Nguyễn Hữu Thị Nhàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phụ Thiên Thuần Hoàng Hậu
Hoàng thái hậu Đại Nam
Tại vị 1916 - 1933
Tiền nhiệm Từ Minh Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Đoan Huy hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu Đại Nam
Tại vị 1933 - 1935
Tiền nhiệm Trang Ý Thái hoàng thái hậu
Kế nhiệm Không có
Cùng với Khôn Nghi Thái hoàng thái hậu là hai vị Thái hoàng thái hậu cuối cùng của nhà Nguyễn.
Thông tin chung
Phu quân Nguyễn Cảnh Tông
Đồng Khánh hoàng đế
Hậu duệ Có năm người con gái
Tước hiệu Phu nhân
Hoàng quý phi
Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Phụ Thiên Dực Thánh Khôn Nguyên Xương Minh Mục Từ Quảng Hậu Trang Tĩnh Nhân Thọ Thuần hoàng hậu[1]
(輔天翊聖坤元昌明穆慈廣厚莊靜仁壽純皇后)
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Hữu Độ
Sinh 22 tháng 12, 1870(1870-12-22)
Thanh Hóa, Đại Nam
Mất 9 tháng 11, 1935 (64 tuổi)
Phú Xuân, Đại Nam, Liên bang Đông Dương
An táng Tư Minh lăng

Phụ Thiên Thuần Hoàng Hậu (chữ Hán: 輔天純皇后, 22 tháng 12 năm 1870 - 9 tháng 11 năm 1935), còn được gọi là Đức Thánh Cung (德聖宮), là chính thất của Đồng Khánh hoàng đế thuộc triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Bà là đích mẫu của Khải Định hoàng đế và là bà nội trên danh nghĩa của Bảo Đại hoàng đế.

Bà cùng với Hựu Thiên Thuần hoàng hậu, thứ thất của Đồng Khánh, trở thành 2 vị Thái hoàng thái hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu có tên húy là Nhàn (嫻), tên tựHọc Khương (學姜), xuất thân từ dòng họ Nguyễn Hữu Thị (阮有氏) ở Thanh Hóa, con gái thứ hai của Cơ Mật viện Đại thần Kinh lược sứ Bắc Kỳ Vĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Độ. Hoàng hậu từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, xinh đẹp và nhân hậu.

Khi đến tuổi cập kê, bà được tuyển vào làm Chánh thất cho Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đàng, người được Tự Đức và Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm nhận nuôi vào năm 1879 và được đưa về Chánh Mông đường (正蒙堂) dạy dỗ. Lúc đó, Ưng Đàng được gọi là Hoàng tử Chánh Mông (皇子正蒙) rồi đổi tên thành Ưng Kỷ. Năm 1882, hoàng tử Ưng Kỷ được phong làm Kiên Giang quận công (堅江郡公).

Năm 1885, Xuất Đế Hàm Nghi phát động Trận Kinh thành Huế 1885Phong trào Cần Vương liên tiếp chống Pháp, cuối cùng thất bại và bị tù đày. Giữa lúc đó, chính quyền Pháp buộc triều đình nhà Nguyễn chọn ra một hoàng thân lên ngôi Hoàng đế Đại Nam và Kiên Giang quận công được chọn.

Ngày 19 tháng 9, năm 1885, Kiên Giang quận công đăng cơ, tức Đồng Khánh hoàng đế. Bà được phong làm Hoàng quý phi, cho cai quản mọi việc chốn hậu cung với kim bài chiều ngang khắc chữ: "Đồng Khánh sắc tứ", chiều dọc khắc chữ "Kiêm nhiếp lục viện". Sau khi Cảnh Tông qua đời năm 1889, bà bị tước đi phong hiệu và sống ẩn dật trong cung.

Năm 1916, Phụng Hóa công Nguyễn Phúc Bửu Đảo là con của bà Hòa tần Dương Thị Thục được kế vị ngai vàng, bà được Khải Định Đế tấn tôn làm Hoàng thái hậu[2]. Đến năm 1923, bà được dâng tôn hiệu là Khôn Nguyên Hoàng thái hậu (坤元皇太后), sinh nhật gọi là Thánh Thọ tiết (聖壽節), vì vậy bà được gọi là Thánh Cung hoàng thái hậu (聖宮皇太后) hay đơn giản là Đức Thánh Cung (德聖宮). Khải Định Đế khi chầu hầu, tôn gọi là Thánh Mẫu (聖母).

Năm 1933, Bảo Đại tôn phong bà làm Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu (坤元昌明太皇太后). Những năm cuối đời, bà bị liệt giường và chỉ nằm ở cung Diên Thọ do bị bệnh khớp rất nặng.

Năm 1935, Thái hoàng thái hậu qua đời, thọ 66 tuổi. Lăng của bà được gọi là Tư Minh lăng (思明陵), hay dân gian quen gọi Thánh Cung Lăng (聖宮陵), tọa lạc tại làng Dương Xuân, Hương Thủy, Thừa Thiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tôn thoại Đức Thánh Cung
  2. ^ Đại Nam thực lục - Chánh biên kỷ thứ 7 - Quyển 1 - Khải Định nguyên niên, tấn tôn Hoàng nguyên từ, Hoàng lệnh từ điều; 《大南實錄》正編第七紀 卷一 啟定元年九月 晉尊皇元慈皇令慈條
  • Truyện kể về các Vương phi, Hoàng hậu nhà Nguyễn - Thi Long, Nhà xuất bản Đà Nẵng.
  • Đại Nam liệt truyện