do bất đồng quan điểm
  78. ^ Trịnh Tuy phế truất Lê Bảng, lập em ông là Lê Do thay thế tiếp tục chống nhau với Lê Chiêu Tông, sau bị Mạc Đăng Dung đánh bại
  79. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XV
  80. ^ Sau cái chết của Mạc Hiến Tông, nội bộ nhà Mạc chia rẽ, các đại thần chủ chốt quyết định lập Mạc Tuyên Tông. Tướng Phạm Tử Nghi không phục đã ly khai tôn Mạc Chính Trung làm vua, tuy nhiên do triều đình này tồn tại ngắn ngủi nên không được chính sử công nhận
  81. ^ Gần đây có cuốn sách "Hợp biên thế phả họ Mạc" được tổng hợp từ các cuốn Gia Phả họ Mạc trong cả nước có đề cập đến miếu hiệu của Mạc Mậu Hợp là Mục Tông, tuy nhiên sách đó không phải lịch sử nên không đưa chính thức vào đây
  82. ^ Sau khi Thăng Long thất thủ, Mạc Kính Chỉ tập hợp các lực lượng trung thành với nhà Mạc chiếm cứ hầu hết khu vực miền Bắc, tuy nhiên chưa kịp ổn định thì lại bị tiêu diệt
  83. ^ a ă â Mạc Kính Cung nghe theo lời dạy của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, rút lên Cao Bằng, tồn tại được 3 đời cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn.
  84. ^ Hôn Đức công không phải thụy hiệu, là tước hiệu sau khi bị phế truất của Lê Duy Phường
  85. ^ Lê Chiêu Thống không có thụy hiệu, sau này Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, do cùng chung kẻ thù là nhà Tây Sơn mà truy thụy hiệu cho ông là Mẫn hoàng đế
  86. ^ Trịnh Kiểm được xem là người đặt nền móng cho họ Trịnh nắm quyền, tuy nhiên sinh thời ông không xưng chúa, tước chúa là do các chúa Trịnh thời sau truy phong
  87. ^ Trịnh Cối được vua Lê cho nối chức vụ của cha, tuy nhiên sau mâu thuẫn với Trịnh Tùng mà về hàng nhà Mạc nên không được họ Trịnh công nhận, trên thực tế đã cầm quyền được 1 năm nên vẫn đưa vào danh sách này.
  88. ^ Ở đây chỉ nói tới tước hiệu của Trịnh Cối khi còn tại vị và tước hiệu nhà Hậu Lê truy tặng sau khi mất
  89. ^ Nguyễn Hoàng về mặt chính thức chưa hề xưng chúa, đương thời ông vẫn thường xuyên ra bắc phục vụ cho chính quyền vua Lê chúa Trịnh với danh nghĩa quan trấn thủ xứ Thuận Quảng
  90. ^ a ă â b c d đ e ê Các miếu hiệu của chúa Nguyễn cũng đều do Nguyễn Ánh truy tôn sau khi lên ngôi, thực tế sau khi mất đều không có miếu hiệu
  91. ^ a ă â b c d đ e ê g Đương thời, các chúa Nguyễn không có thụy hiệu, tất cả các thụy hiệu đều do vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà truy tôn cho tổ tiên của mình là Hoàng đế, riêng Nguyễn Phúc Dương chỉ có thụy hiệu với tước vương
  92. ^ Bắt đầu từ Nguyễn Phúc Nguyên mới chính thức xưng chúa ở đàng trong, công khai chống lại chính quyền vua Lê chúa Trịnh ở đàng ngoài
  93. ^ Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương, chế độ chúa Nguyễn lúc đó tách khỏi vua Lê chúa Trịnh không khác gì một quốc gia độc, do các đời trước thực tế đã cầm quyền không biết đưa họ vào đâu nên cũng xếp cả vào danh sách vua Việt Nam
  94. ^ Nguyễn Phúc Dương là chúa bù nhìn do lực lượng Tây Sơn tôn lên để lấy danh nghĩa phù chúa Nguyễn
  95. ^ Minh Đức hoàng đế thực chất là tôn hiệu vua được tôn khi còn sống.
  96. ^ sau khi Nguyễn Huệ đăng cơ, Nguyễn Nhạc rút về Quy Nhơn để làm Tây Sơn Vương và giữ ngôi vị này cho đến khi mất vào năm 1893
  97. ^ Nguyễn Ánh xưng vương năm 1780, năm 1802 diệt nhà Tây Sơn mới chính thức xưng đế
  98. ^ Văn Lãng quận vương không phải thụy hiệu, là tôn hiệu sau này hậu thế truy phong cho vua Hiệp Hòa
  99. ^ Xuất hoàng đế không phải thụy hiệu của vua Hàm Nghi, khi Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược chép lại làm tôn hiệu vì vị vua này trong thời gian tại vị không ở kinh thành mà thường xuyên phải chạy rong bôn tẩu
  100. ^ a ă Vua Thành Thái và Duy Tân đều không có thụy hiệu, sau khi vua Khải Định lên ngôi gọi vua Thành Thái là Hoài Trạch Công và gọi vua Duy Tân là Công Tử Vĩnh San, sau này Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược mới truy tặng cả 2 vị vua này tôn hiệu Phế Đế

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]