Vua Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê
   Nhà Lê sơ (1428 - 1527)
   
   trung
   hưng
(1533 - 1789)
Nhà Mạc (1527 - 1592)
Trịnh-Nguyễn
phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Quốc gia Việt Nam
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa

Vua Việt Nam là nhà cai trị nước Việt Nam độc lập tự chủ từ thời dựng nước đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tùy hoàn cảnh lịch sử mà có thể mang tước hiệu và chức vụ khác nhau, ở trong nước tước hiệu tự xưng cao nhất là hoàng đế và thấp hơn là vương. Về chức vụ, trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì có khi được thụ phong Quốc vương hoặc Quận vương, có khi chỉ là Tiết độ sứ hay Đô thống sứ.

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Trong huyền sử, khái niệm vua Việt Nam đã thấy ghi chép từ Hồng Bàng thị nhưng còn nhiều điểm nghi vấn mơ hồ chưa thể khẳng định rõ rệt, sau đó nhà Thục cướp ngôi họ Hùng và họ Triệu lấy nước của nhà Thục. Thế nhưng Hồng Bàng thị là dòng dõi Thần Nông thị,[1] Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị[1] còn Triệu Đà cũng là người Hán [2]...như vậy những triều đại sơ khai đều có sự nghi vấn gây tranh cãi. Trong ngàn năm Bắc thuộc, từng trỗi dậy những chính quyền nhưng thời gian tồn tại chưa được bao lâu đã bị dẹp yên, sự nghiệp chưa ổn định lâu dài nên chưa thể cấu thành triều đại. Từ khi họ Khúc giành lấy quyền tự chủ cho đến hết loạn 12 sứ quân, danh nghĩa Việt Nam vẫn chỉ là một phiên chấn của Trung Quốc với cái tên Tĩnh hải quân, các nhà lãnh đạo Việt Nam thời tự chủ chỉ ở mức Tiết độ sứ cả trong nước và ngoại giao, đến lúc Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán mới tự xưng vương. Bắt đầu từ đấy, vua Việt Nam mới chính thức được xác định, tuy nhiên nhà Ngô vẫn chưa đặt quốc hiệu. Bấy giờ bên Trung Quốc cũng đang loạn to, chính quyền trung ương còn mải lo đánh dẹp nên chưa thể nhòm ngó xuống mạn cực nam, chỉ có nước Nam Hán kế cận thỉnh thoảng xung đột mà thôi. Đến thời nhà Đinh, đối với thần dân trong nước, các vua người Việt đã xưng hoàng đế và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, gặp lúc nhà Tống cũng mới chấm dứt cục diện Ngũ đại thập quốc nên sai sứ sang sắc phong vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương, từ đó nền quân chủ Việt Nam mới được xác lập.

Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người ViệtThăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng, ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mạng trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mạng trời cai trị dân đối với dân nước Việt. Vua Việt Nam tự ví mình với Mặt Trời như vua Trung Quốc. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vua ở Thăng Long là ngai vàng của Hoàng đế nước Nam người trị vì "Đế quốc phương Nam" theo mệnh trời. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc.

Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Các vua nước Việt được chính thức dùng các nghi thức đặc biệt nhạy cảm với vua Trung Quốc như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, được quyền phong chức tước cho các thánh, thần, sông núi ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi...; có vua Việt Nam còn mượn cớ đau chân để khỏi quỳ gối trước chiếu chỉ vua Trung Quốc để chứng tỏ mình không phải là cấp dưới của vua Trung Quốc. Tóm lại, các vị vua của Việt Nam là các vị vua thực sự như các vua Trung Quốc.

Các vua Việt Nam đã dùng gần như đầy đủ các nghi thức thần quyền quân chủ dành riêng cho vua chúa Trung Quốc, chỉ có cái khác duy nhất là quyền lực thần quyền này không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại, quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi.

Thiên mệnh của vua Trung Quốc chỉ kéo dài đến biên giới Việt-Hoa. Theo ý thức thần quyền của hai chế độ quân chủ thì biên giới này do Trời vạch sẵn và được Trời cũng như các thần bảo vệ. Cả hai nước đều ý thức được tầm quan trọng của đường biên giới này trong việc duy trì quyền lực giữa hai nước và đã giữ được sự cố định truyền thống của nó trong một thời gian rất dài trong lịch sử. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế với giá rẻ nhất.

Vì vậy các triều đại phong kiến Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một phiên thuộc của các triều đại phong kiến Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình như vua Quang Trung. Vào lúc loạn lạc thay đổi triều đại ở Việt Nam là cơ hội tốt để các triều đại quân chủphong kiến phương bắc mượn cớ giúp vua triều trước, không chịu sắc phong cho vua mới hoặc đem quân qua can thiệp nhằm chiếm đóng và đô hộ lâu dài nước Việt như thời nhà Minh, nhà Thanh. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng Miếu hiệu hoặc Thụy hiệuTôn hiệu vắn tắt, những trường hợp vị quân chủ chỉ đặt một niên hiệu trong thời gian tại vị thì sẽ được biết đến bằng Niên hiệu.

Đối với Trung Quốc thì vua Việt Nam có tước hiệu là:

  • Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ: thời họ Khúc, họ Dương, họ Kiều và nhà Ngô
  • Giao Chỉ Quận Vương: thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê[3] và già nửa nhà Hậu Lý[4]
  • An Nam Quốc Vương: giai đoạn cuối nhà Hậu Lý[5], nhà Trần, nhà Hậu Lê và nhà Tây Sơn
  • An Nam Đô Thống Sứ Ty: thời nhà Mạc[6]và giai đoạn đầu nhà Lê trung hưng
  • Việt Nam Quốc Vương: thời nhà Nguyễn

Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đến hết thời kỳ quân chủ. Trong danh sách này, ngoài những vị vua còn liệt kê một số nhân vật không phải vua nhưng đã nắm giữ thực quyền cai trị tối cao lãnh đạo đất nước như: các vị Tiết độ sứ thời tự chủ, các chúa Trịnh và chúa Nguyễn thời Lê trung hưng...Những vị vua tự xưng chế độ chưa thực sự ổn định, nhưng do chống ngoại xâm nên cũng bỏ qua sự trung lập mà đưa vào để tôn vinh sự chính thống và độc lập dân tộc:

Thời kỳ sơ sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Hồng Bàng hiện vẫn còn gây tranh cãi về tính chính xác và thời điểm xuất hiện. Do đó giai đoạn này được xem có tính truyền thuyết nhiều hơn.

Chân dung Vua[7] Miếu hiệu[1] Thụy hiệu[7] Niên hiệu[1] Tên húy Thế thứ[1] Trị vì
Kinh Dương Vương không có Kinh Dương Vương[8] không có Lộc Tục[7] khai sáng triều đại, con thứ Đế Minh, em Đế Nghi 2879 TCN[1][9]  ?
Lạc Long Quân & Âu Cơ - Tết 2009.jpg Lạc Long Quân không có Lạc Long Quân[10] không có Sùng Lãm[7] con Kinh Dương Vương  ?  ?
Hùng Vương (I) không có Hùng Vương[11] không có không rõ con trưởng Lạc Long Quân TK VII TCN[12][13][14]  ?
Hùng Vương (II) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (III) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (IV) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (V) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Mausoleum of Hung King.JPG Hùng Vương (VI) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (VII) không có Hùng Vương[11] không có Lang Liêu[15]  ?  ?
Hùng Vương (VIII) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (IX) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (X) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XI) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XII) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XIII) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XIV) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XV) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XVI) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XVII) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ?  ?
Hùng Vương (XVIII) không có Hùng Vương[11] không có không rõ  ? 258TCN[7] hoặc 208TCN

Nhà Thục (257-208 TCN, hoặc 207-179 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[7] Miếu hiệu[7] Thụy hiệu[7] Niên hiệu[7] Tên húy[7] Trị vì
AnDuongVuong.jpg An Dương Vương không có An Dương Vương[16] không có Thục Phán 257TCN—208TCN[7]
hoặc 207TCN—179TCN[17]

Nhà Triệu (207-111 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[7] Miếu hiệu[2] Thụy hiệu[7] Niên hiệu[2] Tên húy Thế thứ[17] Trị vì[7]
Zhao Tuo(Heyuan).JPG Triệu Vũ Đế[2] không có[18] Vũ Vương
Vũ Đế[19]
không có Triệu Đà[7] Khai sáng triều đại 207TCN 137TCN
Si lü yu yi.JPG Triệu Văn Đế[2] không có Văn Vương
Văn Đế[20]
không có Triệu Hồ[17]
Triệu Mạt[21]
Triệu Muội[7]
cháu nội Triệu Đà, con Triệu Trọng Thuỷ 137TCN 125TCN
Triệu Minh Vương[2] không có Minh Vương không có Triệu Anh Tề[7] con Triệu Hồ 125TCN 113TCN
Triệu Ai Vương[2] không có Ai Vương không có Triệu Hưng[7] con thứ Triệu Anh Tề 113TCN 112TCN
Thuật Dương Vương[2] không có Thuật Dương Vương
Vệ dương vương
Vệ dương hầu[22]
không có Triệu Kiến Đức[7] con trưởng Triệu Anh Tề, anh Triệu Hưng 112TCN 111TCN

Nhà Triệu nếu trung lập thì là một triều đại chính thống của Việt Nam, còn nếu bỏ qua sự trung lập thì sẽ bị quy thành kẻ xâm lăng. Hiện trường hợp này vẫn còn đang tranh cãi, đa phần thư tịch cổ đều tính từ khi nhà Hán diệt nước Nam Việt là thời Bắc thuộc, tuy nhiên gần đây có sách lại tính từ khi Triệu Đà diệt nước Âu Lạc đã bắt đầu thời Bắc thuộc[23]. Vì người Trung Quốc cũng không coi chính thể này là triều đại của họ mà chỉ chép phụ vào phần liệt truyện[24], cho nên tạm thời vẫn liệt kê ở đây như một triều đại nối tiếp hợp pháp của Việt Nam kiểu như nhà Nguyên nhà Thanh bên Tàu.

Chống Bắc thuộc lần I, II và III[sửa | sửa mã nguồn]

Trưng Nữ Vương (40-43)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua Thụy hiệu[25] Tôn hiệu Niên hiệu[25] Tên húy Thế thứ[25] Trị vì[26]
HaiBaTrung.JPG Trưng Vương[26] không có Trinh Linh Chi Phu Nhân[27] không có Trưng Trắc[25]
Lạc Trắc[25]
vợ Thi Sách, sáng lập triều đại 40 43

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ngắn ngủi chưa kịp ổn định đã bị diệt vong, tuy nhiên vì do phụ nữ lãnh đạo hơn nữa lại chống ngoại xâm nên cũng được sử sách đưa vào thành một triều đại của Việt Nam.

Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương (544-603)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[28] Miếu hiệu[28] Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Emperor Ly Nam De.jpg Lý Nam Đế không có Nam Đế
Nam Việt Đế[29]
Thiên Đức (544-548)[28] Lý Bí[28]
Lý Bôn[28]
nổi dậy tự lập, khai sáng triều đại[30] 544[28] 548[28]
Cuathanphu2.jpg Triệu Việt Vương[31] không có Nam Việt Quốc Vương
Dạ Trạch Vương[32]
không có[28] Triệu Quang Phục[30] con Thái phó Triệu Túc, được Lý Nam Đế giao toàn bộ quyền hành[30] 548 571[28]
Đào Lang Vương[33] không có không có[28] không có[28] Lý Thiên Bảo[28] anh trai Lý Nam Đế[28] 549 555[28]
Hậu Lý Nam Đế[34] không có Nam Đế[35] không có[28] Lý Phật Tử[30] người trong họ Lý Nam Đế[30] 571[36] 602[28]
Lý Sư Lợi[37] không có[38] không có[38] không có[38] Lý Sư Lợi[38] con Hậu Lý Nam Đế[38] 602 603

Họ Mai (713 - 723)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua Miếu hiệu[30] Thụy hiệu Niên hiệu[30] Tên húy Thế thứ Trị vì
Mai Hắc Đế[39] không có Đại Đế
Hắc Đế[40]
không có Mai Thúc Loan[39]
Mai Huyền Thành[41]
Mai Lập Thành[42]
Mai Thúc Yên[43]
Mai Phượng[44]
nổi dậy tự lập[39] chưa rõ[45] 722[39]
Mai Thiếu Đế[46] không có không có không có Mai Thúc Huy[47]
Mai Bảo Sơn
con trưởng Mai Hắc Đế 722 723
Bạch Đầu Đế[46] không có không có không có Mai Kỳ Sơn[48] con thứ Mai Hắc Đế, em song sinh với Mai Thiếu Đế 723 723

Chính quyền họ Mai cũng là cuộc khởi nghĩa chưa kịp ổn định, sử sách chỉ ghi chép vài dòng sơ sài nhưng vì tôn vinh vấn đề chống ngoại xâm nên cũng được liệt vào danh sách vua Việt Nam.

Họ Phùng (779-791)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Thủ lĩnh[39] Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy[39] Thế thứ[39] Trị vì
TuongPhungHung.jpg Phùng Hưng[49] không có Bố Cái Đại Vương[50] không có Phùng Hưng
Phùng Cự Lão
con Phùng Hạp Khanh, thế tập Biên Khố Di Tù Trưởng chưa rõ[51] 791[39]
Phùng An[52] không có không có không có Phùng An con Phùng Hưng 791 791

Thời kỳ tự chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Khúc (905-923) hoặc (905-930)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Tiết độ sứ[53] Tôn hiệu[53] Thụy hiệu[53] Niên hiệu[53] Tên húy Thế thứ Trị vì
Khúc Tiên Chủ[54] Tiên Chủ[55] không có không có Khúc Thừa Dụ[53] Mở màn nền tự chủ[53] 905 907[53]
Khúc Trung Chủ[54] Trung Chủ[55] không có không có Khúc Hạo[53]
Khúc Thừa Hạo[56]
con Khúc Thừa Dụ[53] 907 917[53]
Khúc Hậu Chủ[54] Hậu Chủ[55] không có không có Khúc Thừa Mỹ[56] con Khúc Hạo[56] 917 923[56]
930[57]

Dương Đình Nghệ và Kiều Công Tiễn (931-938)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Tiết độ sứ[56] Tôn hiệu[56] Thụy hiệu[53] Niên hiệu[53] Tên húy Thế thứ[53] Trị vì[53]
Dương Chính Công[54] không có không có không có Dương Đình Nghệ[53]
Dương Diên Nghệ[58]
Khôi phục nền tự chủ, nha tướng của Khúc Hạo 931 937
Kiều Công Tiễn[54] không có không có không có Kiều Công Tiễn[56]
Kiểu Công Tiễn[53]
Kiểu Công Hạo[58]
con nuôi và nha tướng của Dương Đình Nghệ 937 938

Thời kỳ độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

                Minh thuộc       Nam-Bắc triều và Trịnh-Nguyễn phân tranh     Pháp thuộc  
Trước độc lập Nhà Ngô   Nhà Đinh Nhà Tiền Lê Nhà Lý Nhà Trần Nhà Hồ Nhà Hậu Trần   Nhà Hậu Lê Nhà Mạc Nhà Hậu Lê Nhà Tây Sơn Nhà Nguyễn Việt Nam hiện đại
                                 
                          Chúa Trịnh        
                          Chúa Nguyễn        
939       1009 1225 1400     1427 1527 1592 1788 1858 1945


Nhà Ngô và Dương Tam Kha (939-965)

939 965 1945
Chân dung Vua[53] Tôn hiệu[56] Thụy hiệu[53] Niên hiệu[53] Tên húy Thế thứ[53] Trị vì[53]
Tượng Ngô Quyền.jpg Tiền Ngô Vương Tiên Chủ không có không có Ngô Quyền[53] Sáng lập triều đại, nha tướng và con rể Dương Đình Nghệ 939 944
Dương Bình Vương[59] không có Trương Dương Công[60] không có Dương Tam Kha[53]
Dương Chủ Tướng[61]
Dương Thiệu Hồng[62]
Con trai Dương Đình Nghệ 944 950
Thiên Sách Vương[63] không có không có không có Ngô Xương Ngập[53] Con trưởng Ngô Quyền 951 954
Nam Tấn Vương[63] không có không có không có Ngô Xương Tấn[57]
Ngô Xương Văn[53]
Con thứ Ngô Quyền 950 965

Nhà Đinh (968-980)

939 968 980 1945
Chân dung Vua[64] Miếu hiệu[64] Thụy hiệu Niên hiệu[64] Tên húy Thế thứ[64] Trị vì[64]
VuaDinhTienHoang.jpg Đinh Tiên Hoàng[65] không có Tiên Hoàng Đế[66] Thái Bình (970-979) Đinh Bộ Lĩnh[64]
Đinh Hoàn[67]
Sáng lập triều đại, con nuôi sứ quân Trần Minh Công 968 979
Dinhtoan.jpg Đinh Phế Đế[68] không có Phế Đế[69] Thái Bình[70] (979-980) Đinh Toàn[64]
Đinh Tuệ[71]
Con út Đinh Tiên Hoàng 979 980

Nhà Tiền Lê (980-1009)

939 980 1009 1945
Chân dung Vua[64] Miếu hiệu[72] Thụy hiệu[64] Niên hiệu[64] Tên húy Thế thứ[64] Trị vì[64]
Le Dai Hanh.jpg Lê Đại Hành[73] không có[74] Đại Hành Hoàng Đế[75] Thiên Phúc (980-988)
Hưng Thống (989-993)
Ứng Thiên (994-1005)
Lê Hoàn[72] Sáng lập triều đại, Phó vương nhiếp chính thời Đinh Phế Đế 980 1005
Lê Trung Tông Trung Tông không có Ứng Thiên[70] (1005-1005) Lê Long Việt[72] Con thứ Lê Đại Hành 1005 1005
Lelongdinh.jpg Lê Ngọa Triều không có[76] Ngọa Triều Hoàng Đế[77] Ứng Thiên[70] (1005-1007)
Cảnh Thụy (1008-1009)
Lê Long Đĩnh[64]
Lê Chí Trung[62]
Con thứ năm Lê Đại Hành, 1005 1009

Nhà Lý (1010-1226)

939 1010 1226 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Tượng Lý Thái Tổ.jpg Lý Thái Tổ[78] Thái Tổ[79] Thần Vũ Hoàng Đế[79] Thuận Thiên (1010-1028)[79] Lý Công Uẩn[79] Sáng lập triều đại. Nguyên là Điện tiền chỉ huy sứ và là phò mã trưởng Lê Đại Hành[79] 1009[79] 1028[79]
LýTháiTông.jpg Lý Thái Tông[80] Thái Tông[79] không rõ[81] Thiên Thành (1028-1033)[79]
Thông Thụy (1034-1038)[79]
Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041)[79]
Minh Đạo (1042-1043)[79]
Thiên Cảm Thánh Vũ (1044-1048)[79]
Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054)[79]
Lý Phật Mã[79]
Lý Đức Chính[79]
Con trưởng Lý Thái Tổ[79] 1028 1054[79]
Lý Thánh Tông.JPG Lý Thánh Tông Thánh Tông không có[82][83] Long Thụy Thái Bình (1054-1058)[83] Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065)[83]
Long Chương Thiên Tự (1066-1068)[83]
Thiên Huống Bảo Tượng (1068 - 1069)[83]
Thần Vũ (1069-1072)[83]
Lý Nhật Tôn[83] Con trưởng Lý Thái Tông[83] 1054 1072[83]
Lý Nhân Tông.JPG Lý Nhân Tông[84] Nhân Tông Hiếu Từ Thánh Thần Văn Vũ Hoàng Đế[83] Thái Ninh (1072-1076)[85]
Anh Vũ Chiêu Thắng (1076-1084)[85]
Quảng Hựu (1085-1092)[85]
Hội Phong (1092-1100)[86]
Long Phù (1101-1109)[86]
Hội Tường Đại Khánh (1110-1119)[86]
Thiên Phù Duệ Vũ (1120-1126)[86]
Thiên Phù Khánh Thọ (1127-1127)[86]
Lý Càn Đức[83] Con trưởng Lý Thánh Tông[83] 1072 1127[86]
Lý Thần Tông[87] Thần Tông Quảng Văn Sùng Hiếu Khâm Minh Văn Vũ Hoàng Đế[83] Thiên Thuận (1128-1132)[86]
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138)[86]
Lý Dương Hoán[83] con Sùng Hiền Hầu, cháu nội Lý Thánh Tông[83] 1127 1138[86]
Lý Anh Tông[88] Anh Tông không có[89][90] Thiệu Minh (1138-1139)[86]
Đại Định (1140-1162)[86]
Chính Long Bảo Ứng (1163-1173)[91]
Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)[91]
Lý Thiên Tộ[90] Con thứ Lý Thần Tông[90] 1128 1175[91]
Lý Cao Tông Cao Tông không có[90][92] Trinh Phù (1176-1185)[91]
Thiên Tư Gia Thuỵ (1186-1201)[91]
Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1204)[91]
Trị Bình Long Ứng (1205-1210)[91]
Lý Long Cán[93]
Lý Long Trát[90]
Con thứ 6 Lý Anh Tông 1176 1204[91]
Lý Thẩm[94][95] không có[91] không có[91] không có[91] Lý Thẩm[91] Con thứ Lý Cao Tông[91] 1209 1209[91]
Den do.jpg Lý Huệ Tông[96] Huệ Tông không có[90][97] Kiến Gia (1211–1224)[91] Lý Sảm[90]
Lý Hạo Sảm[91]
Con trưởng Lý Cao Tông[91] 1211 1224[91]
Lý Nguyên Vương[95][98] không có Nguyên Vương[99] Càn Ninh (1214–1216)[100] không rõ[100] Con thứ Lý Anh Tông[100] 1214 1216[100]
Lý Chiêu Hoàng[101] không có[100] Chiêu Hoàng[102] Thiên Chương Hữu Đạo (1224–1226)[100] Lý Phật Kim[90]
Lý Thiên Hinh[100]
Con gái Lý Huệ Tông, vợ Trần Thái Tông[100] 1224 1226[100]

Nhà Trần (1226-1400)

939 1226 1400 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Trần Thái Tông[103] Thái Tông[104] Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng Đế[104] Kiến Trung (1226-1237)[104]
Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350)[104]
Nguyên Phong (1251-1258)[104]
Trần Cảnh[104]
Trần Bồ[104]
Trần Quang Bỉnh[105]
Trần Nhật Cảnh[106]
Sáng lập triều đại, chồng và anh họ Lý Chiêu Hoàng[104] 1226 1258[104]
Trần Thánh Tông[107] Thánh Tông[104] Huyền Công Thịnh Đức Nhân Minh Văn Vũ Tuyên Hiếu Hoàng Đế[104] Thiệu Long (1258-1272)[104]
Bảo Phù (1273-1278)[104]
Trần Hoảng[104]
Trần Uy Hoảng[106]
Trần Quang Bính[105]
Trần Nhật Huyên[105]
Con thứ hai Trần Thái Tông[104] 1258 1279[104]
Trần Nhân Tông.jpg Trần Nhân Tông[108] Nhân Tông[109] Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế[109] Thiệu Bảo (1278-1285)[109]
Trùng Hưng (1285-1293)[109]
Trần Khâm[109]
Trần Nhật Tuấn[105]
Con trưởng Trần Thánh Tông[109] 1278 1293[109]
Trần Anh Tông TLĐSXSĐ.jpg Trần Anh Tông[110] Anh Tông[109] Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế[109] Hưng Long (1293-1314)[109] Trần Thuyên[109]
Trần Nhật 㷃[105]
Trần Nhật 𤊞[106]
Con trưởng Trần Nhân Tông 1293 1314[109]
Trần Minh Tông[111] Minh Tông[112] Chương Nghiêu Văn Chiết Hoàng Đế[112] Đại Khánh (1314-1323)[112]
Khai Thái (1324-1329)[112]
Trần Mạnh[112]
Trần Thánh Sinh[113]
Trần Nhật Khoáng[105]
Con thứ tư Trần Anh Tông[112] 1314 1329[112]
Trần Hiến Tông[114] Hiến Tông[112] không có[112] Khai Hựu (1329-1341)[112] Trần Vượng[112]
Trần Nhật 㷆[105]
Con trưởng Trần Minh Tông[112] 1329 1341[112]
Trần Dụ Tông[115] Dụ Tông[112] không có[112] Thiệu Phong (1341-1357)[112]
Đại Trị (1358-1369)[112]
Trần Hạo[112]
Trần Nhật Khuê[116]
Con thứ mười Trần Minh Tông, dòng hoàng đích tử[112] 1341 1369[112]
Đại Định Đế[117] không có[112] Hôn Đức Công[118] Đại Định (1369-1370)[112] Trần Nhật Lễ[112]
Dương Nhật Lễ[112]
Trần Nhật Kiên[116]
Con riêng của chị dâu Trần Dụ Tông[112] 1369 1370[112]
Trần Nghệ Tông[119] Nghệ Tông[120] Quang Nhiên Anh Triết Hoàng Đế[120] Thiệu Khánh (1370-1372)[112] Trần Phủ[120]
Trần Thúc Minh[116]
Con thứ ba Trần Minh Tông 1370 1372[112]
Trần Duệ Tông[121] Duệ Tông[112] không có[112] Long Khánh (1373-1377)[112] Trần Kính[112]
Trần Nhật Đoan[116]
Con thứ 11 Trần Minh Tông[112] 1372 1377[112]
Trần Phế Đế[122] không có[120] Phế Đế[69] Xương Phù (1377-1388)[120] Trần Hiện
Trần Nhật Vĩ[116]
Con thứ Trần Duệ Tông[120] 1377 1388[120]
Trần Thuận Tông[123] Thuận Tông[120] không có[120] Quang Thái (1388-1398)[120] Trần Ngung[120]
Trần Nhật Hỗn[116]
Con thứ của Trần Nghệ Tông[120] 1388 1398[120]
Trần Thiếu Đế[120] không có[120] Thiếu Đế[124] Kiến Tân (1398-1400)[120] Trần An[120] Con trưởng Trần Thuận Tông, cháu ngoại Hồ Quý Ly[120] 1398 1400[120]

Nhà Hồ (1400-1407)

939 1400 1407 1945
Chân dung Vua[120] Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu[120] Tên húy Thế thứ[120] Trị vì[120]
Hồ Quý Ly[125] Quốc Tổ[126] Chương Hoàng[126] Thánh Nguyên (1400) Hồ Quý Ly
Hồ Nhất Nguyên
Lê Quý Ly
Lê Nhất Nguyên
Sáng lập triều đại, phò mã Trần Minh Tông, ông ngoại Trần Thiếu Đế 1400 1400
Hồ Hán Thương không có[120] không có[120] Thiệu Thành (1401-1402)
Khai Đại (1403-1407)
Hồ Hán Thương[120]
Lê Hán Thương[120]
Hồ Hỏa[116]
Con thứ Hồ Quý Ly 1400 1407

Chống Bắc thuộc lần IV[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hậu Trần (1407-1413)

939 1407 1413 1945
Chân dung Vua[127] Miếu hiệu[127] Thụy hiệu[127] Niên hiệu[127] Tên húy[127] Thế thứ[127] Trị vì[127]
Giản Định Đế[128] không có không có Hưng Khánh (1407-1409) Trần Ngỗi
Trần Quỹ
Con trai thứ Trần Nghệ Tông 1407 1409
Trùng Quang Đế không có không có Trùng Quang (1409-1414) Trần Quý Khoáng
Trần Quý Khoách
Cháu nội Trần Nghệ Tông 1409 1414

Thực ra nhà Hậu Trần là một cuộc khởi nghĩa thất bại, chưa ổn định chỉ mang tính chất cục bộ nhưng do đề cao việc chống giặc ngoại xâm cho nên sử sách bỏ qua sự trung lập mà vẫn xem như một triều đại.

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Vua[129] Miếu hiệu[130] Thụy hiệu[130] Niên hiệu[130] Tên húy Trị vì[129]
Trần Cảo[131] không có không có Thiên Khánh (1426-1428) Trần Cảo[129]
Trần Địch[129]
Trần Cao[130]
Trần Hồ Ông[130]
1426 1428

Thời kỳ tái độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hậu Lê - giai đoạn Lê sơ (1428-1527)

939 1428 1527 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Tôn hiệu hoặc Thụy hiệu[132] Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Le Loi statue.JPG Lê Thái Tổ[133] Thái Tổ[129] Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế[129] Thuận Thiên (1428-1433)[129] Lê Lợi[129] Sáng lập triểu đại[129] 1428[129] 1433[129]
Lê Thái Tông Thái Tông[134] Kế Thiên Thể Đạo Hiển Đức Thánh Công Khâm Minh Văn Tư Anh Duệ Triết Chiêu Hiến Kiến Trung Văn Hoàng Đế[134] Thiệu Bình (1434-1439)[134]
Đại Bảo (1440-1442)[134]
Lê Nguyên Long[134]
Lê Lân[116]
Con thứ hai Lê Thái Tổ[134] 1433 1442[134]
Lê Nhân Tông Nhân Tông[134] Khâm Văn Nhân Hiếu Tuyên Minh Thông Duệ Tuyên Hoàng Đế[135] Thái Hòa (1443-1453)[134]
Diên Ninh (1454-1459)[134]
Lê Bang Cơ[134]
Lê Cơ Long
Lê Tuấn[136]
Con thứ ba Lê Thái Tông[134] 1442 1459[134]
Lạng Sơn Vương[137] không có[134] Lệ Đức Hầu[138] Thiên Hưng (1459-1460)[134] Lê Nghi Dân[134]
Lê Tông[136]
Con trưởng Lê Thái Tông[134] 1459 1460[134]
206ThoiLe LeThanhTong.jpg Lê Thánh Tông[139] Thánh Tông[135] Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế[140] Quang Thuận (1460-1469)[135]
Hồng Đức (1470-1497)[135]
Lê Tư Thành[135]
Lê Hạo[116]
Con thứ tư Lê Thái Tông[135] 1460 1497[140]
Lê Hiến Tông[141] Hiến Tông[142] Thể Thiên Ngưng Đạo Mậu Đức Chí Chiêu Văn Thiệu Vũ Tuyên Triết Khâm Thành Chương Hiếu Duệ Hoàng Đế[142] Cảnh Thống (1497-1504)[142] Lê Tranh[142]
Lê Sanh[142]
Lê Huy[142]
Lê Tăng[116]
Con trưởng Lê Thánh Tông 1497 1504[142]
Lê Túc Tông[143] Túc Tông[142] Chiêu Nghĩa Hiển Nhân Ôn Cung Uyên Mặc Hiếu Doãn Cung Khâm Hoàng Đế[142] Thái Trinh (1504)[142] Lê Thuần[142] Con thứ ba Lê Hiến Tông 1504 1504[142]
Lê Uy Mục[144] Uy Mục Đế[145] Đoan Khánh (1505-1509)[142] Lê Tuấn[142]
Lê Huyên[142]
Con thứ hai Lê Hiến Tông[142] 1504 1509[142]
Lê Tương Dực[146] không có[145] Tương Dực Đế[145] Hồng Thuận (1510-1516)[145] Lê Oánh[147]
Lê Oanh[147]
Lê Dinh[145]
Lê Trừu[145]
Con Lê Đức Tông, cháu nội Lê Thánh Tông[145] 1509 1516[145]
Lê Quang Trị[148][149] không có[145] không có[145] không có[145] Lê Quang Trị[145] Con Lê Doanh, cháu nội Lê Đức Tông, cháu gọi Lê Tương Dực bằng bác[145] 1516 1516[145]
Lê Chiêu Tông[150] Chiêu Tông[145] Thần Hoàng Đế[145] Quang Thiệu (1516-1525)[145] Lê Y[145]
Lê Huệ[145]
Anh họ Lê Quang Trị, chắt Lê Thánh Tông[145] 1516 1525[145]
Lê Bảng[149][151] không có[145] không có[145] Đại Đức (1518-1519)[145] Lê Bảng[145] Con Lê Lộc, không rõ cha Lộc tên gì, Lộc là cháu nội Lê Khắc Xương, Khắc Xương là anh của Lê Thánh Tông[145] 1518 1519[145]
Lê Do[149][152] không có[145] không có[145] Thiên Hiến (1519)[145] Lê Do[145]
Lê Dữu[153]
Em cùng mẹ với Lê Bảng[145] 1519 1519[145]
Lê Cung Hoàng[154] không có[145] Cung Hoàng Đế[145] Thống Nguyên (1522-1527)[145] Lê Xuân[145]
Lê Lự[145]
Lê Khánh[155]
Em Lê Chiêu Tông[145] 1522[156] 1527[145]

Thời kỳ chia cắt[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Triều - Nhà Mạc (1527-1592)

939 1527 1592 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
An Nan Lai Wei Tu Ce.JPG Mạc Thái Tổ[157] Thái Tổ[145] Nhân Minh Cao Hoàng Đế[158] Minh Đức (1527-1530)[145] Mạc Đăng Dung[145] Cháu 7 đời Mạc Đĩnh Chi, sáng lập triều đại[158] 1527[145] 1530[145]
Statue of Emperor Mạc Thái Tông.jpg Mạc Thái Tông[159] Thái Tông[145] Khâm Triết Văn Hoàng Đế[160] Đại Chính (1530-1540)[160] Mạc Đăng Doanh[160]
Mạc Phương Doanh[116]
Con trưởng Mạc Thái Tổ[160] 1530 1540[160]
Mạc Hiến Tông Hiến Tông[161] Hiển Hoàng Đế[161] Quảng Hòa (1540-1546)[161] Mạc Phúc Hải[161]
Mạc Đức Nguyên[161]
Con trưởng Mạc Thái Tông[161] 1540 1546[161]
Hoằng Vương[162] không có[163] không có[163] không có[163] Mạc Chính Trung[163] Em Mạc Thái Tông[163] 1546 1547[164]
Statue of Emperor Mạc Tuyên Tông.jpg Mạc Tuyên Tông Tuyên Tông[164] Anh Nghị Duệ Hoàng Đế[164] Vĩnh Định (1547)[164]
Cảnh Lịch (1548-1553)[164]
Quang Bảo (1554-1561)[164]
Mạc Phúc Nguyên[164] Con Mạc Hiến Tông[164] 1546 1561[164]
Statue of Emperor Mạc Mậu Hợp.jpg Mạc Mậu Hợp[165] không có[166] không có[166] Thuần Phúc (1562-1565)[166]
Sùng Khang (1566-1577)[166]
Diên Thành (1578-1585)[166]
Đoan Thái (1586-1587)[166]
Hưng Trị (1588-1590)[166]
Hồng Ninh (1591-1592)[166]
Mạc Mậu Hợp[166] Con trai Mạc Tuyên Tông[166] 1561 1592[166]
Mạc Toàn không có[167] không có[167] Vũ An (1592-1592)[167] Mạc Toàn[167] Con thứ Mạc Mậu Hợp[167] 1592 1592[167]
Đường An Vương[168] không có[167] không có[167] Bảo Định (1592–1593)[167]
Khang Hựu (1593–1593)[167]
Mạc Kính Chỉ[167] Con trưởng Mạc Kính Điển, cháu nội Mạc Thái Tông[167] 1592 1593[167]
Đôn Hậu Vương[169] không có không có Càn Thống (1592-1625) Mạc Kính Cung Con thứ 7 Mạc Kính Điển 1592 1625
Khánh Vương không có không có Long Thái (1623–1638) Mạc Kính Khoan Cháu nội Mạc Kính Điển 1623 1638
Mạc Kính Vũ không có không có Thuận Đức (1638–1677) Mạc Kính Vũ
Mạc Kính Hoàn
Mạc Nguyên Thanh
Con Mạc Kính Khoan 1638 1677

Nam Triều - Nhà Hậu Lê - giai đoạn Lê Trung Hưng (1533-1788)

939 1533 1788 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
Lê Trang Tông[170] Trang Tông[171] Dụ Hoàng Đế[171] Nguyên Hòa (1533-1548)[171] Lê Ninh[171]
Lê Huyến[171]
Lê Duy Ninh[116]
Được cho là con Lê Chiêu Tông[171][172] 1533[171] 1548[171]
Lê Trung Tông Trung Tông[171] Vũ Hoàng Đế[171] Thuận Bình (1548-1556)[171] Lê Huyên[171]
Lê Duy Huyên[116]
Con Lê Trang Tông[171] 1548 1556[171]
Lê Anh Tông Anh Tông[171] Tuấn Hoàng Đế[171] Thiên Hựu (1556-1557)[171]
Chính trị (1558-1571)[171]
Hồng Phúc (1572-1573)[171]
Lê Duy Bang[171] Cháu 6 đời của Lê Trừ, anh Lê Thái Tổ[173] 1556 1573[171]
Lê Thế Tông[174] Thế Tông[167] Nghị Hoàng Đế[167] Gia Thái (1573-1577)[167]
Quang Hưng (1578-1599)[167]
Lê Đàm[175]
Lê Duy Đàm[167]
Con thứ năm Lê Anh Tông[167] 1573 1599[167]
Lê Kính Tông[176] Kính Tông[177] Huệ Hoàng Đế[177]
Giản Huy Đế[178]
Thận Đức (1600-1600)[177]
Hoằng Định (1601-1619)[177]
Lê Duy Tân[177] Con thứ Lê Thế Tông[177] 1599 1619[177]
Lê Thần Tông[179] Thần Tông[177] Uyên Hoàng Đế[177] Vĩnh Tộ (1620-1628)[177]
Đức Long (1629-1634)[177]
Dương Hoà (1635-1643)[177]
Lê Duy Kỳ[177] Con trưởng Lê Kính Tông[177] 1619 1643[177]
Lê Chân Tông Chân Tông[177] Thuận Hoàng Đế[177] Phúc Thái (1643-1649)[177] Lê Duy Hựu[177]
Lê Duy Đề[180]
Con trưởng Lê Thần Tông[177] 1643 1649[177]
Lê Thần Tông[179] Thần Tông[181] Uyên Hoàng Đế[181] Khánh Đức (1649-1652)[181]
Thịnh Đức (1653-1657)[181]
Vĩnh Thọ (1658-1661)[181]
Vạn Khánh (1662-1662)[181]
Lê Duy Kỳ[181] Làm vua lần 2[182] 1649 1662[181]
Lê Huyền Tông[183] Huyền Tông[184] Mục Hoàng Đế[184] Cảnh Trị (1663-1671)[184] Lê Duy Vũ[184]
Lê Duy Hy[180]
Con thứ Lê Thần Tông[184] 1663 1671[184]
Lê Gia Tông[185] Gia Tông[184] Mỹ Hoàng Đế[184] Dương Đức (1672-1673)[184]
Đức Nguyên (1674-1675)[184]
Lê Duy Cối[184]
Lê Duy Khoái[186]
Con thứ Lê Thần Tông[184] 1671 1675[184]
Lê Hy Tông[187] Hy Tông[188] Chương Hoàng Đế[188] Vĩnh Trị (1676-1680)[186]
Chính Hòa (1680-1705)[186]
Lê Duy Hợp[180]
Lê Duy Hiệp[186]
Lê Duy Cáp[184]
Con thứ tư Lê Thần Tông[184] 1675 1705[186]
Lê Dụ Tông[189] Dụ Tông[190] Hòa Hoàng Đế[190] Vĩnh Thịnh (1706-1719)[188]
Bảo Thái (1720-1729)[191]
Lê Duy Đường[191]
Lê Duy Tạo[180]
Con trưởng Lê Hy Tông[192] 1705 1729[191]
Lê Đế Duy Phường không có[191] Hôn Đức Công[118] Vĩnh Khánh (1729-1732)[191] Lê Duy Phường[191] Con thứ Lê Dụ Tông[191] 1729 1732[191]
Lê Thuần Tông[193] Thuần Tông[191] Giản Hoàng Đế[191] Long Đức (1732-1735)[191] Lê Duy Tường[191]
Lê Duy Hỗ[194]
Con trưởng Lê Dụ Tông[191] 1732 1735[191]
Lê Ý Tông[195] Ý Tông[196] Huy Hoàng Đế[196] Vĩnh Hựu (1735-1740)[197] Lê Duy Thận[190]
Lê Duy Chấn[198]
Lê Duy Hỗ[199]
Con thứ 11 Lê Dụ Tông[190] 1735 1740[197]
Lê Hiển Tông[200] Hiển Tông[201] Vĩnh Hoàng Đế[201] Cảnh Hưng (1740-1786)[201] Lê Duy Diêu[197]
Lê Duy Đào[180]
Con trưởng Lê Thuần Tông[197] 1740 1786[201]
Chinese officials receiving depossed Vietnamese Emperor Le Chieu Thong.jpg Lê Chiêu Thống[202] không có[180] Mẫn Hoàng Đế[203] Chiêu Thống (1786-1788)[204] Lê Duy Kỳ[204]
Lê Duy Khiêm[199]
Lê Tư Khiêm[180]
Con Lê Duy Vỹ, cháu đích tôn Lê Hiển Tông[204] 1786 1789[205]

Đàng Ngoài - Chúa Trịnh (1545-1787)

939 1545 1787 1945
Chân dung Tước hiệu Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu[206] Tên húy Thế thứ Trị vì
Trịnh Kiểm.png Trịnh Kiểm[207] Thế Tổ[163] Minh Khang Thái Vương[163] không có[163] Trịnh Kiểm[163] Con rể Nguyễn Kim[163] 1545[171] 1570[163]
Trịnh Cối[208] không có[163] Tuấn Đức Hầu
Trung Quốc Công[209]
không có[163] Trịnh Cối[163] Con cả Trịnh Kiểm[163] 1570 1570[163]
Trịnh Tùng.png Bình An Vương[210] Thành Tổ[211] Triết Vương[211] không có[211] Trịnh Tùng[211] Con thứ Trịnh Kiểm, chúa Trịnh đầu tiên[171] 1570 1623[212]
Trịnh Tráng.png Thanh Đô Vương[213] Văn Tổ[212] Nghị Vương[212] không có[212] Trịnh Tráng[212] Con thứ hai Trịnh Tùng[212] 1623 1652
Trịnh Tạc.png Tây Định Vương[214] Hoằng Tổ[182] Dương Vương[182] không có[182] Trịnh Tạc Con thứ hai Trịnh Tráng 1653 1682
Trịnh Căn.png Định Nam Vương Chiêu Tổ[182] Khang Vương[182] không có[182] Trịnh Căn Con trưởng Trịnh Tạc 1682 1709
Trịnh Cương.png An Đô Vương Hy Tổ[182] Nhân Vương[182] không có[182] Trịnh Cương Chắt của Trịnh Căn, cháu Trịnh Vịnh, con Trịnh Bình 1709 1729
Trịnh Giang.png Uy Nam Vương[215] Dụ Tổ[182] Thuận Vương[182] không có[182] Trịnh Giang[216]
Trịnh Khương[216]
Trịnh 𣞪[180]
Con trưởng Trịnh Cương[190] 1729 1740[197]
Trịnh Doanh.png Minh Đô Vương[217] Nghị Tổ[182] Ân Vương[182] không có[182] Trịnh Doanh[218] Con thứ Trịnh Cương, em Trịnh Giang[197] 1740 1767[218]
Trịnh Sâm.png Tĩnh Đô Vương[219] Thánh Tổ[182] Thịnh Vương[220] không có[220] Trịnh Sâm[220] Con trưởng Trịnh Doanh[218] 1767 1782[220]
Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán.png Điện Đô Vương[221] không có[220] Xung Mẫn Vương[222] không có[220] Trịnh Cán[220] Con thứ Trịnh Sâm[220] 1782 1782[220]
Trịnh Khải.png Đoan Nam Vương[223] không có[201] Anh Liệt Linh Vương[222] không có[201] Trịnh Khải[220]
Trịnh Tông[220]
Con trưởng Trịnh Sâm[220] 1782 1786[201]
Trịnh Bồng.png Án Đô Vương[224] không có[205] Huệ Định Công[225] không có[205] Trịnh Bồng[201] Con Trịnh Giang, anh họ Trịnh Sâm[201] 1786 1787[205]

Đàng Trong - Chúa Nguyễn (1558-1777)

939 1558 1777 1945
Chân dung Chúa Miếu hiệu[226] Thụy hiệu[227] Niên hiệu[206] Tên húy Thế thứ Trị vì
Tiên Vương[228] Liệt Tổ
Thái Tổ[229][230]
Triệu Cơ Tùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Hoàng Đế[229][231] không có[229] Nguyễn Hoàng[229] Con út Nguyễn Kim[229] 1558[232] 1613[229]
Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên ở Đàng Trong, thế kỷ 17.jpg Sãi Vương
Phật Vương[233]
Tuyên Tổ
Hy Tông[234][235]
Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng Đế[234][236] không có[234] Nguyễn Phúc Nguyên[234] Con trai thứ sáu Chúa Tiên[234] 1613 1635[234]
Thượng Vương Thần Tổ
Thần Tông[237][238]
Thừa Cơ Toàn Thống Quân Minh Hùng Nghị Uy Đoán Anh Vũ Hiếu Chiêu Hoàng Đế[237][239] không có[237] Nguyễn Phúc Lan[237] Con trai thứ hai Chúa Sãi[237] 1635 1648[237]
Hiền Vương Nghị Tổ
Thái Tông[240][241]
Tuyên Uy Kiến Vũ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết Hoàng Đế[240][242] không có[240] Nguyễn Phúc Tần[240]
Nguyễn Phúc Cần
Con trai thứ hai Chúa Thượng[240] 1648 1687[240]
Nghĩa Vương Anh Tông[243] Thiệu Hư Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Ôn Huệ Từ Tường Hiếu Nghĩa Hoàng Đế[243][244] không có[243] Nguyễn Phúc Thái
Nguyễn Phúc Trăn
Nguyễn Phúc Ngàn[243]
Con trai thứ hai Chúa Hiền[243] 1687 1691[243]
Minh Vương
Quốc Chúa
Hiển Tông[245] Anh Mô Hùng Lược Thánh Minh Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh Hoàng Đế[245][246] không có[245] Nguyễn Phúc Chu
Nguyễn Phúc Tùng[245]
Con trưởng Chúa Nghĩa[245] 1691 1725[245]
Ninh Vương Túc Tông[247] Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Vũ Hiếu Ninh Hoàng Đế[247][248] không có[247] Nguyễn Phúc Chú
Nguyễn Phúc Trú
Nguyễn Phúc Thụ
Nguyễn Phúc Vượng[247]
Con trưởng Chúa Minh[247] 1725 1738[247]
Vũ Vương[249] Thế Tông[250] Kiền Cương Uy Đoán Thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Vũ Hoàng Đế[250] không có[250] Nguyễn Phúc Khoát[250]
Nguyễn Phúc Hiểu
Con trưởng Chúa Ninh[250] 1738 1765[250]
Định Vương Duệ Tông[251] Thông Minh Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định Hoàng Đế[251] không có[251] Nguyễn Phúc Thuần[251]
Nguyễn Phúc Hân
Con trai thứ 16 Chúa Vũ[251] 1765 1776[251]
Tân Chính Vương
Thân Chính Vương[252]
không có[251] Cung Mẫn Anh Đoán Huyền Mặc Vĩ Văn Mục Vương[251][253] không có[251] Nguyễn Phúc Dương[251] Con Nguyễn Phúc Hiệu, cháu nội Chúa Vũ, em con chú với vua Gia Long[251] 1776 1777[251]

Niên biểu Lê Trung Hưng - Chúa Trịnh - Chúa Nguyễn

Timeline Lê Trung Hưng - Chúa Trịnh - Chúa Nguyễn PLY March 23.png

Nhà Tây Sơn (1778-1802)

939 1778 1802 1945
Chân dung Vua Miếu hiệu[254] Thụy hiệu[255] Niên hiệu Tên húy Thế thứ[254] Trị vì
NguyenNhac.jpg Thái Đức[255] không có Minh Đức Hoàng Đế[256] Thái Đức (1778-1788)[255] Hồ Nhạc[255]
Nguyễn Nhạc[254]
Nguyễn Văn Nhạc[257]
Sáng lập triều đại 1778[255] 1788[258]
Quang Trung statue 02.jpg Quang Trung[254] Thái Tổ Vũ hoàng đế[254] Quang Trung (1788-1792)[254] Nguyễn Huệ[254]
Nguyễn Quang Bình[254]
Nguyễn Văn Huệ[257]
Hồ Thơm[255]
Em Thái Đức, con rể Lê Hiển Tông 1788 1792[254]
Cảnh Thịnh[254] không có không có[254] Cảnh Thịnh (1792-1801)[254]
Bảo Hưng (1801-1802)[254]
Nguyễn Quang Toản[254]
Nguyễn Trát[255]
Con thứ Quang Trung, con rể Lê Hiển Tông 1792 1802[254]

Thời kỳ tái thống nhất và Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Nguyễn (1802-1945)

939 1802 1945
Chân dung Hoàng đế Miếu hiệu Thụy hiệu Niên hiệu Tên húy Thế thứ Trị vì
GiaLong.jpg Gia Long[259] Thế Tổ[259] Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thùy Thống Thần Văn Thánh Vũ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao Hoàng Đế[259] Gia Long (1802-1820)[259] Nguyễn Phúc Ánh[260]
Nguyễn Phúc Chủng[260]
Nguyễn Phúc Noãn[260]
Sáng lập triều đại. Con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân, cháu nội Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, con rể Lê Hiển Tông[260] 1802[261] 1820[259]
Minh Mang.gif Minh Mạng[262] Thánh Tổ[262] Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoán Sáng Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân Hoàng Đế[262] Minh Mạng (1820-1841)[262] Nguyễn Phúc Đảm[263]
Nguyễn Phúc Kiểu[263]
Con thứ tư Gia Long[263] 1820 1841[262]
Thiệu Trị[264] Hiến Tổ[264] Thiệu Thiên Long Vận Chí Thiện Thuần Hiếu Khoan Minh Duệ Đoán Văn Trị Vũ Công Thánh Triết Chương Hoàng Đế[264] Thiệu Trị (1841-1847)[264] Nguyễn Phúc Miên Tông[265]
Nguyễn Phúc Tuyền[265]
Nguyễn Phúc Dung[265]
Con trưởng Minh Mạng[265] 1841 1847[264]
Vua Tu Duc.jpg Tự Đức[266] Dực Tông[266] Thể Thiên Hanh Vận Chí Thành Đạt Hiếu Thể Kiện Đôn Nhân Khiêm Cung Minh Lược Duệ Văn Anh Hoàng Đế[266] Tự Đức (1847-1883)[266] Nguyễn Phúc Hồng Nhậm[267]
Nguyễn Phúc Thì[267]
Con thứ Thiệu Trị[267] 1847 1883[266]
Dục Đức[268] Cung Tông[269] Huệ Hoàng Đế[269] không có[270] Nguyễn Phúc Ưng Chân[270]
Nguyễn Phúc Ưng Ái[270]
Con thứ Nguyễn Phúc Hồng Y, cháu nội Thiệu Trị, con nuôi Tự Đức[270] 1883 1883[270]
Hiep Hoa.jpg Hiệp Hòa[270] không có[270] Phế Đế[69][271] Hiệp Hòa (1883)[270] Nguyễn Phúc Hồng Dật[270]
Nguyễn Phúc Thăng[270]
Con thứ 29 Thiệu Trị[270] 1883 1883[270]
Vua Kien Phuc.jpg Kiến Phúc[272] Giản Tông[273] Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ Nghị Hoàng Đế[273] Kiến Phúc (1883-1884)[272] Nguyễn Phúc Ưng Đăng[272] Con thứ Nguyễn Phúc Hồng Cai, cháu nội Thiệu Trị[272] 1883 1884[273]
Vua Ham Nghi.jpg Hàm Nghi[273] không có[273] Xuất Hoàng Đế[274] Hàm Nghi (1884-1885)[275] Nguyễn Phúc Ưng Lịch[273]
Nguyễn Phúc Minh[273]
Em trai Kiến Phúc[273] 1884 1885[275]
DongKhanh.jpg Đồng Khánh[276] Cảnh Tông[277] Hoằng Liệt Thống Thiết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế[277] Đồng Khánh (1885-1889)[277] Nguyễn Phúc Ưng Kỷ[276]
Nguyễn Phúc Ưng Đường[276]
Nguyễn Phúc Ưng Thị[276]
Nguyễn Phúc Biện[276]
Chánh Mông[278]
Con trưởng Nguyễn Phúc Hồng Cai, anh Kiến Phúc, Hàm Nghi[276] 1885 1889[277]
Vua Thanh Thai.jpg Thành Thái[279] không có[280] Phế Đế[69][281] Thành Thái (1889-1907)[280] Nguyễn Phúc Bửu Lân[279]
Nguyễn Phúc Chiêu[279]
Con Dục Đức[279] 1889 1907[280]
Vua Duy Tan nho.jpg Duy Tân[282] không có[283] Phế Đế[69][281] Duy Tân (1907-1916)[283] Nguyễn Phúc Vĩnh San[282]
Nguyễn Phúc Hoảng[282]
Con thứ Thành Thái[282] 1907 1916[283]
Roi-Khai-Dinh.jpg Khải Định[284] Hoằng Tông[285] Tự Đại Gia Vận Thánh Minh Thần Trí Nhân Hiếu Thành Kính Di Mô Thừa Liệt Tuyên Hoàng Đế[285] Khải Định (1916-1925)[285] Nguyễn Phúc Bửu Đảo[284]
Nguyễn Phúc Tuấn[284]
Con trưởng Đồng Khánh[284] 1916 1925[285]
BaoDai o Paris.jpg Bảo Đại[286] không có[287] không có[287] Bảo Đại (1925-1945)[287] Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy[287]
Nguyễn Phúc Thiển[287]
Con Khải Định[287] 1925 1945[288]

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thái thượng hoàng

Thái thượng hoàng có nghĩa là: vua cha bề trên, có trường hợp chỉ gọi là: thượng hoàng để có nghĩa rộng hơn (vua bề trên).

Tùy từng hoàn cảnh lịch sử, thực quyền của thượng hoàng khác nhau. Thượng hoàng có thể giao toàn quyền cho vua hoặc vẫn nắm quyền chi phối việc triều chính; hoặc có thể thượng hoàng chỉ mang danh nghĩa, có những vị không ở ngôi vua ngày nào nhưng do có con làm vua nên cũng được tôn xưng là Thái thượng hoàng. Đối với các vị chúa, khi nhường ngôi sẽ được tôn xưng là Thái thượng vương.

Thông thường thượng hoàng là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông, Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế; Thượng hoàng Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông, Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông; Thượng hoàng Lê Ý Tông là chú của vua Lê Hiển Tông.

Ngoài 7 Thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Hồ Quý Ly, Mạc Thái Tổ, các Thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm Thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều. Trong lịch sử Việt Nam, duy nhất có trường hợp Thái thượng hoàng, vua, Thái thượng vương và chúa cùng tồn tại trong khoảng 20 năm giai đoạn Cảnh Hưng cuối thời Hậu Lê. Đó là: Thái thượng hoàng Lê Ý Tông (1740-1759)...vua Lê Hiển Tông (1740-1786)...Thái thượng vương Trịnh Dụ Tổ (1740-1762)...chúa Trịnh Nghị Tổ (1740-1767). Dưới đây là bảng thống kê các con số cụ thể về Thái thượng hoàng và Thái thượng vương:

  1. Thái thượng hoàng đầu tiên: Sùng Hiền Hầu (1129-1130)[100]
  2. Thái thượng hoàng chưa từng làm vua có 2 vị: Sùng Hiền Hầu (1129-1130) được tôn xưng vì có con là Lý Thần Tông làm vua[100]...Trần Thái Tổ (1225-1234) được tôn xưng bởi con là Trần Thái Tông làm vua[104]
  3. Thái thượng hoàng bị phế truất: Lý Huệ Tông (1224-1226)[104]
  4. Thái thượng hoàng tu hành thời gian lâu nhất: Trần Nhân Tông (1294-1308) 15 năm[289]
  5. Thái thượng hoàng giữ ngôi lâu nhất: Trần Minh Tông (1329-1357) 29 năm[112]
  6. Thái thượng hoàng duy nhất cầm quyền qua 3 đời vua: Trần Nghệ Tông (1372-1394)...các vua: Trần Duệ Tông, Trần Phế ĐếTrần Thuận Tông[120]
  7. Thái thượng hoàng thọ nhất khi tại vị: Trần Nghệ Tông (1321-1394) thọ 73 tuổi[120]
  8. Thái thượng hoàng yểu mệnh nhất khi tại vị: Trần Thuận Tông (1377-1399) thọ 22 tuổi[120]
  9. Thái thượng hoàng bị bức tử: Trần Thuận Tông (1398-1399)[120]
  10. Thái thượng hoàng lên ngôi nhiều tuổi nhất: Hồ Quý Ly (1336-1407) làm Thái thượng hoàng năm 65 tuổi (1401)[120]
  11. Thái thượng hoàng bị bắt làm tù binh có 2 vị: Hồ Quý Ly (1401-1407)[120] và Trần Giản Định Đế (1409)[127]...đều bị quân Minh giải sang Trung Quốc[290]
  12. Thái thượng hoàng giữ ngôi ngắn nhất được 4 tháng: Trần Giản Định Đế (1409)[127]
  13. Thái thượng hoàng duy nhất sau thời gian ở ngôi trở lại làm vua: Lê Thần Tông (1643-1649)[182]
  14. Thái thượng hoàng lên ngôi ít tuổi nhất có 2 vị: Trần Thuận Tông (1398-1399)[120] và Lê Ý Tông (1740-1759)[197] đều làm Thái thượng hoàng năm 21 tuổi
  15. Thái thượng hoàng cuối cùng: Lê Ý Tông (1740-1759)[197]
  16. Thái thượng vương có 2 vị: Trịnh Dụ Tổ (1740-1762)[197]Nguyễn Duệ Tông (1776-1777)[251]

Quê hương và kinh đô các triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Người sáng lập Quê hương Kinh đô
Hồng Bàng thị Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương núi Ngũ Lĩnh[291]- Trung Quốc (nơi sinh)[1]
Khương Thuỷ - Tứ Xuyên, Trung Quốc (quê tổ)[292]
Kinh Dương Vương đóng đô ở Ngàn Hống (nay là núi Hồng Lĩnh huyện Can Lộc - Hà Tĩnh)[293]
Lạc Long Quân dời đô đến Nghĩa Lĩnh (nay thuộc tỉnh Phúc Thọ)[294]
Hùng Vương thứ nhất định đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc - Phú Thọ)[1]
Nhà Thục Thục Phán, tức An Dương Vương Bồn địa Tứ Xuyên, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc[1]
(đang tranh cãi)[295]
Phong Khê (nay là thành Cổ Loa huyện Đông Anh thủ đô Hà Nội)[1]
Nhà Triệu Triệu Đà, tức Triệu Vũ Đế huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc[17] Cung điện Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc)[17]
Họ Trưng Trưng Trắc, tức Trưng Nữ Vương Phong Châu (nay thuộc huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội)[25] huyện Mê Linh, Hà Nội[25]
Nhà Tiền Lý Lý Bí, tức Lý Nam Đế thôn Cổ Pháp xã Tiên Phong huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nơi sinh)[296]
(đang tranh cãi)[297]
Trung Quốc (quê tổ)[298]
Long Uyên (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội hoặc Bắc Ninh)[299]
Họ Triệu Triệu Quang Phục, tức Triệu Việt Vương (xen giữa Tiền Lý Nam Đế và Hậu Lý Nam Đế) huyện Chu Diên, nay nằm ở phía đông Hà Nội (hiện thuộc phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây)[30] Long Uyên (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội hoặc Bắc Ninh)...sau dời sang Vũ Ninh (nay là huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh)[28]
Họ Mai Mai Thúc Loan, tức Mai Hắc Đế làng Hương Lãm huyện Nam Đường (nay là thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An)[300][301] Vạn An (nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An)[300]
Họ Phùng Phùng Hưng, tức Bố Cái Đại Vương thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội[302]
(đang tranh cãi)[303]
Tống Bình (nay thuộc Hà Nội)[300]
Họ Khúc Khúc Thừa Dụ, tức Khúc Tiên Chủ Hồng Châu, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương[53] Đại La (nay thuộc Hà Nội)[53]
Họ Dương Dương Đình Nghệ, tức Dương Chính Công (giai đoạn tự chủ)
Dương Tam Kha, tức Dương Bình Vương (xen giữa Tiền Ngô Vương và Hậu Ngô Vương)
Ái Châu (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa)[56] Dương Đình Nghệ đóng đô ở Đại La (nay thuộc Hà Nội)[56] còn Dương Tam Kha đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh - Hà Nội)[56]
Họ Kiều Kiều Công Tiễn Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ)[56] Đại La (nay thuộc Hà Nội)[56]
Nhà Ngô Ngô Quyền, tức Tiền Ngô Vương thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội[56]
(đang tranh cãi)[304]
Cổ Loa (huyện Đông Anh - Hà Nội)[56]
Nhà Đinh Đinh Bộ Lĩnh, tức Đinh Tiên Hoàng động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình)[72] Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình)[72]
Nhà Tiền Lê Lê Hoàn, tức Lê Đại Hành huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
(đang tranh cãi)[305]
Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình)[72]
Nhà Lý Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh[306] Thăng Long (Hà Nội)[307]
Nhà Trần Trần Thủ Độ (người sáng lập thực tế)
Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông (hoàng đế đầu tiên)
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nơi sinh)
thành phố Quế Lâm, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây - Trung Quốc (quê tổ)[104][308]
Thăng Long (Hà Nội)[309]
Nhà Hồ Hồ Quý Ly huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nơi sinh)[310]
tỉnh Chiết Giang - Trung Quốc (quê tổ)[120]
Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hoá)[120]
Nhà Hậu Trần Trần Ngỗi, tức Giản Định Đế thành phố Hà Nội (nơi sinh)[127]
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (quê tổ)[104]
Mô Độ (huyện Yên Mô - Ninh Bình[127]
Nhà Hậu Lê Lê Lợi, tức Lê Thái Tổ (giai đoạn Lê sơ)
Lê Duy Ninh, tức Lê Trang Tông (giai đoạn Lê trung hưng)
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa[129] Đông Kinh (Hà Nội)[311]
Nhà Mạc Mạc Đăng Dung, tức Mạc Thái Tổ huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nơi sinh)[145]
huyện Chí Linh - Hải Dương (quê tổ)[312]
Đông Kinh (Hà Nội)[313]
Chúa Trịnh Trịnh Kiểm (tức Trịnh Thế Tổ - người sáng lập thực tế)
Trịnh Tùng (tức Trịnh Thành Tổ - chúa Trịnh chính thức đầu tiên)
huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa[171] Đông Kinh (Hà Nội)[314]
Chúa Nguyễn Nguyễn Kim (tức Nguyễn Triệu Tổ - người sáng lập thực tế)
Nguyễn Hoàng (tức Nguyễn Thái Tổ - chúa Nguyễn chính thức đầu tiên)
làng Gia Miêu huyện Tống Sơn - Thanh Hoa (nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa)[229] Phú Xuân (thành phố Huế - tỉnh Thừa Thiên-Huế)[229]
Nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc, tức Thái Đức Đế huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (nơi sinh)[255]
huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (quê tổ)[255]
Quy Nhơn (thị xã An Nhơn - Bình Định)[315]
Nhà Nguyễn Nguyễn Ánh, tức Nguyễn Thế Tổ thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế (nơi sinh)[260]
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (quê tổ)[229]
Huế (thành phố Huế - tỉnh Thừa Thiên-Huế)[316]

Thống kê các con số cụ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Về các vua

  1. Vua đầu tiên theo huyền sử: Kinh Dương Vương[7]
  2. Vua nữ có 2 vị: Trưng Nữ Vương[25]Lý Chiêu Hoàng[100]
  3. Vua tự sát do mất nước có 2 vị: An Dương Vương[7]Triệu Việt Vương[28]
  4. Vua có nhiều con làm vua nhất có 2 vị: Trần Minh Tông (cha của Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông...và Lê Thần Tông (cha của Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông)
  5. Vua có niên hiệu sử dụng lâu nhất: Lê Hiển Tông (1740-1786) niên hiệu Cảnh Hưng 47 năm[317]
  6. Vua có nhiều con rể làm vua nhất: Lê Hiển Tông (Tây Sơn Thái Tổ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, Nguyễn Quang Toản lấy công chúa Lê Ngọc BìnhNguyễn Thế Tổ cũng lấy công chúa Lê Ngọc Bình)[318]
  7. Vua có nhiều loại tiền mang niên hiệu nhất: Lê Hiển Tông (16 loại tiền Cảnh Hưng)[319]
  8. Vua ở ngôi lâu nhất: Nếu tính nhà Triệu là chính thống thì: Nam Việt Vũ Vương (207-137 TCN) 71 năm[17]...còn coi nhà Triệu là ngoại xâm thì: Lý Nhân Tông (1072 - 1127) 56 năm[320]
  9. Vua sống thọ nhất khi tại vị: Nếu tính nhà Triệu là chính thống thì: Nam Việt Vũ Vương (257 TCN - 137 TCN) 120 tuổi[17]...còn coi nhà Triệu là ngoại xâm thì: Nguyễn Thái Tổ (1525 - 1613) 88 tuổi[320]
  10. Vua ở ngôi ngắn nhất có 3 ngày: Lê Trung Tông (1006)[72]...Lê Quang Trị (1516)[145]...Nguyễn Dục Đức (1883)[270]
  11. Vua mất ngôi khi ít tuổi nhất: Trần Thiếu Đế (1396 - ?) mất ngôi năm 1400, lúc đó 4 tuổi[120]
  12. Vua lên ngôi già nhất: Hồ Quý Ly (1336–1407) đăng cơ năm 1400, lúc đó 64 tuổi[120]
  13. Vua lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông (1441–1459) đăng cơ năm 1442, lúc đó 1 tuổi
  14. Vua yểu mệnh nhất khi đang tại vị: Nếu coi nhà Triệu là chính thống thì Triệu Hưng (117 TCN-112 TCN) tức Triệu Ai Vương (113 TCN-112 TCN) thọ 5 tuổi[17]...còn coi nhà Triệu là ngoại xâm thì Lê Duy Cối (1661-1675) tức Lê Gia Tông (1671-1675) thọ 14 tuổi
  15. Vua qua đời sớm nhất sau khi mất ngôi có 3 vị: Trần Phế Đế (1377-1388)[120]...Lê Quang Trị (1516)[145]...Điện Đô Vương (1782)[220]...đều mất sau khi bị phế truất khoảng 20 ngày[321]
  16. Vua qua đời sau khi mất ngôi ít tuổi nhất: Điện Đô Vương (1777-1782) thọ 5 tuổi[220]
  17. Vua thọ nhất sau khi thoái vị: Nguyễn Bảo Đại (1913-1997) thọ 84 tuổi[322]
  18. Vua qua đời sau khi mất ngôi thời gian lâu nhất: Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) mất năm 1278, sau khi thoái vị 53 năm[104]
  19. Vua cuối cùng: Nguyễn Bảo Đại (thoái vị năm 1945)[322]

Về các triều đại

  1. Triều đại mơ hồ nhất: Hồng Bàng thị (trong truyền thuyết)[1]
  2. Triều đại có cương vực rộng nhất: nhà Triệu (nếu coi triều đại này là chính thống) và nhà Nguyễn (thời Minh Mạng)[323]
  3. Triều đại chỉ có 1 đời vua: nhà Thục, Trưng Vương, Triệu Việt Vương, Dương Đình Nghệ, Kiều Công TiễnDương Tam Kha
  4. Triều đại gây nhiều tranh cãi nhất: nhà Triệu (ngoại thuộc hay nội trị)
  5. Triều đại tồn tại ngắn nhất: Họ Kiều (938) 1 năm[56]
  6. Triều đại có nhiều Thái thượng hoàng nhất: nhà Trần - tính cả Hậu Trần (9 vị)[324]
  7. Triều đại truyền nhiều đời vua nhất: nhà Hậu Lê (30 vị)[325]
  8. Triều đại xảy ra đảo chính sát hại vua nhiều nhất: nhà Lê sơ (10/14)[326]
  9. Triều đại hữu danh vô thực: nhà Lê trung hưng (tất cả các vua đều hư vị)
  10. Triều đại danh nghĩa là bề tôi nhưng thực tế nắm giữ quyền lực: chúa Trịnhchúa Nguyễn (Trịnh-Nguyễn phân tranh)[327]
  11. Triều đại tồn tại lâu nhất: chúa Nguyễn - nhà Nguyễn (1558-1945) 487 năm[328]
  12. Triều đại truyền qua nhiều thế hệ nhất: chúa Nguyễn - nhà Nguyễn (16 thế hệ)[329]
  13. Triều đại duy nhất không gọi theo họ nhà vua: nhà Tây Sơn (tên gọi theo nơi phát tích)[254]
  14. Triều đại có nhiều vua bị bắt đi đày ở nước ngoài nhất: nhà Nguyễn (Hàm Nghi, Thành TháiDuy Tân)[330]
  15. Triều đại cuối cùng: nhà Nguyễn (kết thúc năm 1945)[322]

Những chính thể tự trị và ly khai[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài những triều đại chính thống, trong lịch sử Việt Nam còn xuất hiện những chính quyền tự chủ và tự lập. Họ là những triều đại không chính thức, có khi chỉ là 1 viên quan địa phương nổi lên hình thành thế lực cát cứ, hoặc là những người dân thường dựng cờ khởi nghĩa, thậm chí là các vương tôn hoàng thân quốc thích tranh chấp ngai vàng trong hoàng tộc nên tạo phản. Vì chính quyền của họ chưa thực sự vững mạnh hoặc chưa đủ điều kiện để thiết lập nên triều đại nên họ chỉ bị coi là giặc cỏ, là quân phiệt cát cứ, hay là quyền thần thế tập nhưng sự tồn tại của họ cũng là một nhân tố không thể thiếu trong dòng chảy lịch sử. Cũng có người đã xưng đế xưng vương đặt ra quốc hiệu, cũng có kẻ xưng công hầu khanh tướng, có người mới chỉ làm thủ lĩnh một vùng nhưng trên thực tế họ ít nhiều đã nắm quyền hành cai quản đất nước hoặc những khu vực địa lý nhất định chẳng khác gì một vương quốc độc lập. Ngoài ra còn có những khu vực tự trị của dân tộc thiểu số do các lãnh chúa người bản xứ cai trị, tuy danh nghĩa là thuần phục triều đình trung ương nhưng trên thực tế họ cũng có bộ máy cai trị và luật lệ riêng.

Vua các quốc gia cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vua Chăm Pa

Ngoài những triều đại của người Kinh ra, trên dải đất Việt Nam hiện tại còn tồn tại nhiều quốc gia cổ đại do người dân tộc thiểu số sáng lập ra như các triều đại Chăm Pa: Hồ Tôn Tinh, Việt Thường thị, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, Panduranga-Chăm Pa, Thuận Thành trấn. Các tiểu quốc của người thiểu số ở Tây Nguyên: Thủy Xá - Hỏa Xá, Tiểu quốc J'rai, Tiểu quốc Mạ, Tiểu quốc Adham... Những quốc gia này cũng có vị trí rất quan trọng trên vũ đài chính trị, và họ cũng tranh đấu với các triều đại người Việt suốt hàng ngàn năm, cuối cùng họ bị đồng hóa. Họ có nền văn hóa và bản sắc dân tộc riêng không ảnh hưởng gì đến nền văn minh Trung Hoa, bởi lãnh thổ của họ đã hoàn toàn thuộc về Việt Nam nên vua của họ cũng cần được xem là một phần lịch sử Việt Nam. Rất tiếc, ngoại trừ vương quốc Chăm Pa, các tiểu quốc khác do sử liệu không nhiều nên thông tin về các vị vua hầu như không có nên không thể lập danh sách riêng.

Ngoài ra còn có trường hợp Phù Nam và Thủy Chân Lạp ở Nam Bộ nhưng vùng đó chỉ là một phần lãnh thổ của hai đế chế này, do đó không hẳn vua của hai chính thể đó là vua Việt Nam mà chỉ có mối liên đới nhất định mà thôi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thư tịch Trung Quốc

Thư tịch Việt Nam

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển 1: Hồng Bàng thị và An Dương Vương
  2. ^ a ă â b c d đ e Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, kỷ nhà Triệu
  3. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Lê Đại Hành lúc đầu được nhà Tống phong An Nam Đô Hộ Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ Kinh Triệu Quận Hầu, sau thăng làm Nam Bình Vương. Lê Ngọa Triều mới được phong ngay làm Giao Chỉ Quận Vương
  4. ^ Lý Thái Tổ được nhà Tống phong Giao Chỉ Quận Vương lĩnh Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ, từ Lý Thái Tông đến Lý Thần Tông thì chỉ phong Giao Chỉ Quận Vương
  5. ^ Lý Anh Tông lúc đầu được thụ phong Giao Chỉ Quận Vương, đến năm 1164 mới cải phong là An Nam Quốc Vương
  6. ^ Mạc Đăng Dung được nhà Minh phong làm An Nam Đô Thống Sứ nhưng chưa kịp lĩnh ấn thì mất, cháu nội là Mạc Phúc Hải mới chính thức giữ chức vụ này
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Tiền biên, quyển thứ nhất
  8. ^ Kinh Dương Vương không phải thụy hiệu, do vị vua này được vua cha Đế Minh phong ở Kinh Châu và Dương Châu nên lấy đó làm vương hiệu
  9. ^ Niên đại này căn cứ theo các thư tịch xưa vì là năm đầu tiên ngang hàng với Đế Nghi của Thần Nông thị, gần đây qua khảo cổ học xác định có thể Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân là liên minh nhiều bộ lạc thay phiên nhau truyền nối qua nhiều đời chớ không phải chỉ là một nhân vật như trong huyền sử
  10. ^ Lạc Long Quân không phải thụy hiệu, do làm thủ lĩnh của người Lạc Việt cộng thêm truyền thuyết tiên rồng nên người đời sau lấy đó truy tôn làm vương hiệu
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Hùng Vương không phải thụy hiệu, Hùng là họ Vương là vua...thụy hiệu là những chữ đặt giữa hai chữ này, trong "Thế thứ các triều vua Việt Nam" của Nguyễn Khắc Thuần căn cứ Ngọc phả ở đền Hùng có ghi chép lại đầy đủ các thụy hiệu của những vị vua này
  12. ^ Theo sách Đại Việt sử lược thì đời Chu Trang Vương (696 TCN-682 TCN) có người ở bộ Gia Ninh có dị nhân dùng xảo thuật thu phục các bộ lạc khác, tự xưng là Hùng Vương
  13. ^ Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Thị Mỹ Dung, Trần Túy Anh, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2011. Trang 125
  14. ^ Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008. Trang 47.
  15. ^ Huyền tích chuyện tình Lang Liêu - Ngọc Tiêu
  16. ^ An Dương Vương không phải thụy hiệu, theo cổ sử thì sau khi Thục Phán lấy nước của Hùng Vương đã tự xưng là An Dương Vương
  17. ^ a ă â b c d đ e Sử ký, Nam Việt uý Đà liệt truyện
  18. ^ Triệu Đà tự Bá Uy, đương thời tự xưng là Nam Hải lão phu
  19. ^ Ban đầu Triệu Đà xưng vương, sau khi Hán Cao Tổ băng hà thì xưng đế. Tuy nhiên, nhà Hán sai Lục Giả sang chiêu dụ nên Triệu Đà đã bỏ đế hiệu, đến đời Trần mới truy thụy hiệu cho ông là Khai Thiên Thể Đạo Thánh Vũ Thần Triết Hoàng Đế
  20. ^ Đối với nhà Hán, Triệu Hồ xưng vương nhưng gần đây ngành khảo cổ học tìm thấy trong lăng mộ của vị vua này có con dấu gọi là "văn đế hành tỷ", như vậy trong nước Triệu Mạt cũng tự xưng đế
  21. ^ “Hoài niệm lịch sử”. 16 tháng 7 năm 2014. 
  22. ^ Thuật Dương vương, Vệ Dương vương hay Vệ dương hầu thực ra đều không phải thụy hiệu, chỉ là tước hiệu của vị vua này
  23. ^ Việt sử tiêu án, Ngoại thuộc - nhà Triệu
  24. ^ Hán thư, Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện
  25. ^ a ă â b c d đ e Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển III - Trưng Nữ Vương
  26. ^ a ă Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Tiền biên quyển II
  27. ^ Tôn hiệu này của Trưng Trắc do vua Lý Anh Tông truy tặng, đến đời vua Trần Anh Tông tái truy tặng thêm tôn hiệu nữa là Uy Liệt Thuần Trinh Phu Nhân
  28. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển IV - kỷ nhà Tiền Lý
  29. ^ Nam Việt Đế không phải thụy hiệu, là Lý Bí tự xưng đế hiệu trong thời gian trị vì, sử sách thường gọi là Lý Nam Đế
  30. ^ a ă â b c d đ e Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên - quyển 4
  31. ^ Triệu Việt Vương được Lý Nam Đế trao toàn bộ quyền hành trong tình cảnh bị quân Lương truy kích đến đường cùng, do ông là người khác họ nên sử sách thường tách thành một triều đại riêng biệt xen kẽ giữa Tiền Lý Nam Đế và Hậu Lý Nam Đế
  32. ^ Triệu Việt Vương không có thụy hiệu, Nam Việt Quốc Vương là do ông tự xưng, còn Dạ Trạch Vương là do nhân dân tôn xưng bởi ông đóng quân ở đầm Dạ Trạch mà cầm cự rồi đánh đuổi được quân Lương. Sau này vua Trần Nhân Tông truy tặng ông là Minh Đạo Khai Cơ Hoàng Đế, đến vua Trần Anh Tông gia phong thêm 4 chữ Thánh Liệt Thần Vũ
  33. ^ Sau khi Lý Bí mất, quyền hành giao cho Triệu Quang Phục. Người anh ruột của ông là Lý Thiên Bảo không phục đã tự lập, xưng Đào Lang Vương, đặt quốc hiệu là Dã Năng ở phía nam nước Vạn Xuân
  34. ^ Lý Thiên Bảo bị quân Lương đánh bại chạy đến Dã Năng lập quốc gia riêng, do không có con nối nên dân chúng lập người trong họ là Lý Phật Tử kế vị
  35. ^ Nam Đế không phải thụy hiệu, vì Lý Phật Tử cho rằng mình là người kế tục sự nghiệp của Lý Nam Đế nên mới tự xưng như vậy. Đời vua Trần Nhân Tông sách phong Anh Liệt Trọng Uy Nhân Hiếu Hoàng Đế, đến đời vua Trần Minh Tông lại gia tặng bốn chữ Khâm Minh Thánh Vũ
  36. ^ Năm 555, Lý Phật Tử nối ngôi Lý Thiên Bảo làm vua nước Dã Năng. Đến năm 571, đánh bại Triệu Việt Vương sát nhập hai quốc gia làm một mối
  37. ^ Trong các sử sách chính thống không nhắc tới vị vua này, tuy nhiên Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên lại nói sau khi Hậu Lý Nam Đế băng hà, con là Sư Lợi kế vị được vài năm thì bị tướng Lưu Phương của nhà Tùy đánh bại
  38. ^ a ă â b c Việt điện u linh tập, Hậu Lý Nam Đế
  39. ^ a ă â b c d đ e Đại Việt sử kỷ toàn thư, quyển V - kỷ thuộc Tuỳ Đường
  40. ^ Hắc Đế và Đại Đế đều không phải thụy hiệu, Hắc Đế do Mai Thúc Loan tự xưng bởi ông mệnh Thuỷ cộng với yếu tố nước da đen, Đại Đế do người đời tôn xưng
  41. ^ Cựu Đường thư, Dương Tư Húc truyện
  42. ^ Tân Đường thư, Dương Tư Húc truyện
  43. ^ Tư trị thông giám, quyển 212
  44. ^ Theo sách Tân Đính Hiệu Bình Việt Điện U Linh thì tên thật của Mai Đại Đế là Mai Phượng, Thúc Loan chỉ là tên tự
  45. ^ Theo Tân Đường thư, Dương Tư Húc truyện thì khoảng năm Khai Nguyên (713-741) có tướng giặc là Mai Thúc Loan ở Giao Châu làm loạn tự xưng Hắc Đế, tuy nhiên không rõ chính xác năm nào
  46. ^ a ă Mai Thiếu Đế và Bạch Đầu Đế là 2 nhân vật không có trong chính sử, theo truyền thuyết dân gian sau khi Mai Hắc Đế bại trận thì 2 người con là Mai Thiếu Đế và Bạch Đầu Đế lần lượt lên thay thế nhưng chỉ được ít lâu thì bị quân Đường đánh bại
  47. ^ Khai mạc Lễ hội Vua Mai năm 2017
  48. ^ Thăm đình Nhu Thượng, khám phá nét kiến trúc thế kỷ 19
  49. ^ Phùng Hưng chỉ xưng là Đô Quân, tuy nhiên vì là khởi nghĩa chống nhà Đường và thực tế đã cầm quyền trị nước một thời gian nên cũng được xếp vào hàng vua Việt Nam
  50. ^ Bố Cái Đại vương không phải thụy hiệu, là tôn hiệu do Phùng An truy tôn sau khi cha mất, đời nhà Trần truy tặng thêm mấy chữ Phù Hữu Chương Tín Sùng Nghĩa
  51. ^ Phùng Hưng nổi dậy khoảng những năm Đại Lịch (766-779) nhưng còn phải giằng co chiến sự với Cao Chính Bình trong thời gian dài, đến khi giành được chính quyền thì ở ngôi chưa được bao lâu đã mất
  52. ^ Sau khi Phùng Hưng mất, em là Phùng Hải và con là Phùng An chống phá lẫn nhau, sau đó Phùng An đánh bại Phùng Hải và được lập làm Đô Phủ Quân
  53. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v Khâm định việt sử thông giám cương mục, Tiền biên - quyển V
  54. ^ a ă â b c Các nhà lãnh đạo họ Khúc, họ Dương và họ Kiều chỉ xưng Tiết độ sứ chứ không xưng vương xưng đế, do đó không được xem là vua. Tuy nhiên, họ có trách nhiệm như một vị vua, do đó cũng được xếp trong danh sách vua Việt Nam
  55. ^ a ă â Những tôn hiệu này đều do nhà bác học Lê Quý Đôn viết sách Vân Đại loại ngữ chua vào, đương thời các Tiết độ sứ họ Khúc trên danh nghĩa vẫn chỉ là quan lại đứng đầu phiên chấn thời Ngũ Đại
  56. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5 - kỷ Nam Bắc phân tranh
  57. ^ a ă Tân Ngũ Đại sử, Nam Hán thế gia
  58. ^ a ă Cựu Ngũ Đại sử, Nam Hán thế gia
  59. ^ Dương Tam Kha là vị vua xen giữa Tiền Ngô Vương và Hậu Ngô Vương, sử sách ngày xưa không công nhận là vua chính thống nhà Ngô
  60. ^ Trương Dương Công không phải thụy hiệu, là tước hiệu sau khi Dương Tam Kha bị Nam Tấn Vương phế truất giáng xuống
  61. ^ Đại Việt sử lược, quyển 1
  62. ^ a ă Tống sử, An Nam truyện
  63. ^ a ă Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương trên lịch sử gọi là Hậu Ngô Vương, đây là trường hợp hy hữu trong lịch sử bởi một triều đại có 2 vị vua đồng trị vì
  64. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển VI
  65. ^ Đinh Bộ Lĩnh ở trong nước tự xưng Hoàng Đế đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, nhà Tống phong làm Giao Chỉ quận vương chính thức xác lập nền quân chủ Việt Nam
  66. ^ Tiên Hoàng Đế là tôn hiệu do Lê Văn Hưu truy tặng trong bộ Đại Việt sử ký, không phải là thụy hiệu, đương thời Đinh Tiên Hoàng được bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế
  67. ^ Bộ Lĩnh chỉ là chức vụ do sứ quân Trần Lãm phong tặng, theo Đại Việt sử lược ghi chép thì tên thật của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Hoàn
  68. ^ Sau khi mất ngôi, Đinh Toàn bị Lê Đại Hành giáng xuống làm Vệ Vương
  69. ^ a ă â b c Phế đế không phải thụy hiệu, là tôn hiệu do các sử gia chua vào khi viết về các vị vua bị phế truất
  70. ^ a ă â Dùng tiếp niên hiệu cũ
  71. ^ Việt Nam sử lược, quyển 1 - phần 3 - chương II
  72. ^ a ă â b c d đ Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư, quyển 1
  73. ^ sau khi Lê Đại Hành băng hà, nhà Tống sai sứ sang truy phong ông làm Nam Việt Vương
  74. ^ Vua Lê Đại Hành không có miếu hiệu, được bề tôi dâng tôn hiệu: Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế
  75. ^ Thiên tử khi mới băng hà, chưa táng vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế. Ở đây khi Lê Hoàn mới mất, các con còn mải tranh ngôi mà chưa đặt thụy hiệu cho cha
  76. ^ Vua Lê Ngọa Triều không có miếu hiệu, bề tôi dâng tôn hiệu: Khai Thiên Ứng Vận Thánh Vân Thấn Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế
  77. ^ Ngọa Triều là do Lý Thái Tổ đặt bởi vị vua này bị bệnh trĩ phải nằm trên long sàng để thiết triều, không phải thụy hiệu chính thức, những vị vua cuối cùng đa phần không có thụy hiệu
  78. ^ Lý Thái Tổ được quần thần dâng tôn hiệu 52 chữ, dài nhất trong các tôn hiệu của những vị vua Việt Nam: Phụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế
  79. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển II
  80. ^ Lý Thái Tông được quần thần dâng tặng tôn hiệu: Khai Thiên Thống Vận Tôn Đạo Quý Đức Thánh Văn Quảng Vũ Sùng Nhân Thượng Thiện Chính Lý Dân An Thần Phù Long Hiện Thể Nguyên Ngự Cực Ức Tuế Công Cao Ứng Chân Bảo Lịch Thông Huyền Chí Áo Hưng Long Đại Địch Thông Minh Từ Hiếu Hoàng Đế
  81. ^ Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Truy tôn tên thụy cho Thái Tông Hoàng Đế", tuy nhiên không thấy chép lại thụy hiệu
  82. ^ Lý Thánh Tông không có thụy hiệu, bầy tôn dâng tôn hiệu: Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng Đế
  83. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển III
  84. ^ Theo sách Đại Việt sử lược thì Lý Nhân Tông được bầy tôn dâng tôn hiệu: Hiếu Thiên Thể Đạo Thánh Văn Thần Vũ Sùng Nhân Ý Nghĩa Hiếu Từ Thuần Thành Minh Hiếu Hoàng Đế, ông là vị quân chủ đặt nhiều niên hiệu nhất trong lịch sử Việt Nam (8 niên hiệu)
  85. ^ a ă â Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 3
  86. ^ a ă â b c d đ e ê g h Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 4
  87. ^ Lý Thần Tông được bầy tôn dâng tôn hiệu: Thuận Thiên Quảng Vận Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế
  88. ^ Bắt đầu từ đời Lý Anh Tông, nhà Tống chính thức công nhận sự độc lập của Đại Việt và phong vua Việt Nam tước hiệu An Nam quốc vương
  89. ^ Lý Anh Tông không có thụy hiệu, theo sách Đại Việt sử lược thì bề tôi dâng tôn hiệu: Thể Thiên Thuận Đạo Duệ Văn Thần Võ Thuần Nhân Hiển Nghĩa Huy Mưu Thánh Trí Ngự Dân Dục Vật Quần Linh Phi Ứng Đại Minh Chí Hiếu Hoàng Đế
  90. ^ a ă â b c d đ e Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển IV
  91. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 5
  92. ^ Lý Cao Tông không có thụy hiệu, theo sách Đại Việt sử lược thì quần thần dâng tôn hiệu: Ứng Thiên Ngự Cực Hoành Văn Hiến Vũ Linh Thiệu Chiếu Phù Chương Đạo Chí Nhân Ái Dân Lý Vật Duệ Mưu Thần Trí Cảm Hóa Cảm Chánh Thuần Phu Huệ Thị Từ Tuy Du Kiến Mỹ Công Toàn Nghiệp Thịnh Long Hiện Thần Cư Thánh Minh Quang Hiếu Hoàng Đế
  93. ^ Tư trị thông giám, quyển 145
  94. ^ Năm 1209, Quách Bốc tạo phản đánh chiếm kinh thành, Lý Cao Tông bỏ chạy. Lý Thẩm là con trai trưởng được tôn lên làm vua, ít lâu sau Cao Tông phục vị
  95. ^ a ă Lý Thẩm và Lý Nguyên Vương được lập lên ngôi và phế truất trong giai đoạn loạn lạc ngắn ngủi, do đó không được sử sách chính thống xem là vua nhà Lý
  96. ^ Sau khi Lý Huệ Tông thoái vị tu hành ở chùa Bút Tháp thì lấy pháp danh là Huệ Quang Đại Sư
  97. ^ Lý Huệ Tông không có thụy hiệu, theo sách Đại Việt sử lược thì quần thần dâng tôn hiệu: Tự Thiên Thống Ngự Khâm Nhân Hoành Hiếu Hoàng Đế
  98. ^ Năm 1214, Lý Huệ Tông thất thế phải dời khỏi kinh đô, Trần Tự Khánh lập Huệ Văn Vương lên ngôi, hiệu là Nguyên Vương. Năm 1216, Huệ Tông không nơi nương tựa buộc phải quay lại Thăng Long, Nguyên Vương bị buộc phải thoái nhiệm hoàn vị cho Huệ Tông
  99. ^ Nguyên Vương xem như tôn hiệu, không phải thụy hiệu
  100. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Đại Việt sử lược, quyển III
  101. ^ Sau khi Lý Chiêu Hoàng thiện nhượng cho Trần Thái Tông thì bị giáng xuống làm Chiêu Thánh Hoàng Hậu
  102. ^ Chiêu Hoàng là tôn hiệu, không đồng nhất với thụy hiệu Chiêu hoàng đế
  103. ^ Trần Thái Tông tự xưng Thiện Hoàng, sau đổi thành Văn Hoàng, được quần thần dâng tôn hiệu Khải Thiên Lập Cực Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế, khi lui về làm Thái thượng hoàng được Trần Thánh Tông dâng tôn hiệu Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế
  104. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển V
  105. ^ a ă â b c d đ Nguyên sử, An Nam truyện
  106. ^ a ă â Tân Nguyên sử, An Nam truyện
  107. ^ Trần Thánh Tông tự xưng Nhân Hoàng, được quần thần dâng tôn hiệu: Pháp Thiên Ngực Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế, sau khi thoái vị làm Thái thượng hoàng được Trần Nhân Tông dâng tôn hiệu: Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế
  108. ^ Trần Nhân Tông tự xưng Hiếu Hoàng, được quần thần dâng tôn hiệu: Ứng Thiên Quảng Vận Nhân Minh Thánh Hiếu Hoàng Đế, sau khi lui về làm Thái thượng hoàng lên núi Yên Tử tu hành với pháp hiệu Trúc Lâm Đại Sĩ, được Trần Anh Tông dâng tôn hiệu: Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế
  109. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VI
  110. ^ Trần Anh Tông tự xưng Anh Hoàng, được quần thần dâng tôn hiệu: Thể Thiên Sùng Hóa Khâm Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế, sau khi lui về làm Thái thượng hoàng được Trần Minh Tông dâng tôn hiệu Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế
  111. ^ Trần Minh Tông tự xưng Ninh Hoàng, được quần thần dâng tôn hiệu: Thể Nguyên Ngự Cực Duệ Thánh Chí Hiếu Hoàng Đế, sau khi lui về làm Thái thượng hoàng được Trần Hiến Tông dâng tôn hiệu Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế
  112. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VII
  113. ^ Trần Thánh Sinh là tên do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đặt khi nhà vua còn nhỏ khó nuôi phải sang đó ở, để giống với con trai mình là Thánh An, và con gái là Thánh Nô
  114. ^ Trần Hiến Tông tự xưng Triết Hoàng, không có tôn hiệu
  115. ^ Trần Dụ Tông tự xưng Dụ Hoàng, được các quan dâng tôn hiệu: Thống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế
  116. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Minh sử, An Nam truyện
  117. ^ Dương Nhật Lễ là con của kép hát Dương Khương, mẹ ông đang có mang thì bị Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục - anh vua Trần Dụ Tông - lấy làm vợ nên khi sinh ra thành con nuôi của Trần Nguyên Dục nên đã đổi sang họ Trần, được kế vị hợp pháp, sau do bị lật đổ nên không được chính sử công nhận như 1 vị vua nhà Trần
  118. ^ a ă Hôn Đức Công là tước hiệu sau khi bị phế truất của Dương Nhật Lễ và Lê Duy Phường, không phải thụy hiệu
  119. ^ Trần Nghệ Tông tự xưng Nghệ Hoàng, được các quan dâng tôn hiệu: Thể Khiên Kiến Cực Thuần Hiếu Hoàng Đế, sau khi lui về làm Thái thượng hoàng được Trần Duệ Tông dâng tôn hiệu Quang Hoa Anh Chiết Thái Thượng Hoàng Đế
  120. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển VIII
  121. ^ Trần Duệ Tông tự xưng Khâm Hoàng, được các quan dâng tôn hiệu: Kế Thiên Ứng Vận Nhân Minh Khâm Hoàng Đế
  122. ^ Trần Phế Đế tự xưng Giản Hoàng, được các quan dâng tôn hiệu: Hiến Thiên Thể Đạo Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế, sử sách đôi khi gọi là Xương Phù Đế vì ông chỉ sử dụng 1 niên hiệu, sau khi mất ngôi bị giáng xuống làm Linh Đức đại vương
  123. ^ Trần Thuận Tông tự xưng Nguyên Hoàng, sau khi bị Hồ Quý Ly ép thoái vị làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu là Thái Thượng Nguyên Quân Hoàng Đế
  124. ^ Trần Thiếu Đế bị ông ngoại phế truất, giáng xuống làm Bảo Ninh Đại Vương
  125. ^ Trước khi lên ngôi, Hồ Quý Ly từng tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt đại vương, sau lại tự xưng Phụ Chính Cai Giáo hoàng Đế
  126. ^ a ă Hồ Quý Ly tự xưng là Phụng Nhiếp Chính Quốc Tổ Chương Hoàng, không phải thụy hiệu và miếu hiệu
  127. ^ a ă â b c d đ e ê g h Đại Việt sử ký toàn thư, quyển IX - kỷ Hậu Trần và thuộc Minh
  128. ^ Trần Ngỗi trước được phong là Giản Định Vương, sau nhà Hồ cải phong là Nhật Nam quận vương, khi lên ngôi lấy tước hiệu cũ để xưng đế hiệu, cũng gọi theo niên hiệu là Hưng Khánh Đế
  129. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Đại Việt sử ký toàn thư, quyển X - kỷ nhà Lê
  130. ^ a ă â b c Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển XIII
  131. ^ Trần Cảo mạo nhận là hậu duệ 3 đời nhà Trần, được Bình Định Vương Lê Lợi dựng lên trong giai đoạn cuối cuộc khởi nghĩa Lam Sơn để hợp thức hóa ngôi vị An Nam quốc vương với nhà Minh
  132. ^ Về Tôn hiệuThụy hiệu của các vị vua nhà Lê sơ, sử sách chép có lúc ghi là truy tôn hiệu có khi ghi là truy thụy hiệu
  133. ^ Khi mới lên ngôi, Lê Thái Tổ tự xưng là: Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, hiệu Lam Sơn động cbủ
  134. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XI
  135. ^ a ă â b c d Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XIII
  136. ^ a ă Minh thực lục, quyển 5 - Anh Tông
  137. ^ Lê Nghi Dân cướp ngôi anh tự lập làm vua hợp pháp nhà Lê sơ vì lúc đó không có ai tranh chấp, sau bị các đại thần làm chính biến mà mà bị phế truất nên không được sử sách chính thống ghi nhận như một vị vua
  138. ^ Lệ Đức Hầu là tước hiệu sau khi bị phế truất của Lê Nghi Dân, bởi ông bị cho là soán nghịch nên không được đặt miếu hiệu và thụy hiệu
  139. ^ Lê Thánh Tông tự xưng là Thiên Nam Động Chủ, khi ông sáng lập Tao đàn Nhị thập bát Tú đã tự xưng Tao đàn đô nguyên suý
  140. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển XIV
  141. ^ Lê Hiến Tông từng tự xưng là Thượng Dương động chủ
  142. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XIV
  143. ^ Lê Túc Tông khi lên ngôi tự xưng là Tự Hoàng
  144. ^ Đương thời vua Lê Uy Mục tự xưng là Quỳnh Đô động chủ, sau khi bị sát hại thì phế truất xuống tước hiệu Mẫn Lệ Công
  145. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao ap Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Quyển XV
  146. ^ Vua Lê Tương Dực đương thời tự xưng Nhân Hải động chủ, khi bị lật đổ giáng phong làm Linh Ẩn Vương
  147. ^ a ă Khâm định việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển 25
  148. ^ Năm 1516, sau khi lật đổ vua Lê Tương Dực, các đại thần người muốn lập Lê Y kẻ lại đòi đưa Lê Quang Trị lên ngôi. Quang Trị ở ngôi được 3 ngày do loạn Trần Cảo buộc phải chạy vào Tây Kinh, các thế lực ủng hộ Lê Y cũng lánh nạn tới đó, bởi thế cô lực mỏng nên Trịnh Duy Đại đã sát hại Lê Quang Trị mà về hàng Lê Y
  149. ^ a ă â Lê Quang Trị, Lê Bảng và Lê Do được quyền thần lập lên ngôi, sau đó cả ba người đều bị phế truất trong thời gian loạn lạc ngắn ngủi. Do đó nên họ ít được nhắc tới trong sử sách dưới tư cách là các vị vua chính thống nhà Lê sơ
  150. ^ Lê Chiêu Tông có lúc sử sách gọi theo niên hiệu là Quang Thiệu Đế, sau khi bị Mạc Đăng Dung phế truất có tước hiệu Đà Dương Vương
  151. ^ Năm 1518, nhân lúc Lê Chiêu Tông đưa quân chấn áp loạn đảng, Trịnh Tuy lập Lê Bảng lên làm vua, được nửa năm thì chính Trịnh Tuy lại phế truất vị vua này do bất đồng quan điểm
  152. ^ Trịnh Tuy phế truất Lê Bảng, lập em ông là Lê Do thay thế tiếp tục chống nhau với Lê Chiêu Tông, sau bị Mạc Đăng Dung đánh bại
  153. ^ Tên gốc Hán tự của vị vua này là Lê Dữu, Do là phiên âm Nôm
  154. ^ Lê Cung Hoàng đôi khi sử sách còn gọi theo niên hiệu là Thống Nguyên Đế, bị Mạc Đăng Dung phế truất giáng làm Cung Vương
  155. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 27
  156. ^ Năm 1522, Lê Chiêu Tông chạy khỏi kinh thành mưu tính việc thảo phạt Mạc Đăng Dung, Đăng Dung tuyên bố phế truất Chiêu Tông lập hoàng đệ Xuân lên ngôi. Chiêu Tông ở bên ngoài tổ chức triều đình riêng chống nhau với Đăng Dung, đến năm 1525 thì bị Đăng Dung bắt
  157. ^ Trước khi cướp ngôi nhà Lê, Mạc Đăng Dung tự xưng là An Hưng Vương, sau khi thoái vị làm Thái thượng hoàng được nhà Minh phong tước hiệu An Nam đô thống sứ. Hình ảnh là họa phẩm được in trong cuốn An Nam lai uy đồ sách: "Người đứng trong chính điện là sứ thần triều Minh, người chắp tay chào là Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung"
  158. ^ a ă Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện - Mạc Đăng Dung
  159. ^ Mạc Đăng Doanh chỉ sử dụng một niên hiệu Đại Chính cho nên sử sách đôi khi cũng gọi là Đại Chính Đế
  160. ^ a ă â b c Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện - Mạc Đăng Doanh
  161. ^ a ă â b c d đ Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện - Mạc Phúc Hải
  162. ^ Sau cái chết của Mạc Hiến Tông, nội bộ nhà Mạc chia rẽ, các đại thần chủ chốt quyết định lập Mạc Tuyên Tông. Tướng Phạm Tử Nghi không phục đã ly khai tôn Mạc Chính Trung làm vua, sau nhiều lần công phá Thăng Long thất bại đã chay ra chiếm cứ vùng Yên Quảng. Do thời gian tồn tại không lâu, sau đó bị dẹp tan phải chạy sang Trung Quốc nên sử sách không công nhận như 1 vị quân chủ
  163. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 28
  164. ^ a ă â b c d đ e ê Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện - Mạc Phúc Nguyên
  165. ^ Gần đây có cuốn sách "Hợp biên thế phả họ Mạc" được tổng hợp từ các cuốn Gia Phả họ Mạc trong cả nước có đề cập đến miếu hiệu của Mạc Mậu Hợp là Mục Tông, tuy nhiên sách đó không phải lịch sử nên không đưa chính thức vào đây
  166. ^ a ă â b c d đ e ê g h Đại Việt thông sử, Nghịch thần truyện - Mạc Mậu Hợp
  167. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, quyển 17
  168. ^ Sau khi Thăng Long thất thủ, Mạc Kính Chỉ tập hợp các lực lượng trung thành với nhà Mạc chiếm cứ hầu hết khu vực miền Bắc. Mạc Toàn thấy nhiều người ủng hộ nên cũng chạy sang theo, tuy nhiên chưa kịp ổn định thì đã bị tiêu diệt chóng vánh
  169. ^ Mạc Kính Cung được Mạc Ngọc Liễn phò tá nổi dậy chống phá khắp nơi, sau nhiều phen thua trận đến năm 1601 đã rút chạy lên Cao Bằng hình thành chính quyền cát cứ tồn tại dưới sự che chở của nhà Minh
  170. ^ vua Lê Trang Tông được dân gian gọi là chúa Chổm bởi hồi nhỏ ông có tên là Chổm, điều này trong chính sử không hề nhắc tới. Năm 1533, ông được Nguyễn Kim tìm thấy đưa lên ngôi ở Ai Lao, đến năm 1541 mới chính thức về nước hình thành cục diện Nam Bắc triều
  171. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, quyển 16
  172. ^ Sử sách ghi Lê Trang Tông sinh năm 1514 khiến các nhà nghiên cứu nghi ngờ vì khoảng cách tuổi tác giữa vua cha Chiêu Tông (sinh năm 1506) và vua con Trang Tông quá ngắn, chỉ có 8 năm
  173. ^ Theo Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, quyển XVI thì Lê Trừ là anh thứ hai của Lê Thái Tổ: Trừ sinh Khang, Khang sinh Thọ, Thọ sinh Duy Thiệu, Duy Thiệu sinh Duy Khoáng, Duy Khoáng sinh Lê Anh Tông
  174. ^ Theo sách "Lê triều đế vương sự nghiệp, Lệ sát phụng sự - hiển quang điện" thì Lê Thế Tông được các quan dâng tôn hiệu: Tích Thuần Cương Chính Dũng Quả Nghị Hoàng Đế
  175. ^ Lê triều đế vương sự nghiệp, trang 2
  176. ^ Lê Kính Tông được bầy tôn dâng tôn hiệu: Hiển Nhân Dụ Khánh Tuy Phúc Huệ Hoàng Đế. Theo sách "Lê triều đế vương sự nghiệp" thì vua Lê Ý Tông còn có thụy hiệu khác là Giản Huy Hiển Nhân Dụ Khánh Đế
  177. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, quyển XVIII
  178. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 31
  179. ^ a ă Lê Thần Tông là vị quân chủ duy nhất trong lịch sử Việt Nam đăng cơ 2 lần, ông cũng là vua đầu tiên lấy vợ người phương Tây (Hà Lan)
  180. ^ a ă â b c d đ e Thanh sử cảo, Việt Nam truyện
  181. ^ a ă â b c d đ e Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 32
  182. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Việt Nam sử lược, quyển II: Tự chủ thời đại - chương 1
  183. ^ Lê Huyền Tông được các quan dâng tôn hiệu: Khoát Đạt Duệ Thông Cương Nghị Trung Chính Ôn Nhu Hoà Lạc Khâm Minh Văn Tứ Doãn Cung Khắc Nhượng Mục Hoàng Đế
  184. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, quyển 19
  185. ^ Lê Gia Tông được các quan dâng tôn hiệu: Khoan Minh Mẫn Đạt Anh Quả Huy Nhu Khắc Nhân Đốc Nghĩa Mỹ Hoàng Đế
  186. ^ a ă â b c Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 33
  187. ^ Lê Hy Tông được bầy tôi dâng tôn hiệu: Thông Mẫn Anh Quả Đôn Khoát Khoan Dụ Vĩ Độ Huy Cung Chương Hoàng Đế
  188. ^ a ă â Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 35
  189. ^ Lê Dụ Tông được quần thần dâng tôn hiệu: Thuần Chính Huy Nhu Ôn Giản Từ Tường Khoan Huệ Tôn Mẫu Hòa Hoàng Đế, khi lui về làm Thái thượng hoàng tự xưng là Thuận Thiên Thừa Vận Hoàng Thượng
  190. ^ a ă â b c Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 37
  191. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 36
  192. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 34
  193. ^ Lê Thuần Tông được các quan dâng tôn hiệu: Khoan Hòa Đôn Mẫn Nhu Tốn Khác Trầm Lịch Thản Dị Giản Hoàng Đế
  194. ^ Thanh thực lục - Thế Tông Hoàng Đế
  195. ^ Lê Ý Tông được quần thần dâng tôn hiệu: Ôn Gia Trang Túc Khải Đễ Thông Mẫn Khoan Hồng Uyên Duệ Huy Hoàng Đế
  196. ^ a ă Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 42
  197. ^ a ă â b c d đ e ê Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 38
  198. ^ Ngọc phả nhà Lê - Lê Ý Tông
  199. ^ a ă Thanh thực lục, Cao Tông Hoàng Đế
  200. ^ Lê Hiển Tông được quần thần dâng tôn hiệu: Uyên Ý Khâm Cung Nhân Từ Đức Thọ Hoàng Đế
  201. ^ a ă â b c d đ e ê Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 46
  202. ^ Lê Chiêu Thống sau khi mất ở bên Trung Quốc được những bầy tôi chạy theo sang đó truy tôn thụy hiệu là Xuất Hoàng Đế (theo Thanh thực lục) hoặc Nghị Hoàng Đế (theo Thanh sử cảo)...hình ảnh minh họa vẽ vị vua này đang trong đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị nhận sắc phong
  203. ^ Lê Chiêu Thống không có thụy hiệu, sau này Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, do cùng chung kẻ thù là nhà Tây Sơn mà truy thụy hiệu cho ông là Mẫn Hoàng Đế
  204. ^ a ă â Việt Nam sử lược, Tự chủ thời đại - quyển II chương X
  205. ^ a ă â b Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 47
  206. ^ a ă Đương thời các vị chúa Trịnh và chúa Nguyễn tuy sử dụng ấn tín riêng nhưng đều theo niên hiệu của nhà Lê, thực tế đã nắm quyền lực nhưng không có niên hiệu riêng
  207. ^ Trịnh Kiểm đương thời giữ chức Thượng Tướng Thái Quốc Công, khi mất vua Lê Thế Tông truy tặng thụy hiệu Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương. Ông được xem là người đặt nền móng cho họ Trịnh nắm quyền, tuy nhiên sinh thời ông không xưng chúa, tước chúa là do các chúa Trịnh thời sau truy phong
  208. ^ Trịnh Cối được vua Lê cho nối chức vụ của cha, tuy nhiên sau mâu thuẫn với Trịnh Tùng mà về hàng nhà Mạc nên không được họ Trịnh công nhận, trên thực tế đã cầm quyền được 4 tháng nên vẫn đưa vào danh sách này
  209. ^ Ở đây chỉ nói tới tước hiệu của Trịnh Cối khi còn tại vị và tước hiệu nhà Hậu Lê truy tặng sau khi mất
  210. ^ Trịnh Tùng đương thời giữ chức Đô Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Thượng Phụ Bình An Vương, tiến phong là Cung Hoà Khoan Chính Triết Vương
  211. ^ a ă â b Đại Việt sử ký tục biên, quyển 20
  212. ^ a ă â b c d Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, quyển 21
  213. ^ Trịnh Tráng lúc đầu thụ phong Bình Quận Công, cải phong Thanh Quận Công, tiến phong Tiết Chế Thái Úy Thanh Quốc Công, tôn phong Nguyên Soái Thống Quốc Chính Thanh Đô Vương, tiến tôn Đại Nguyên Soái Thống Quốc Chính Sư Phụ Thanh Vương. Triều Minh sách phong Phó Quốc Vương, gia tôn Thượng Chúa Sư Phụ Công Cao Thông Đoán Nhân Thánh Thanh Vương
  214. ^ Trịnh Tạc đương thời được phong chức: Đại Nguyên Soái Trưởng Quốc Chính Thượng Sư Thái Phụ Đức Công Nhân Uy Minh Thánh Tây Vương
  215. ^ Trịnh Giang lúc đầu thụ phong Khâm Sai Tiết Chế Các Xứ Thủy Bộ Chư Doanh kiêm Lãm Chính Quyền Thái Uý Trịnh Quốc Công, sau khi xưng chúa cải phong Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Uy Nam Vương, tiến phong tiến phong Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Thượng Sư Uy Vương, gia phong Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Thượng Sư Thái Phụ Thông Đức Anh Nghị Thánh Công Uy Vương, tước hiệu cao nhất là Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Thượng Sư Thái Phụ Thông Đức Anh Nghị Thánh Công Bác Viễn Hòa Tuy Do Dụ Nghĩa Trinh Vương (sau đổi thành Toàn Vương). Khi lui về làm Thái thượng vương được nhà Thanh phong: An Nam Thượng Vương, tôn hiệu của Trịnh Giang là: Cung Nhượng Khoan Huệ Thuần Tuý Huy Gia Quảng Uyên Bác Hậu Đạo Khiêm Quang Tuyên Từ Khải Đễ Hậu Đức Viễn Mưu Thuận Vương
  216. ^ a ă Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 42
  217. ^ Trịnh Doanh lúc đầu được phong Khâm Sai Các Xứ Thủy Bộ Chư Quân Thái Uý Ân Quốc Công, khi lên ngôi chúa cải phong Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Minh Đô Vương, tiến phong Đại Nguyên Soái Thượng Sư Minh Vương, gia phong Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Soái Thượng Phụ Anh Đoán Văn Trị Vũ Công Minh Vương. Tôn hiệu của Trịnh Doanh là: Thần Mưu Duệ Toán Thịnh Đức Phóng Huân Hồng Từ Đạt Hiếu Hoằng Mô Đại Liệt Siển Do Cơ Tục Định Vũ Khai Bình Địch Văn Phu Huấn Viễn Mô Hậu Trạch Ân Vương
  218. ^ a ă â Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 43
  219. ^ Trịnh Sâm lúc đầu thụ phong Khâm Sai Tiết Chế Các Xứ Thủy Bộ Chư Doanh kiêm Chưởng Chính Cơ Thái Uý Tĩnh Quốc Công, khi lên ngôi chúa cải phong Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Tĩnh Đô Vương, tiến phong Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Thượng Sư Tĩnh Vương, gia phong Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Soái Thượng Thượng Duệ Đoán Văn Công Võ Đức Tĩnh Vương. Tôn hiệu của Trịnh Sâm là: Thiệu Thiên Hưng Vận Chế Trị Khai Cương Hồng Lượng Anh Do Chính Thành Nhân Hiếu Thịnh Vương
  220. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 45
  221. ^ Trịnh Cán làm chúa được gần 2 tháng với tước hiệu: Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Điện Đô Vương, sau bị phế truất giáng xuống làm Cung Quốc Công
  222. ^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, quyển 23 - lễ nghi chí, Trịnh vương chư lăng
  223. ^ Theo Trịnh thị thế phả thì Trịnh Khải có tước hiệu: Đại Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Sư Thượng Đoan Vương, khi mất được Án Đô Vương đặt thụy hiệu là Linh Vương
  224. ^ Sau khi Trịnh Khải bị tiêu diệt, bầy tôi tôn lập Trịnh Lệ - con trai thứ hai Trịnh Doanh - lên ngôi chúa nhưng do ban đêm không có ai đến dự lễ, gặp lúc Trịnh Bồng dâng biểu vào triều lời lẽ nhún nhường nên vua Lê Chiêu Thống mới hạ chiếu tuyên triệu. Các quan ép nhà vua phải sắc phong tước hiệu cho Trịnh Bồng là: Tiết Chế Thuỷ Bộ Chư Quản Bình Chương Quân Quốc Chủng Sự Côn Quận Công, ít lâu sau gia phong: Nguyên Soái Tổng Quốc Chính Án Đô Vương
  225. ^ Huệ Định Công không phải thụy hiệu, theo ghi chép của sách "Lê quý kỷ sự" thì lúc Trịnh Bồng mất ngôi chúa bị vua Lê Chiêu Thống giáng xuống làm Huệ Định Công. Khi quân Tây Sơn đánh ra bắc, Trịnh Bồng lang bạt khắp nơi xuống tóc xuất gia tự xưng là Hải Đạt thiền sư
  226. ^ Các miếu hiệu thứ hai của chúa Nguyễn đều do Nguyễn Ánh sau khi xưng đế truy tôn
  227. ^ Tất cả các thụy hiệu Hoàng Đế đều do vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà truy tôn cho tổ tiên dựa trên cơ sở thụy hiệu cũ do chúa Nguyễn Phúc Khoát truy phong với tước vương, riêng Nguyễn Phúc Dương không được truy tôn thụy hiệu Hoàng Đế
  228. ^ Nguyễn Hoàng về mặt chính thức chưa hề xưng chúa, đương thời ông vẫn thường xuyên ra bắc phục vụ cho chính quyền vua Lê chúa Trịnh với danh nghĩa quan trấn thủ xứ Thuận Quảng
  229. ^ a ă â b c d đ e ê Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 1
  230. ^ Nguyễn Hoàng được Nguyễn Phúc Khoát truy tôn miếu hiệu Liệt Tổ, Nguyễn Ánh truy tôn miếu hiệu Thái Tổ
  231. ^ Nguyễn Hoàng được nhà Lê truy tặng thụy hiệu Đạt Lý Gia Dụ Cẩn Nghĩa Công, Nguyễn Phúc Nguyên đặt thụy hiệu cho cha là Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Vương
  232. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ tục biên - quyển 16
  233. ^ Bắt đầu từ Nguyễn Phúc Nguyên mới chính thức xưng chúa ở đàng trong, công khai chống lại chính quyền vua Lê chúa Trịnh ở đàng ngoài
  234. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 2
  235. ^ Nguyễn Phúc Lan truy thụy hiệu cho cha là Tuyên Tổ, sau này vua Gia Long truy thêm thụy hiệu Hy Tông
  236. ^ Nguyễn Phúc Nguyên được Nguyễn Phúc Lan đặt thụy hiệu là Đại Đô Thống Trấn Nam Phương Thống Quốc Chính Dực Thiện Tuy Du Thụy Dương Vương
  237. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 3
  238. ^ Thần Tổ là thụy hiệu do Nguyễn Phúc Tần truy tôn, Thần Tông là thụy hiệu do vua Gia Long truy tôn
  239. ^ Nguyễn Phúc Tần truy tôn thụy hiệu cho cha là Đại Nguyên Soái Thống Soái Thuận Hóa Quảng Nam Đẳng Xứ Chưởng Quốc Chính Uy Đoán Thần Vũ Nhân Chiêu Vương
  240. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 5
  241. ^ Miếu hiệu Nghị Tổ do Nguyễn Phúc Trăn truy tôn, miếu hiệu Thái Tông do vua Gia Long truy tôn
  242. ^ Nguyễn Phúc Thái truy tôn cha thụy hiệu Đại Nguyên Soái Thống Quốc Chính Công Cao Đức Hậu Dũng Triết Vương
  243. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 6
  244. ^ Nguyễn Phúc Chu truy tặng thụy hiệu cho cha là Đại Nguyên Soái Thống Quốc Chính Thiệu Hư Toản Nghiệp Hoằng Nghĩa Vương
  245. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 8
  246. ^ Nguyễn Phúc Chú truy tặng thụy hiệu cho cha là Đô Nguyên Soái Thống Quốc Chính Khoan Từ Nhân Thứ Tộ Minh Vương
  247. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 9
  248. ^ Nguyễn Phúc Khoát truy tôn cha thụy hiệu là Đại Đô Thống Thống Quốc Chính Tuyên Quang Thiệu Liệt Đỉnh Ninh Vương
  249. ^ Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương, chế độ chúa Nguyễn lúc đó tách khỏi vua Lê chúa Trịnh không khác gì một quốc gia độc, do các đời trước thực tế đã cầm quyền không biết đưa họ vào đâu nên cũng xếp cả vào danh sách vua Việt Nam
  250. ^ a ă â b c d Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 10
  251. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 12
  252. ^ Nguyễn Phúc Dương là chúa bù nhìn do lực lượng Tây Sơn tôn lên để lấy danh nghĩa phù chúa Nguyễn
  253. ^ Ban đầu vua Gia Long truy thụy hiệu cho Nguyễn Phúc Dương là Hiếu Huệ Vương
  254. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Việt Nam sử lược, tự chủ thời đại - chương XI
  255. ^ a ă â b c d đ e ê Đại Nam thực lục chính biên liệt truyện, sơ tập - quyển 30
  256. ^ Minh Đức Hoàng Đế thực chất là tôn hiệu vua được tôn xưng khi còn sống, đương thời Nguyễn Nhạc tự xưng là Thiên Vương và sau đó là Trung Ương Hoàng Đế
  257. ^ a ă Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên - quyển 44
  258. ^ sau khi Nguyễn Huệ đăng cơ, Nguyễn Nhạc rút về Quy Nhơn để làm Tây Sơn Vương và giữ ngôi vị này cho đến khi mất vào năm 1893
  259. ^ a ă â b c Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ - quyển 60
  260. ^ a ă â b c Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ - quyển 1
  261. ^ Nguyễn Ánh xưng vương năm 1780, năm 1802 diệt nhà Tây Sơn mới chính thức xưng đế
  262. ^ a ă â b c Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ - quyển 220
  263. ^ a ă â Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ nhị - quyển 1
  264. ^ a ă â b c Đại Nam thực lục chính biên, đệ tam kỷ - quyển 72
  265. ^ a ă â b Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ tam - quyển 1
  266. ^ a ă â b c Đại Nam thực lục chính biên, đệ tứ kỷ - quyển 69
  267. ^ a ă â Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ tứ - quyển 1
  268. ^ Các vua nhà Nguyễn do chỉ sử dụng duy nhất một niên hiệu nên thường được biết đến bằng niên hiệu, vua Dục Đức lên ngôi có 3 ngày chưa kịp đặt niên hiệu đã bị phế truất, do trước ở Dục Đức đường nên sử sách lấy tên đó mà ghi chép
  269. ^ a ă Vua Dục Đức bị phế truất nên không có thụy hiệu và miếu hiệu, sau này con trai là vua Thành Thái lên ngôi mới truy tôn ông là Cung Tông Huệ Hoàng Đế
  270. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ tứ quyển 70
  271. ^ Vua Hiệp Hòa không có thụy hiệu, sau này được vua Thành Thái truy tặng là Lãng Quận Công, đến vua Khải Định truy tặng là Văn Lãng Quận Vương, sử gia Trần Trọng Kim truy tôn hiệu Phế Đế
  272. ^ a ă â b Đại Nam thục lục chính biên, kỷ đệ ngũ - quyển 1
  273. ^ a ă â b c d đ e Đại Nam thục lục chính biên, kỷ đệ ngũ - quyển 5
  274. ^ Xuất hoàng đế không phải thụy hiệu của vua Hàm Nghi, khi Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược chép lại làm tôn hiệu vì vị vua này trong thời gian tại vị không ở kinh thành mà thường xuyên phải chạy rong bôn tẩu
  275. ^ a ă Đại Nam thục lục chính biên, kỷ đệ ngũ - quyển 8
  276. ^ a ă â b c d Đại Nam thục lục chính biên, kỷ đệ lục - quyển 1
  277. ^ a ă â b Đại Nam thục lục, kỷ đệ lục - quyển 11
  278. ^ Vua Đồng Khánh hồi nhỏ được nuôi dưỡng ở Chánh Mông đường, do đó đôi khi con có tên gọi Chánh Mông
  279. ^ a ă â b Đại Nam thực lục chính biên, đệ lục kỷ - quyển 1
  280. ^ a ă â Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ lục - quyển 19
  281. ^ a ă Vua Thành Thái và Duy Tân đều không có thụy hiệu, sau khi vua Khải Định lên ngôi gọi vua Thành Thái là Hoài Trạch Công và gọi vua Duy Tân là Công Tử Vĩnh San, sau này Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược mới truy tặng cả 2 vị vua này tôn hiệu Phế Đế
  282. ^ a ă â b Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ lục - quyển 20
  283. ^ a ă â Đại Nam thực lục chính biên, kỷ đệ lục - quyển 29
  284. ^ a ă â b Đại Nam thực lục chính biên, đệ thất kỷ - quyển 1
  285. ^ a ă â b Đại Nam thực lục chính biên, đệ thất kỷ - quyển 10
  286. ^ Sau khi thoái vị, Bảo Đại được mời làm "Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam". Từ 1949-1955, Bảo Đại làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam
  287. ^ a ă â b c d Quỳnh Cư-Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên, 1999, trang 384
  288. ^ Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc Xuất Bản, 1990, trang 186-188
  289. ^ Tam tổ thực lục, đệ nhất tổ Trúc lâm đại sĩ
  290. ^ Theo Minh Thái Tông thực lục thì Hồ Quý Ly được tha còn Trần Ngỗi bị xử tử, còn theo An Nam truyện trong Minh sử thì cả 2 vị Thái thượng hoàng này đều bị xử tử tại Yên Kinh
  291. ^ Ngũ Lĩnh gồm 5 dãy núi nhỏ: Việt Thành Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chử Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh và Đại Dữu Lĩnh. Phía nam núi Ngũ Lĩnh bao gồm 2 tỉnh Quảng ĐôngQuảng Tây gọi là Lĩnh Nam, Ngũ Lĩnh còn là đường phân thủy giữa hai con sông lớn là Dương Tử và Châu Giang - Trung Quốc
  292. ^ Theo huyền sử Trung Quốc thì vua Thần Nông sinh ra ở sông Khương nên lấy tên sông làm họ, ngày nay là đoạn hợp lưu giữa 3 con sông: Bạch Long giang, Bạch Thuỷ giang và Dân giang thuộc tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc
  293. ^ Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước
  294. ^ Ngọc phả Hùng Vương: Thời kỳ lịch sử nhiều bí ẩn của dân tộc
  295. ^ Vấn đề Thục Phán – An Dương Vương trong lịch sử Việt Nam
  296. ^ Tìm quê hương của Lý Nam Đế
  297. ^ Đa phần các thư tịch cổ đều ghi chép Lý Bí người phủ Long Hưng thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu đương đại thì tỉnh Thái Bình thời Bắc thuộc vẫn còn là biển chưa có người ở
  298. ^ Theo nhiều thư tịch cổ thì tổ tiên Lý Bí là người phương Bắc (không rõ nơi nào) di cư sang Giao Châu cuối đời Tây Hán, truyền đến Lý Bí là 7 đời (theo sách Văn minh Đại Việt của Nguyễn Duy Hinh căn cứ các thần phả thì Lý Bí là thế hệ thứ 11 của họ Lý từ khi sang Việt Nam)
  299. ^ Sau khi Lý Bí mất, anh là Lý Thiên Bảo dựng nước Dã Năng ở đất Di Lạo (Ai Lao). Khi Lý Phật Tử nối nghiệp dời đô đến thành Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây cũ)...đánh thắng Triệu Việt Vương thì lại chuyển kinh đô qua Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ)
  300. ^ a ă â Việt sử tiêu án, Ngoại thuộc Tùy Đường
  301. ^ Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì Mai Thúc Loan người Mai Phụ, huyện Thiên Lộc - Hoan Châu, thời Nguyễn thuộc huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Mai Phụ, còn gọi là gò họ Mai, hay Mỏm, một làng chuyên nghề ở miền ven biển Thạch Hà, Hà Tĩnh)
  302. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Phùng Hưng quê ở Đường Lâm huyện Phúc Lộc (tức xã Cam Lâm huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây cũ)
  303. ^ Theo Việt điện u linh tập, Phùng Hưng vốn thế tập Biên khố di tù trưởng châu Đường Lâm. Theo Việt sử tiêu án, Phùng Hưng quê ở Đường Lâm thuộc Phong Châu. Theo Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu thì Phùng Hưng người Đường Lâm (tức xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ)
  304. ^ Theo các thư tịch cổ thì Ngô Quyền cùng quê với Phùng Hưng, do đó đất Đường Lâm thường gọi là đất hai vua
  305. ^ Đại Việt sử lược chép Lê Hoàn người Trường Châu (thuộc tỉnh Hà Nam Ninh cũ). Đại Việt sử ký tiền biên phần chính văn bản chép Lê Hoàn người Ái Châu (nay thuộc Thanh Hóa), nhưng phần cước chú lại ghi Lê Hoàn người Bảo Thái, huyện Thanh Liêm nay thuộc tỉnh Nam Hà
  306. ^ Theo "Đại việt sử ký toàn thư" thì Lý Công Uẩn người Cổ Pháp (từ thời Đinh về trước gọi là châu Cổ Lãm; triều Lê Đại Hành cho đến năm 995 đổi gọi là Cổ Pháp, Lý Thái Tổ lên ngôi đổi làm phủ Thiên Đức. Chính là đất huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc cũ)
  307. ^ Lý Công Uẩn khi mới lên ngôi năm 1009 vẫn đống đô ở Hoa Lư, sang năm sau mới dời đô về Thăng Long, ngoài ra nhà Lý còn có kinh đô phụ ở Đình Bảng - Bắc Ninh
  308. ^ Theo Đại Việt sử lược thì thuỷ tổ họ Trần người đất Mân - tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc
  309. ^ Nhà Trần còn có kinh đô phụ nay thuộc Thiên Trường - Nam Định, đời vua Trần Thuận Tông (1497) bị Hồ Quý Ly ép phải di chuyển kinh thành đến Tây Đô
  310. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Hồ Quý Ly là cháu 5 đời Hồ Liêm, Hồ Liêm là con nuôi của Lê Huấn ở hương Đại Lại - Thanh Hóa)
  311. ^ Nhà Hậu Lê còn có kinh đô phụ là Lam Kinh - Thanh Hóa, giai đoạn Lê trung hưng lúc đầu vua Lê Trang Tông lên ngôi trên đất Sầm Châu - Trấn Ninh phủ (nay thuộc nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), sau khi về nước mới cho lập hành điện ở sách Vạn Lại (nay thuộc Thiệu Hóa - Thanh Hóa). Cuối cùng, chuyển qua thành Tây Đô (kinh đô của nhà Hồ) cho đến khi khôi phục Thăng Long
  312. ^ Theo Đại Việt thông sử thì tổ 7 đời của Mạc Đăng Dung là Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, tổ 4 đời là Mạc Tung di cư đến huyện Thanh Hà - Hải Dương, đến ông nội là Mạc Bình mới chuyển sang làng Cổ Trai huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy - Hải Phòng)
  313. ^ Nhà Mạc còn có kinh đô phụ là Dương Kinh (nay thuộc quận Dương Kinh - Hải Phòng)...khi Thăng Long thất thủ, hậu duệ chạy lên Cao Bằng thành lập chính quyền cát cứ với kinh đô Cao Bình
  314. ^ Chính quyền chúa Trịnh gắn liền với vua Lê cho nên hễ kinh đô của nhà Lê trung hưng ở đâu thì phủ chúa Trịnh cũng đặt tại địa phương đó
  315. ^ khi Nguyễn Huệ lên ngôi đóng đô ở Phú Xuân, có ý định xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô (nay thuộc thành phố Vinh - Nghệ An, Nguyễn Nhạc lui về làm Tây Sơn Vương vẫn đóng đô ở Quy Nhơn
  316. ^ Suốt thời gian chống nhau với nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh phải chạy rong bôn tẩu khắp nơi, sau khi tái chiếm Nam Bộ thì đóng đô tại Gia Định (Sài Gòn)
  317. ^ Niên hiệu Cảnh Hưng còn được chúa Nguyễn Ánh sử dụng trong các văn bản chính thức suốt thời gian chiến tranh với nhà Tây Sơn, tổng cộng 63 năm (1740-1802)
  318. ^ Đương thời, vua Lê Hiển Tông chỉ chứng kiến Nguyễn Huệ làm con rể mình nhưng lúc đó mới chỉ là Bắc Bình Vương của nhà Tây Sơn
  319. ^ Viện sử học, sđd, trang 212 liệt kê 16 loại tiền đó như sau: Cảnh Hưng chí bửu - Cảnh Hưng chính bửu - Cảnh Hưng cự bửu - Cảnh Hưng dụng bửu - Cảnh Hưng Đại bửu - Cảnh Hưng Thái bửu - Cảnh Hưng thuận bửu - Cảnh Hưng nội bửu - Cảnh Hưng tuyền bửu - Cảnh Hưng trung bửu - Cảnh Hưng trọng bửu - Cảnh Hưng vĩnh bửu
  320. ^ a ă Theo Ngọc phả tại đền Hùng thì tuổi thọ và số năm trị vì của của đời vua đều trên 100 năm, tuy nhiên đó chỉ là huyền thoại không đáng tin cậy
  321. ^ Trần Phế Đế bị Trần Nghệ Tông bức tử, Lê Quang Trị bị Trịnh Duy Đại sát hại, Trịnh Cán ốm chết
  322. ^ a ă â Các đời vua chúa nhà Nguyễn - 9 chúa 13 vua, mục vua Bảo Đại
  323. ^ Về cương vực thì Hồng Bàng thị trong truyền thuyết là rộng lớn hơn cả: "bắc tới Ngũ Lĩnh, nam giáp Hồ Tôn, tây giáp Ba Thục, đông tới biển"...tuy nhiên đây chỉ là huyền sử
  324. ^ Hoàng đế triều Trần: cội nguồn - ấn tượng dân gian, mục danh sách Thái thượng hoàng
  325. ^ Triều đại này bị gián đoạn 6 năm (1527-1533) bởi nhà Mạc cướp ngôi, do đó bị tách thành 2 giai đoạn: Lê sơ và Lê trung hưng
  326. ^ Việt Nam sử lược, quyển 1 - phần 3 chương 15
  327. ^ Việt Nam sử lược, quyển II - Tự chủ thời đại, chương III
  328. ^ Theo huyền sử thì Hồng Bàng thị (2879TCN-258TCN) tồn tại 2622 năm, trong Ngọc Phả đền Hùng có ghi chép đầy đủ thời gian trị vì của các vị vua này
  329. ^ Các đời vua chúa nhà Nguyễn - 9 chúa 13 vua, phần phả hệ
  330. ^ Các đời vua chúa nhà Nguyễn - 9 chúa 13 vua, mục vua Hàm Nghi - vua Thành Thái - vua Duy Tân

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]