Vũ Thị Duyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lệ Thiên Anh Hoàng hậu
儷天英皇后
Hoàng thái hậu Đại Nam
Tại vị 1883 - 1889
Tiền nhiệm Từ Dụ hoàng thái hậu
Kế nhiệm Từ Minh Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu Đại Nam
Tại vị 1889 - 1903
Tiền nhiệm Từ Dụ Thái hoàng thái hậu
Kế nhiệm Phụ Thiên Thái hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Nguyễn Dực Tông
Tự Đức
Hậu duệ
Tên húy Duyên (緣) hoặc Hài (諧)
Tước hiệu Cung tần
Cần phi
Thuần phi
Trung phi
Hoàng quý phi
Hoàng hậu
Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Lệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh hoàng hậu
(儷天輔聖莊懿順孝勤恕溫慈賢明靜壽英皇后)
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Vũ Xuân Cẩn
Thân mẫu Trần phu nhân
Sinh 20 tháng 6 năm 1828
Lệ Thủy, Quảng Bình
Mất 3 tháng 6, 1902 (73 tuổi)
Phú Xuân, Đại Nam
An táng Khiêm lăng

Lệ Thiên Anh hoàng hậu (chữ Hán: 儷天英皇后, 20 tháng 6 năm 1828 - 3 tháng 6 năm 1903), là vợ chính thức của Nguyễn Dực Tông Tự Đức, vị quân chủ thứ tư của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Hoàng hậu là người đoan trang, xuất thân từ gia đình danh giá có học vấn, hiểu lễ nghi, rất được Từ Dụ Thái hậu yêu mến. Bấy giờ vua Tự Đức không có con, bèn nhận 3 hoàng tử từ trong hoàng gia nhận làm con nuôi, Hoàng hậu được phó thác nuôi dạy Thụy quốc công Ưng Chân, tức Dục Đức.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bà có tên là Duyên (緣)[1], lại có tên là Hài (諧)[2], sinh vào năm Minh Mạng thứ 19 (1828), ngày 9 tháng 5 âm lịch, bà xuất thân từ dòng họ Vũ Xuân (武春氏) ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha bà là Đông Các đại học sĩ Lệ Quốc công Vũ Xuân Cẩn, mẹ là Lệ Quốc phu nhân họ Trần. Bà từ bé nhàn tĩnh đoan nhã, tính khí nhu mì đặc biệt, lại thông thạo sách vở, hiểu nội tấc, cũng như rành rẽ việc trong nhà.

Về sau, mẹ đích của hoàng hậu là phu nhân họ Bạch được truy tặng Trang Nhân Lệ Quốc phu nhân (莊仁麗國夫人), mẹ đẻ phu nhân họ Trần được phong Trinh Từ Lệ Quốc phu nhân (貞慈麗國夫人).

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà được tuyển vào cung hầu Tự Đức Đế, khi đó còn là Phúc Tuy công, tại Tiềm để [3]. Vốn tính đoan trang, hiếu thuận, nên bà rất được mẹ chồng là Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu và chồng yêu quý[4].

Năm thứ 7 (1848), Phúc Tuy công Hồng Nhậm lên kế vị, Vũ thị được tấn phong làm Cung tần theo lệ của triều đình. Dựa theo việc xảy ra tương tự thời Thiệu Trị Đế, có lẽ là do phải chờ mãn tang 3 năm sau cái chết của Tiên Đế mới bắt đầu tiến hành phong hiệu chính thức các tần phi. Sau đó, bà lần lượt được tấn phong làm Cẩn phi (勤妃; 1850), Thuần phi (純妃; 1860), Trung phi (忠妃; 1861) và trở thành Hoàng quý phi vào năm Tự Đức thứ 15 (1862), cho trông coi 6 viện.

Năm Tự Đức thứ 35 (1882), mùa đông, bà bị giáng làm Trung phi, không cho trông coi 6 viện nữa. Nguyên nhân là vì việc quản lý nhân sự của bà không được chu toàn. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Lúc bấy giờ cơ vụ rất nhiều, (vậy mà) có khi quá trưa vua mới được ăn. Vua se mình đang uống thuốc, cung nhân tiến cơm hơi chậm (làm) trái ý vua" [5].

Năm thứ 36 (1883), Tự Đức băng hà. Trước khi mất, Tiên đế di chiếu tôn bà làm Hoàng hậu, để "trị việc trong nhà và dạy tự quân". Người kế vị là Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Chân, vị hoàng tử được bà dạy dỗ từ trước, tức Dục Đức.

Biến loạn kinh thành[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Tông Huệ hoàng đế tại vị được 3 ngày thì bị hai người là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường phế bỏ [6], giam trong ngục Thừa Thiên, rồi mất sau đó không lâu[7]. Sau khi ép chết Cung Tông, cả hai ông này lập người em của Tự Đức là Lãng Quốc công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên kế vị, tức Văn Lãng Quận vương, con trai thứ 29 của Thiệu Trị.

Mùa thu, năm 1883, theo di chiếu, đình thần định tôn lập bà làm Hoàng hậu. Nhưng chưa kịp tổ chức lễ, thì bà đã đến cung Gia Thọ lạy từ thái hậu Từ Dụ để xin ra chầu thờ ở Lăng Tự Đức, vì xét thấy mình đã không làm tròn việc dạy dỗ tự quân (tức Cung Tông). Khi ấy, Hiệp Hòa ngỏ ý mời bà đến điện Cao Minh để bái yết và dâng cơm, nhưng bà không nhận mà đi thẳng ra Ôn Khiêm đường ở Khiêm Lăng. Sau khi hỏi ý kiến các tôn nhân và đình thần, Hoàng đế tôn bà là Khiêm Hoàng hậu (謙皇后).

Tháng 10, năm 1883, Hiệp Hòa cũng bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sai người giết chết [8], rồi tôn Giản Tông Nghị hoàng đế lên thay. Tháng 6, năm 1884, Giản Tông băng hà đột ngột. Lập tức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tôn Hàm Nghi lên thay. Tháng 3, năm 1885, Hàm Nghi tấn phong Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu, nhân đó muốn xin tôn phong huy hiệu cho Khiêm Hoàng hậu như đúng lễ nhưng bà không nhận.

Lúc xảy ra Trận Kinh thành Huế 1885, Hàm Nghi phải xuất bôn ra Quảng Trị, bà cùng chạy theo Nghi Thiên Thái hoàng thái hậu ra đấy. Cùng chạy với bà còn có Học phi Nguyễn Văn thị, mẹ nuôi của Nguyễn Giản Tông. Sử nhà Nguyễn thường gọi cả ba người là Tam cung (三宮). Khi nghị hòa xong, Tam cung về ngụ ở Khiêm Lăng.

Đến khi Đồng Khánh kế vị, quân đội Pháp trao trả lại kinh thành Huế cho triều đình nhà Nguyễn thì Tam cung quay trở về Kinh thành. Khiêm hoàng hậu về lại cung Trường Ninh, về sau đổi tên là cung Trường Sanh trong Hoàng thành Huế.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 4, năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), Cảnh Tông cùng quần thần dâng sách vàng, ấn vàng tôn bà làm Trang Ý Hoàng thái hậu (莊懿皇太后). Đến tháng 10, năm 1889 (Thành Thái năm thứ nhất), bà được tôn làm Trang Ý Thuận Hiếu Thái hoàng thái hậu (莊懿順孝太皇太后).

Năm Thành Thái thứ 14 (1903), ngày 17 tháng 4 (tức ngày 3 tháng 6 dương lịch), Thái hoàng thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Bà được dâng thụy hiệuLệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh hoàng hậu (儷天輔聖莊懿順孝勤恕溫慈賢明靜壽英皇后), thường gọi tắt là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (儷天英皇后) và được an táng trong Khiêm Thọ lăng (謙壽陵), nằm bên trái Khiêm lăng.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiền tổ phụ: Vũ Xuân Phổ, tặng Tư Thiện đại phu, Thượng thư bộ Lễ, tước Thuận Xương hầu, thụy Đôn Nhã.
  • Hiền tổ mẫu: Vũ Văn thị, tặng Đoan nhân, thụy Phương Huy.
    • Tằng tổ phụ: Vũ Xuân Uyên, tặng Gia Nghị đại phu, Hàn Lâm viện Chưởng viện học sĩ, tước Đức Hòa bá, thụy Đôn Trực.
    • Tằng tổ mẫu: Vũ Văn thị, tặng Thục nhân, thụy Nhu Gia.
      • Cao tổ phụ: Vũ Xuân Yên, tặng Trung Thuận đại phu, Hàn Lâm viện Thịc độc Học sĩ, tước Thế Lộc tử, thụy Đoan Phác.
      • Cao tổ mẫu: Phạm thị, tặng Cung nhân, thụy Hòa Nhu.
        • Tổ phụ: Vũ Xuân Khoa, tặng Trung Thuận đại phu, Hồ Lô tự Khanh, thụy Lương Uyên.
        • Tổ mẫu: Không rõ họ, tặng Cung nhân, thụy Tĩnh Nhàn.

Cha bà Vũ Xuân Cẩn truy tặng Lệ Quốc công (麗國公), chức Ngự tiền đại thần, Thái tử Thái bảo, Đông Các đại học sĩ, đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc đại phu. Bạch phu nhân mẹ đích và Trần phu nhân mẹ đẻ đều phong Lệ Quốc phu nhân.

Trong nhà bà còn 4 người anh em khác. Vũ Xuân Phúng làm tới Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ, Vũ Xuân Nhân làm Tri phủ của phủ Trọng Khánh, Vũ Xuân Hội làm Lang trung bộ CôngVũ Xuân Đạm làm Tu soạn.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Phúc tộc thế phổ (阮福族世譜) xuất bản năm 1995
  2. ^ Theo chiếu thư ban húy kị của triều Nguyễn
  3. ^ Phủ riêng của Trữ quân trước khi lên ngôi
  4. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 4), bản dịch: trang 84.
  5. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện (quyển 4), bản dịch: trang 86.
  6. ^ Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch: trang 498).
  7. ^ Có một vài tác giả viết Cung Tông bị bỏ đói cho đến chết, như ở đây: [1], [2]. Tuy nhiên, theo sử gia Phạm Văn Sơn, thì đang khi hoàng đế hết sức đau đớn vì đói khát, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã sai người giết ông bằng thuốc độc vì sợ để lâu sẽ sinh biến (Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, 1962, tr. 386).
  8. ^ Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên, bản dịch: trang 501.