Đồng Khánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Cảnh Tông
阮景宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
DongKhanh.jpg
Hoàng đế nhà Nguyễn
Trị vì 1885 - 1889
Tiền nhiệm Hàm Nghi
Kế nhiệm Thành Thái
Thông tin chung
Thê thiếp Phụ Thiên Thuần hoàng hậu
Hựu Thiên Thuần hoàng hậu
Hậu duệ
Tên thật Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (阮福膺祺)
Niên hiệu Đồng Khánh
Thụy hiệu Hoằng Liệt Thống Thiết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế
弘烈統哲敏惠純皇帝
Miếu hiệu Cảnh Tông (景宗)
Triều đại Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca Đăng đàn cung
Thân phụ Nguyễn Phúc Hồng Cai
Thân mẫu Bùi Thị Thanh
Sinh 19 tháng 2 năm 1864
Huế, Việt Nam
Mất 28 tháng 1, 1889 (24 tuổi)
Huế, Việt Nam
An táng Tư Lăng (思陵)

Đồng Khánh Đế (chữ Hán: 同慶帝; 19 tháng 2, 186428 tháng 1, 1889), tức là Nguyễn Cảnh Tông (阮景宗), vị Hoàng đế thứ 9 của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh Tông hoàng đế sinh ngày 12 tháng giêng năm Giáp Tý, tức ngày 19 tháng 2 năm 1864 tại Huế. Tên húy của Đế thì các tài liệu ghi khác nhau[1], nơi thì ghi là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (阮福膺祺), Nguyễn Phúc Biện (阮福昪), Chánh Mông (正蒙). Tên gọi Chánh Mông là do từ thưở nhỏ, ông đã được mang về Chánh Mông đường (正蒙堂) nuôi dưỡng. Ông là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Chánh phi Bùi Thị Thanh.

Năm 1865, Ưng Kỷ được Nguyễn Dực Tông nhận làm con nuôi và giao cho Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm chăm sóc dạy bảo. Năm 1882, Dực Tông hoàng đế sách phong ông làm Kiên Giang quận công (堅江郡公).

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đó Hàm Nghi Đế đã thoát ly triều đình kéo cờ khởi nghĩa chống Pháp, Thống tướng de Courcy sai ông de Champeaux lên yết kiến Nghi Thiên Hoàng thái hậu để xin lập Kiên Giang quận công lên ngôi vị.

Ngày 6 tháng 8 năm Ất Dậu, tức ngày 19 tháng 9 năm 1885, Kiên Giang quận công phải thân hành sang bên Khâm sứ Trung kỳ của người Pháp làm lễ lên ngôi, được tôn làm Hoàng đế, lấy niên hiệu là Đồng Khánh (同慶).

Đồng Khánh là người không chống Pháp, sách của Trần Trọng Kim viết: "Đồng Khánh Đế tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp". Khi đó Hàm Nghi Đế đang ở vùng Quảng Bình, quân Pháp đang tấn công về vùng đó. Đồng Khánh Đế đích thân ra tận Quảng Bình để dụ Hàm Nghi Đế và các quan tùy tùng về hàng, hứa là sẽ cho cai trị 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ AnHà Tĩnh nhưng không thành công. Sau đó Hàm Nghi Đế bị một thuộc hạ là Trương Quang Ngọc làm phản, bị người Pháp bắt rồi bị đưa đi đày ở Algérie.

Ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý, tức ngày 28 tháng 1 năm 1889, Đồng Khánh Đế băng hà, thọ 24 tuổi, trị vì được 3 năm. Thụy hiệu của ông là Hoằng Liệt Thống Thiết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế (弘烈統哲敏惠純皇帝), miếu hiệuCảnh Tông (景宗).

Lăng của Đồng Khánh Đế là Tư Lăng (思陵), ngự tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên. Ông được thờ tại Tả Tam Án ở Thế Miếu và Tả Tam Án điện Phụng Tiên trong Đại Nội kinh thành Huế.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Nguyễn Phúc Hồng Cai, truy phong Thuần Nghị Kiên Thái Vương (淳毅堅太王).
  • Thân mẫu: Bùi Thị Thanh (裴氏清), truy phong Thuần Nghị Kiên Thái Vương Phi (淳毅堅太王妃).
  • Hậu phi:
  1. Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu Nguyễn Hữu thị (輔天純皇后阮友氏; 22 tháng 12, 1870 - 9 tháng 11, 1935), tự Học Khương (學姜); trong sử còn gọi là Đức Thánh Cung (德聖宮). Con gái thứ 2 của Vĩnh Lai Quận công, Cơ Mật viện Đại thần Nguyễn Hữu Độ. Bà rất nổi tiếng về đức độ, được Đồng Khánh sủng ái, phong làm Hoàng quý phi đứng đầu.
  2. Hựu Thiên Thuần hoàng hậu Dương thị (佑天純皇后楊氏; 18 tháng 4, 1868 - 17 tháng 9, 1944), quê ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, con gái của Phú Lộc Quận công Dương Quang Hướng; trong sử còn gọi bà là Đức Tiên Cung (德仙宮). Bà là mẹ của Nguyễn Hoằng Tông Khải Định hoàng đế.
  3. Giai phi Phan Văn thị (佳妃潘文氏), được ban quyền nhiếp quản lục viện bên cạnh Hoàng quý phi Nguyễn Hữu thị.
  4. Quan phi Trần Đăng thị (关妃陈登氏), do nói năng thô tục, từng bị răn dạy mà không chịu sửa đổi, bị giáng làm Tùy tần.
  5. Chính tần Hồ Văn thị (正嫔胡文氏), không chăm lo việc công, chơi bời lêu lỏng, bị giáng làm Mỹ nhân.
  6. Nghi tần Nguyễn Văn thị (宜嫔阮文氏), tính tình thô bạo, tham lam đố kị, bị giáng làm Tài nhân.
  7. Dụ tần Trần Văn thị (裕嫔陈文氏).
  8. Tiệp dư Hồ thị (婕妤胡氏).
  9. Tài nhân Trịnh thị tính tình khinh nhờn, bị giáng làm cung nhân.
  10. Nguyễn Hữu thị, tính tình khinh nhờn, bị giáng làm cung nhân.
  11. Cung nhân Bách Hợp (宫人百合).
  • Hậu duệ:
  1. Nguyễn Hoằng Tông Nguyễn Phúc Bửu Đảo [阮福寶嶹], mẹ là Hựu Thiên Thuần hoàng hậu.
  2. An Hóa quận vương Nguyễn Phúc Bửu Tung [安化郡王阮福寶嵩], mẹ là Quan phi, sinh ngày 1 tháng 3, 1886; mất ngày 23 tháng 1, 1900.
  3. Nguyễn Phúc Bửu Nguy [阮福宝巍], mẹ là Phụ Thiên Thuần hoàng hậu, chết non.
  4. Nguyễn Phúc Bửu Nga [阮福寶峨], mẹ là Phụ Thiên Thuần hoàng hậu, chết non.
  5. Nguyễn Phúc Bửu Cát [阮福寶嶱], mẹ là Hựu Thiên Thuần hoàng hậu, chết non.
  6. Nguyễn Phúc Bửu Quyền [阮福寶𡷡], mẹ là Quan phi, chết non.
  7. Ngọc Lâm công chúa Nguyễn Phúc Hỷ Duyệt [玉林公主阮福喜悦], mẹ là Tiệp dư Hồ thị.
  8. Ngọc Sơn công chúa Nguyễn Phúc Hỷ Hỷ [玉山公主阮福喜喜], mẹ là Tiệp dư Hồ thị, chết sau năm 1920.
  9. Công chúa thứ 3 không rõ tên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem các trang: Lịch sử triều Nguyễn - Chín chúa, mười ba vua - 143 năm vương triều Nguyễn (1802-1945)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]