Hoàng quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy Giai thị - sinh mẫu của Gia Khánh Đế.

Hoàng quý phi (Chữ Hán: 皇貴妃; Tiếng Anh: Imperial Noble Consorts) là một cấp bậc, danh phận của Phi tần trong Hậu cung của Hoàng đế.

Tước vị Hoàng quý phi thường xếp sau Hoàng hậu và đứng đầu các phi tần trong Hậu cung, đôi khi còn là tên gọi chính thất của Hoàng đế như truyền thống nhà Nguyễn, đế quốc Đại Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1457, Minh Đại Tông sách lập sủng phi Đường thị làm Hoàng quý phi, nhưng sau khi Minh Anh Tông đoạt lại ngôi, thân phận của Đường thị không được công nhận.

Thời Minh Hiến Tông, Vạn Trinh Nhi (萬貞兒) đắc sủng, được lập làm Hoàng quý phi, trở thành Hoàng quý phi đầu tiên trong lịch sử. Ông ban phong hiệu Hoàng (皇) lên chức vụ của Vạn thị lúc đó là Quý phi (貴妃), trở thành Hoàng quý phi. Từ đó, nhà Minh đều lấy Hoàng quý phi là phong hiệu cao quý nhất của các Phi tần.

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Hậu Cung, Hoàng quý phi là phi tần địa vị tôn quý cao nhất, gần với Hoàng hậu nhất, có quyền quản lý các sự kiện trong Hậu cung và đứng đầu các Phi tần. Chức danh này thường được ví như một Thứ hậu (次后).

Thanh triều hậu cung chỉ tại vị một Hoàng hậu và một Hoàng quý phi. Hoàng hậu chính thất qua đời thường hậu cung sẽ do Hoàng quý phi tiếp quản, hoặc cũng sẽ được phong thành Hoàng hậu. Ngoài ra, theo điển chế nhà Thanh thì Hoàng quý phi còn được mặc áo màu vàng, loại màu mà trước đó chỉ Hoàng thái hậu, Hoàng đếHoàng hậu có thể mặc.

triều đại Nhà Nguyễn Việt Nam có một truyền thống từ thời Minh Mạng Đế, xem Hoàng quý phi như là chính thất của Hoàng đế, sau khi qua đời sẽ được truy phong thành Hoàng hậu; khi mà các hoàng đế nhà Nguyễn thấy việc lập ngôi Hoàng hậu là không cần thiết.

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khác Huệ Hoàng quý phi Đông Giai thị (愨惠皇貴妃佟佳氏; 1668 – 1743).
  2. Đôn Di Hoàng quý phi Qua Nhĩ Giai thị (惇怡皇貴妃瓜爾佳氏; 1683 – 1768).
  3. Kính Mẫn Hoàng quý phi Chương Giai thị (敬敏皇貴妃章佳氏; ? - 1699).
  1. Đôn Túc hoàng quý phi Niên thị (敦肅皇貴妃年氏; ?-1725).
  2. Thuần Khác hoàng quý phi Cảnh thị (純愨皇貴妃耿氏; 1689 – 1784).
  1. Tuệ Hiền Hoàng quý phi Cao Giai thị (慧賢皇貴妃高佳氏; ? - 1745).
  2. Thuần Huệ Hoàng Quý phi Tô thị (纯惠皇贵妃苏氏, 1713 - 1760).
  3. Thục Gia Hoàng Quý phi Kim Giai thị (淑嘉皇贵妃 金佳氏, ? - 1755).
  4. Khánh Cung Hoàng Quý phi Lục thị (庆恭皇贵妃 陆氏, 1724 - 1774).
  5. Triết Mẫn Hoàng quý phi Phú Sát thị (哲悯皇贵妃 富察氏, ? - 20 tháng 5 năm 1735).
  1. Cung Thuận hoàng quý phi Nữu Hỗ Lộc thị (恭顺皇贵妃鈕祜祿氏, 1787 - 23 tháng 4 năm 1860).
  1. Trang Thuận hoàng quý phi Ô Nhã thị (莊順皇貴妃烏雅氏; 1822 - 1866).
  1. Trang Tĩnh Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị (莊靜皇貴妃他他拉氏; 1837 - 1890).
  2. Đoan Khác Hoàng quý phi Đồng Giai thị (端恪皇貴妃佟佳氏; 1844 - 1910).
  1. Thục Thận Hoàng quý phi Phú Sát thị (淑慎皇贵妃富察氏; 24 tháng 12 năm 1859 - 13 tháng 4 năm 1904).
  2. Cung Túc Hoàng quý phi A Lỗ Đặc thị (恭肅皇貴妃阿魯特氏; 20 tháng 9 năm 1857 - 14 tháng 4 năm 1921).
  3. Kính Ý Hoàng quý phi Hách Xá Lý thị (敬懿皇贵妃赫舍里氏; 2 tháng 7, 1856 - 5 tháng 2 năm 1932).
  4. Đôn Huệ Hoàng quý phi Tây Lâm Giác La thị (荣惠皇贵妃西林覺羅氏; 6 tháng 9 năm 1856 - 18 tháng 5 năm 1933).
  1. Ôn Tĩnh hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị (溫靖皇貴妃他他拉氏; 15 tháng 1 năm 1873 – 23 tháng 12 năm 1924).
  2. Khác Thuận hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị (恪顺皇贵妃他他拉氏; 27 tháng 2 năm 1876 - 15 tháng 8 năm 1900).

Nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Tất của Hoàng quý phi là chính thất của Hoàng đế, được truy phong Hoàng hậu sau khi qua đời. Duy chỉ có chính thất của Duy Tân hoàng đế là Mai Thị Vàng do Duy Tân bị lưu đày, bà vẫn giữ tước vị và không được truy phong.

Ngoài ra, Hoàng quý phi Trương Như Thị Tịnh tuy không chính thức nhưng được Khải Định Đế tôn phong từ xa, và khi chết không được truy phong Hoàng hậu.

Nhà Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên là một Vương quốc vì Nhà vua Triều Tiên chỉ xưng Vương. Năm 1897, Vua Triều Tiên Cao Tông xưng Hoàng đế, chính thất của nhà vua từ Vương phi trở thành Hoàng hậu, Nhất phẩm hậu cung từ Chính nhất phẩm Tần thành Hoàng quý phi.

Triều đại này chỉ có duy nhất một vị Hoàng quý phi: Thuần Hiến Hoàng Quý phi Nghiêm thị (純獻皇貴妃嚴氏; 순헌황귀비 엄씨; 5 tháng 1, 1854 – 20 tháng 7 năm 1911), con gái của Nghiêm Trấn Tam (엄진삼, Eom Jin-sam).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]