Hậu cung nhà Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quan nữ tử)
Jump to navigation Jump to search
Bức tranh 《Vạn quốc lai triều đồ》 vẽ hậu phi của Càn Long Đế.

Thanh triều Hậu cung (chữ Hán: 清朝後宮) là quy định và trật tự của hậu cung dưới thời nhà Thanh.

Ngoài bản thân Hoàng đế là người lớn nhất, bên cạnh đó còn có Hoàng thái hậu, Hoàng hậu cùng Phi tần, thái giám, cung nữ, tất cả đều tham gia vào sự vận động cuộc sống sinh hoạt hằng ngày trong cung. Triều đại nhà Thanh có tương quan ghi chép nhiều nhất trong các đời phong kiến Trung Quốc.

Thời Hậu Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hậu Kim thành lập, Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn chưa thành lập trật tự các vị thê thiếp của mình, vẫn gọi là Phúc tấn. Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng Đại hãn, các thê thiếp gọi chung là Chúng Phúc tấn (众福晋; Fujisa).

Lúc này, nội trướng của Hậu Kim tạm có trật tự một chút:

  • Đại Phúc tấn (大福晋; Amba Fujin): đứng đầu Chúng phúc tấn.
  • Tiểu Phúc tấn (小福晋; Ajige Fujin): dưới các Chúng phúc tấn.
  • Tiểu thê (小妻; buya sargan)
  • Tì thiếp (婢妾; gucihi)
  • Nhàn tản Phụ nhân (闲散妇人; sula hehesi)
  • Cách cách (格格; gege)

Đời sau, tuy lấy Hậu phi mà gọi thời kì này, song thật tế lúc đó không gọi như vậy[1].

Khi Hoàng Thái Cực lên ngôi, cho lập Trung cung Phúc tấn (中宫福晋), Đông cung Phúc tấn (东宫福晋) và Tây cung Phúc tấn (西宫福晋). Hoàng Thái Cực trước hết sắc lập Trung cung Phúc tấn và Tây cung Phúc tấn (cụ thể là ai thì vô pháp tham khảo), lại ở Thiên Thông năm thứ 6 (1632) sách lập Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (扎鲁特博尔济吉特氏) làm Đông cung Phúc tấn[2]. Thiên Thông năm thứ 9 (1635), ngày 7 tháng 10, sau khi vừa hạ sinh Cửu cách cách, Hoàng Thái Cực đem Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị ban cho Nam Chử (南褚) của Diệp Hách, cho thấy thái độ khinh mạn của Hoàng Thái Cực chúng tần thiếp, cũng như quan niệm trinh tiết khác với Trung nguyên, có thể dễ dàng đem thiếp thất ban cho người khác.

Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế ở Thịnh Kinh, do vậy đem hậu cung sửa lại định chế, gọi là Ngũ cung chế (五宮制) hay Sùng Đức Ngũ cung (崇德五宮). Sắc lập Triết Triết làm Thanh Ninh cung (清寧宮), là Quốc quân Phúc tấn; Hải Lan ChâuQuan Thư cung (關睢宮), Đông cung Đại phúc tấn, phong hiệu Thần phi (宸妃); Na Mộc ChungLân Chỉ cung (麟趾宮), Tây cung Đại phúc tấn, phong hiệu Quý phi (贵妃); Ba Đặc Mã TảoDiễn Khánh cung (衍清宮), Đông cung Trắc phúc tấn, phong hiệu Thục phi (淑妃); và cuối cùng là Đại Ngọc NhiVĩnh Phúc cung (永福宮), Tây cung Trắc phúc tấn, phong hiệu Trang phi (莊妃)[3].

Sau khi nhập quan[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Thuận Trị Đế, hậu cung nhà Thanh lại có biến chuyển:

  • Càn Thanh cung: thiết lập Phu nhân (夫人); Thục nghi (淑儀) mỗi chức 1 người; Uyển thị (婉侍) 6 người; Nhu uyển (柔婉) cùng Phương uyển (方婉) tổng 60 người;
  • Từ Ninh cung: thiết lập Trinh dung (貞容) 1 người; Thận dung (慎容) 2 người; còn có Cần thị (勤侍) vô định số;

Còn có Nữ quan, y theo 「Lục cục nhất Ti - 六局一司」của nhà Minh[4]. Tuy nhiên, phần trên chỉ là nghị định biên soạn, thực tế chưa bao giờ chấp hành.

Thuận Trị Đế phi vị đều lấy Phúc tấnCách cách mà xưng hô. Được xưng gọi Ngạch niết (额捏; nghĩa là Mẫu thân), cứ theo 《Thanh sử cảo·Cuốn 214·Hậu phi truyện》 thì là cách gọi cho các Thứ phi đã sinh dục Hoàng tửHoàng nữ. Qua thời Khang Hi Đế, tuy không còn gọi Phúc tấn, Cách cách đối với hậu cung tần ngự, nhưng về cơ bản vào thời kì đầu vẫn không có danh phận chính thức dành cho phi tần, đặc biệt là những phi tần sinh dục Hoàng tự. Điều này khiến Khang Hi Đế và triều thần lập tức nghị định, chế định hậu cung phẩm cấp.

Hậu Cung của Đương Kim Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Khác Mẫn hoàng hậu Uyển Dung, Hoàng hậu cuối cùng của nhà Thanh

Được chia làm các cấp bậc chính:

  • Hoàng hậu (皇后); vợ chính thức của Hoàng đế.
  • Phi tần (妃嬪)[5]; vợ lẽ của Hoàng đế. Họ là các "Chủ tử" trong Hậu cung, được các Thái giámCung nữ hầu hạ. Một khi nhập cung và nhận sắc phong của Hoàng đế, họ sẽ sống cả đời trong Hậu cung, trừ một số trường hợp khi Hoàng đế qua đời được đặc cách xuất cung ở với con trai là Thân vương, Quận vương.

Theo quy định triều Thanh, ngoài Càn Thanh cung dành cho Hoàng đế, Khôn Ninh cung dành cho Hoàng hậu, thì các nhóm tần phi đều ở 12 cung 2 bên sườn của Càn Thanh cung, gọi là Đông Tây lục cung (東西六宮).

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu (皇后) là vợ chính thống (chính thê) của Hoàng đế, vì vậy luôn luôn chỉ có một Hoàng hậu tại vị. Hoàng hậu được lập trong các trường hợp sau:

  • Khi Hoàng đế đến tuổi lập chính thất (trường hợp lên ngôi còn trẻ như Khang Hi Đế);
  • Khi một Hoàng tử lên ngôi Hoàng đế, Đích Phúc tấn sẽ được sắc phong Hoàng hậu[6];.
  • Khi một Hoàng hậu qua đời hoặc bị phế truất, triều đình sẽ tuyển chọn một Hoàng hậu mới hoặc một Phi tần được lập làm Hoàng hậu.[7];

Khi một Phi tần qua đời được truy phong; thường là bởi chồng[8] hoặc con trai ở ngôi Hoàng đế[9], thì sẽ trở thành Hoàng hậu. Khi truy phong thì không nhất thiết chỉ có một Hoàng hậu, các triều đại nhà Thanh thường có 2 Hoàng hậu trở lên, một là Hoàng hậu của Hoàng đế ấy, hai là mẹ sinh của Hoàng đế kế nhiệm.

Trên danh nghĩa, Hoàng hậu là người thống lĩnh Hậu cung, quản lý tất cả các Phi tần, Nữ quan, Thái giám và Cung nữ, tuy đôi lúc quyền này thực sự thuộc về một Phi tần đắc sủng. Hoàng hậu được coi là Hoàng đích mẫu (皇嫡母) của tất cả các Hoàng tử và Hoàng nữ trong Hoàng cung. Đầu Triều Thanh, Hoàng hậu sống ở Khôn Ninh cung, từ thời Ung Chính thì dọn sang một trong mười hai cung ở Hậu Cung.

Nhà Thanh có 13 Hoàng đế và tổng cộng 25 Hoàng hậu[10]

Phi Tần[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần (妃嬪) là vợ lẽ của Hoàng đế, cấp bậc dưới Hoàng hậu.

Là vợ thứ chính thức của Hoàng đế, không giống như các bậc Tỳ thiếp, việc sắc phong của Phi tần được tổ chức long trọng hơn các Tỳ thiếp, người chính thức cử hành chính, chủ trì là Hoàng đế và người sắp xếp là Hoàng hậu. Các vị có tước Tần trở lên sẽ là đứng đầu 1 cung trong mười hai cung, gọi là Cung chủ (宮主). Khi Hoàng đế lật thẻ (chọn người hầu ngủ) của Phi tần nào thì sẽ ngự giá tới cung của Phi tần đó, hoặc vời họ đến tẩm điện của Hoàng đế là Dưỡng Tâm điện.

Theo Quốc triều cung cử (国朝宫史) do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ TháiTrương Đình Ngọc soạn thảo, phi tần được chia làm các cấp và có hạn định như sau:

  • Hoàng quý phi (皇貴妃): thuộc hàng Chính nhất phẩm, đứng đầu các Phi tần, chỉ có một người tại vị. Hoàng quý phi thường được coi như Thứ hậu (次后). Khi Hoàng đế chưa thể sắc phong một Phi tần làm Hoàng hậu vì trái quy tắc (các dịp đại tang của Tiên đế, Thái hậu hoặc Hoàng hậu), thường sắc phong làm Hoàng quý phi.
  • Quý phi (貴妃): thuộc hàng Chính nhị phẩm, có 2 người tại vị.
  • Phi (妃): thuộc hàng Chính tam phẩm, có 4 người được tại vị.
  • Tần (嬪): thuộc hàng Chính tứ phẩm, có 6 người được tại vị.
  • Quý nhân (貴人): thuộc hàng Chính ngũ phẩm. Vô hạn định.
  • Thường tại (常在): thuộc hàng Chính lục phẩm. Vô hạn định.
  • Đáp ứng (答應): thuộc hàng Chính thất phẩm. Vô hạn định.

Dưới các phi tần còn có bậc Quan nữ tử (官女子), cũng gọi Cung nữ tử (宫女子) là danh vị thấp, thường dùng để phong các cung nữ được Hoàng đế sủng hạnh. Nếu được sủng ái, Quan nữ tử có thể được sắc phong các danh phận cao hơn như Đáp ứng. Tuy nhiên, thực chất cấp bậc Quan nữ tử dường như ít sử dụng trong chốn cung đình nhà Thanh. Cấp bậc này đặt ra nhằm mục đích lựa chọn tiêu chuẩn tối thiểu của Cung nữ để xem xét đặc cách và sắc phong các bậc cao hơn, đôi khi còn dùng để giáng các Phi tần khác, một số Phi tần không có xuất thân cung nữ cũng bị giáng làm Quan nữ tử. Bên cạnh đó, Quan nữ tử cũng dùng để phong một số tì thiếp của các Hoàng tử chưa có danh phận.

Dù đã có định số từng tước, nhưng triều Khang HiCàn Long vẫn thường phá lệ phong vượt số lượng đã định, cụ thể như:

  • Khang Hi năm 39 đến năm 50, có Ngũ phi: Đức phi, Huệ phi, Vinh phi, Nghi phi, Lương phi.
  • Khang Hi năm thứ 57 trở đi, có Thất phi: Đức phi, Huệ phi, Vinh phi, Nghi phi, Hòa phi, Tuyên phi, Thành phi.
  • Càn Long năm thứ 28, có Lục phi: Du phi, Khánh phi, Thư phi, Dĩnh phi, Hãn phi, Dự phi.
  • Càn Long 29 năm đến năm thứ 32, có Ngũ phi: Du phi, Khánh phi, Thư phi, Dĩnh phi, Dự phi.
  • Càn Long 33 năm đến năm thứ 38, có Ngũ phi: Du phi, Dung phi, Thư phi, Dĩnh phi, Dự phi.
  • Càn Long 41 năm đến năm thứ 42, có Lục phi: Du phi, Dung phi, Thư phi, Dĩnh phi, Đôn phi, Thuận phi.
  • Càn Long năm thứ 43 đến năm thứ 50, có Ngũ phi: Du phi, Dung phi, Dĩnh phi, Đôn phi, Thuận phi.

Hậu Cung của Tiên Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời kì nhà Thanh, chế độ triều đình Mãn Thanh đã khác so với các triều đại trước. Trong khi nhà Minh thời đầu tiếp tục giữ tục tuẫn tang, bắt ép các tần phi chôn theo Tiên đế, thì đến thời Thanh các tần phi được ưu đãi hơn, các phẩm vị và nơi ở riêng.

Theo quy định, sau khi Hoàng đế ngự băng, từ Hoàng hậu đến tần phi đều phải dọn đến bên ngoài Long Tông môn (隆宗門) một dãy kiến trúc, gọi là Quả phụ viện (寡妇院) của Tử Cấm Thành, lấy Từ Ninh cung (慈寧宮) làm đầu, bên cạnh đó còn có Thọ Khang cung (壽康宮), Ninh Thọ cung (寧壽宮) và Thọ An cung (壽安宮).

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ An Thái hậu
Tước vị Mẫu hậu Hoàng thái hậu, còn gọi là Đông Thái hậu.
Từ Hi Thái hậu
Tước vị Thánh mẫu Hoàng thái hậu, còn gọi là Tây Thái hậu.

Hoàng thái hậu (皇太后) là tôn hiệu dành cho ngạch nương của Hoàng đế. Trong hậu cung, với vai trò là trưởng bối và là mẹ của Hoàng đế, Hoàng thái hậu có quyền lực lớn hơn Hoàng hậu nhưng thường không trực tiếp can dự chuyện Hậu cung. Nơi ở của Hoàng thái hậu được có thể là Thọ Khang cung (壽康宮), đôi khi là Từ Ninh cung (慈寧宮) hoặc Ninh Thọ cung (寧壽宮).

Không giống như Hoàng hậu, có thể có nhiều hơn một Thái hậu tại vị một lúc. Đó là khi Hoàng đế là con vợ lẽ sinh ra, thì lúc đó theo chế pháp đích-thứ sẽ cùng tồn tại cả hai người mẹ của đương kim Hoàng đế. Một người là Hoàng hậu của Tiên đế, tức Hoàng đích mẫu (皇嫡母); còn người kia là mẹ ruột của Hoàng đế nhưng chỉ là phi tần của Tiên đế, tức Hoàng sinh mẫu (皇生母).

Vào thời nhà Minh, triều đại đầu tiên công nhận có thể tôn cùng lúc hai vị Hoàng thái hậu, quy định khá đơn giản rằng Hoàng đích mẫu sẽ có tôn hiệu, còn Hoàng sinh mẫu chỉ được gọi là Hoàng thái hậu, mà không có tôn hiệu. Sang đến đời nhà Thanh, triều đại này quy định cùng tôn hiệu cho cả hai Thái hậu, nhưng có sự khác biệt về ý nghĩa danh hiệu để phân chia.

Việc tôn phong Đích mẫu và Sinh mẫu được quy định cụ thể sau:

  • Nếu là Hoàng đích mẫu thì sẽ được phong là Mẫu hậu Hoàng thái hậu (母后皇太后).
  • Nếu là Hoàng sinh mẫu thì sẽ được phong là Thánh mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后).

Vào triều đại nhà Thanh, đã có 3 trường hợp cùng có 2 Hoàng thái hậu. Thứ nhất là thời Thuận Trị, Hiếu Đoan Văn hoàng hậu (đích mẫu) và Hiếu Trang Văn hoàng hậu (sinh mẫu); thứ nhì là thời Khang Hi, với Hiếu Huệ Chương hoàng hậu (đích mẫu) và Hiếu Khang Chương hoàng hậu (sinh mẫu); và cuối cùng là thời Đồng Trị - Quang Tự, tức thời đại của Từ An Thái hậuTừ Hi Thái hậu.

Các di sương phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần của Hoàng Đế đời trước mà không phải là mẹ đẻ của đương kim Hoàng đế thì trú tùy nghi ở các cung, đều cầu cận nhau mà sống. Khi có đại yến tổ chức ở Từ Ninh cung, họ mới tập họp lại mà vui vẻ, ngày thường thì họ đến các Phật đường được xây cất trong Từ Ninh cung để dâng hương, tạm yên ổn mà sống qua kiếp người.

Theo thông lệ, Hoàng đế cũng có thể tấn phong các phi tần của Tiên đế với cấp bậc cao hơn, và được gọi thêm yếu tố Hoàng khảo (皇考) hoặc Hoàng tổ (皇祖). Ví dụ như Thuần Khác Hoàng quý phi Cảnh thị, khi Ung Chính Đế giá băng chỉ là Dụ phi, Càn Long Đế tấn phong Hoàng khảo Dụ Quý phi (皇考裕贵妃). Những phi tần của ông nội Khang Hi Đế, như Đôn Di Hoàng quý phi Qua Nhĩ Giai thị sinh thời chỉ là Hòa phi, Ung Chính Đế tấn tôn Hoàng khảo Quý phi (皇考贵妃), và Càn Long Đế tôn làm Hoàng tổ Hoàng quý thái phi, thêm huy hiệu Ôn Huệ, gọi là Hoàng tổ Ôn Huệ Hoàng quý thái phi (皇祖温惠皇贵太妃).

Nếu họ có con trai được phong tước thì có thể được đặc cách dọn tới Vương phủ ở cùng con, nếu không sẽ ở Từ Ninh cung hoặc Thọ Khang cung. Nếu không có Thái hậu, thì các vị di sương tần phi sẽ đứng đầu, có thể trực tiếp cai quản Hậu cung và lựa chọn Hoàng hậu; như Kiêm Thiêu Hoàng khảo Cẩn Quý phi đời Phổ Nghi, Khang Từ Hoàng Quý thái phi đời Hàm Phong.

Tuyển chọn hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

Mân Quý phi Từ Giai thị - tham gia Bát Kỳ tuyển tú, sơ phong Thường tại.

Sau khi nhập quan, hậu phi nhà Thanh chủ yếu là từ Mãn Châu, Mông Cổngười Hán; xuất thân từ Bát kỳ quý tộc. Các nàng sẽ thông qua cái gọi là Bát Kỳ tuyển tú (八旗选秀), đường đường chính chính nhập cung dưới sự chỉ định của Hoàng đế hoặc Thái hậu. Trừ lần đó ra, rất ít nữ tử thông qua phương thức trở thành Hoàng đế phi tần, như Dung phi của Càn Long Đế.

Mỗi 3 năm, bộ Hộ phối hợp Nội Vụ phủ tuyển chọn con gái nhà lương gia trong Bát kỳ, độ từ 14 đến 16 tuổi, không tàn tật để tham gia đợt tuyển lựa Tú nữ, ngoài để chọn phi tần cho Hoàng đế, còn là để chỉ hôn cho Thân vương và hoàng thân. Tới phân nửa là để chỉ hôn cho hoàng thân, nên đây cũng không gọi là tuyển chọn tần phi. Chế độ cũ, chọn lựa Tú nữ, em gái của Hoàng hậu và tước Tần trở lên đều được miễn. Phàm Bát Kỳ quan viên, tên lính, nhàn tản nữ nhi, toàn bị tuyển. Gia Khánh năm thứ 11, mệnh Hán quân từ Bút thiếp thức trở lên có con gái đến tuổi, đều dự tuyển. Năm thứ 18, mệnh Mãn Châu Mông Cổ tự hộ quân trở lên đều bị tuyển.

Theo thông lệ, mỗi ngày tuyển 2 kỳ, lấy nhân số nhiều ít đều xứng, không tự ý phân. Trước 1 ngày, Cai kỳ Tham lĩnh, Lĩnh thôi tập bày xe. Như chọn Chính Hoàng kỳ và Tương Hoàng kỳ, xét mỗi kỳ Mãn-Mông-Hán thì phân ra 3 cỗ, mỗi cỗ ghi tuổi tác, phân ra trước sau thứ tự. Chính Hoàng trước, rồi Tương Hoàng sau, các xe cứ thế đi theo hình đuôi cá, xa thụ song đăng. Buổi chiều tối bắt đầu, nửa đêm nhập cửa sau, đến bên ngoài Thần Vũ môn (神武门). Ở phía sau, theo thứ tự xuống xe mà vào. Xe đó đi từ Thần Vũ môn ra đến Đông Hoa môn (东华门). Từ Sùng Văn môn (崇文门) ra đến Bắc phố xá, sau lại vòng cửa sau chạy đến Thần Vũ môn, lúc này đã tầm giờ Tị giờ Ngọ hôm sau, đã tuyển tú xong, lần lượt ra xe mà về. Tuy trăm ngàn chiếc xe, mà ngay ngắn trật tự. Khi Nội Vụ phủ tam kỳ tuyển chọn, cũng đỗ xe ở Địa An môn (地安门).

Tú nữ đi từ Thần Vũ môn, đến Thuận Trinh môn (顺贞门) thì xin đợi, có Hộ bộ Tư quan quản lý. Đến khi, Thái giám Ấn ban dẫn vào, mỗi ban 5 người, lạy mà không quỳ. Khi đến trước mặt Hoàng đế và Thái hậu, Tú nữ được đọc tên sẽ đứng lên trước, mắt cúi xuống, không nhìn trực diện lưỡng cung, hoàn toàn không được nói gì cả, cho đến khi Tú nữ kế tiếp được đọc tên thì lui về hàng sau. Khi được chọn, nàng đó sẽ là "Lưu bài tử" (留牌子), sau đó lại tham gia Phục tuyển, nếu không gọi lưu lại thì là bị rớt, còn lưu lại thì tiếp tục. Khi phục tuyển lần thứ hai, Tú nữ sẽ có hai vận mệnh, một là chỉ hôn cho hoàng thân, hai là lưu lại dự trù làm cung phi. Tuy nhiên lưu bài tử vào cung cũng trải qua nhiều quá trình khác, nhiều lần "Phục khán", "Ký danh", lại được Hoàng đế đích thân lựa chọn thì "Thượng ký danh", bắt đầu quá trình "Lưu cung trụ túc" để tỉ mỉ khảo sát, ai hoàn thiện được sẽ là hậu phi, còn không sẽ bị loại, gọi là "Lược bài tử" (撂牌子).

Thanh triều cung đình tuyển mỹ, tức cái gọi là Tú nữ (秀女), đầu tiên cần thiết là huyết thống thuần khiết con gái nhà quan viên, lấy bảo trì Mãn Châu quý tộc tôn nghiêm cùng đặc quyền. Sau khi bảo đảm huyết thống cùng xã hội địa vị cao thượng, mới tới dung mạo của nữ tử cùng tố chất. Chế độ Bát Kỳ tuyển tú không chỉ để chọn tần phi, mà còn để chọn con cái mà chỉ hôn cho hoàng tử tông thân, nên xét về gia thế cơ bản của bất cứ quý tộc Mãn Thanh nào, cũng đều sẽ có con gái dự tuyển trúng.

Sau khi vào cung, Tú nữ như nhau sơ phong Đáp ứng, Thường tại hay Quý nhân tùy vào ý định của Hoàng đế. Quý nhân trở lên đều xuất thân từ nhiều thế hệ hiển quý nhân gia, Quý nhân trở xuống chỉ cần là con gái Bái đường a (Chấp sự nhân) là được phong. Tuy nhiên, vào thời kì cuối như Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự lại có nhiều phá lệ, phong làm Tần ngay khi tuyển tú (như Từ An Thái hậu).

Cung nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy thị, là Cung nữ Bao y xuất thân.

Cung nữ nhà Thanh, chủ yếu đến từ đợt xét tuyển của Nội Vụ phủ mà vào, gọi là Nội Vụ phủ tuyển Tú nữ (內務府選秀女).

Theo đó, Nội Vụ phủ mỗi năm sẽ xét tuyển 1 lần, đối tượng là Bao y trong Thượng Tam kỳ (Tương Hoàng kỳ, Chính Hoàng kỳ, Chính Bạch kỳ), độ tuổi từ 12 đến 15, yêu cầu ngũ quan đoan chính, hành động nhanh nhẹn, ăn nói rõ ràng. Tất cả đều phỏng vấn ở Ngự Hoa viên trong Tử Cấm Thành, mỗi lượt chọn 5-6 người, sau đó trở thành Cung nữ, phân phối đến các cung điện phục vụ, ai không được chọn thì có thể về nhà kết hôn[11]. Do đợt xét tuyển này khác với Bát Kỳ tuyển tú, nên sẽ không thể có trường hợp Tú nữ Bát Kỳ thành Cung nữ, trừ phi cá nhân người đó muốn thành cung nữ.

Nếu là những người tuyển chọn thì sẽ có bổng lộc cao hơn vì được chọn lọc kỹ lưỡng để hầu hạ Hoàng đế, Thái hậu, Hoàng hậu và các chủ tử khác trong cung. Nếu những người vì hoàn cảnh mà bán vào trong cung thì sẽ làm việc tại các phòng, các ti trong Tử Cấm Thành. Dưới thời Ung Chính, cung nữ hầu hạ cho Quý nhân trở lên, tắc phải được tuyển từ con nhà thế gia trong tầng lớp Bao y, còn những người Thường tại, Đáp ứng thì mới tuyển cung tì xuất thân thấp kém.

Phân phối cung nữ:

  • Hoàng thái hậu: 12 người,
  • Hoàng hậu: 10 người,
  • Hoàng quý phi: 8 người,
  • Quý phi: 8 người,
  • Phi: 6 người,
  • Tần: 6 người,
  • Quý nhân: 4 người,
  • Thường tại: 3 người,
  • Đáp ứng: 2 người,

Khác với các chủ nhân ở Hậu cung, Cung nữ đời nhà Thanh chỉ phải ở trong cung đến 25 tuổi là có thể xuất cung và sống như những người phụ nữ bình thường khác (lấy chồng, sinh con...). Cũng có những trường hợp Cung nữ tự nguyện ở trong cung cả đời, trở thành Cô cô Trưởng quản Cung nữ của một cung, hoặc sẽ trở thành phi tần, như Lệnh Ý Hoàng quý phi. Còn có những trường hợp như được ban làm nha hoàn hồi môn cho Công chúa, hoặc ban làm thiếp cho quan thần, ví dụ Kỷ Hiểu Lam từng được ban 2 cô cung nữ làm thiếp.

Sau khi ra khỏi cung, người cung nữ đó không được phục tiến, không được đến cửa cung thỉnh an, nhưng cũng có lệ cung nữ được sủng ái, sau khi ra khỏi cung cũng được triệu về trở lại trong một thời gian. Lời đồn rằng, cung nữ Song Hỉ (雙喜) của Từ An Thái hậu từng được gọi vào trở lại. Hay cung nữ Vinh Tử (荣子) của Từ Hi Thái hậu, từng chỉ hôn cho 1 viên Thái giám, sau được triệu hồi trở lại[12].

Tuy thân phận nô bộc, song theo quy định trong cung đình nhà Thanh, cung nữ nếu bị tội thì sẽ bị phạt quỳ, phạt trượng đánh, nếu phạm đại tội bất nghịch thì mới dùng phạt trượng đánh chết. Nhưng có một hạn chế nhất định, chính là không thể phạt đánh vào mặt, và hạn chế đánh chết cung nữ. Đôn phi của Càn Long Đế từng đánh chết cung nữ mà bị giáng làm Tần. Đặc biệt có một việc, khi Đổng Ngạc phi chết, Thuận Trị Đế từng đem 30 cung nữ tuẫn tang, về sau Khang Hi Đế triệt hạ bỏ đi quy tắc này[13].

Thiện đãi phẩm giai[sửa | sửa mã nguồn]

Lương bổng[sửa | sửa mã nguồn]

Cứ theo Cung trung tạp kiện (宫中杂件), hậu phi nhà Thanh có lương bổng và thiện đãi nhất định, ngoài lượng bạc thì còn có các nhu yếu phẩm, hơn kém tùy vào cấp độ.

Tước vị Lương bổng
(theo năm)
Nhu yếu phẩm
(theo năm)
Nhu yếu phẩm
(theo ngày)
Hoàng thái hậu[14] Vàng 20 lượng, bạc 2000 lượng
  • Mãng lụa 2 thất, bổ đoạn 2 thất, chức kim 2 thất, trang đoạn 2 thất, uy đoạn 4 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 2 thất, vân đoạn 7 thất,
  • Y tố đoạn 4 thất, lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 2 thất, dương đoạn 6 thất, cung trù 2 thất, lộ trù 4 thất, sa 8 thất, lí sa 10 thất, phưởng sa 10 thất, hàng tế 10 thất,
  • Miên trù 10 thất, cao lệ bố 10 thất, tam tuyến bố 5 thất, mao thanh bố 40 thất, thô bố 5 thất, kim tuyến 20 lữu, nhung 10 cân, miên tuyến 6 cân, mộc miên 40 cân,
  • 2 hào ngân nữu 200, 3 hào ngân nữu 200, 2 đẳng điêu bì 10, 3 đẳng điêu bì 20, 5 đẳng điêu bì 70, lí điêu bì 12, hải long bì 12
  • Heo 1 con, dê, gà, vịt các loại 1 chỉ, tân canh mễ 2 thăng, hoàng lão mễ 1 thăng 5 hợp, cao lệ giang mễ 3 thăng, canh mễ phấn 3 cân, bạch diện 51 cân,
  • Kiều mạch diện, mạch tử phấn các loại 1 cân, Oản đậu 3 hợp, chi ma 1 hợp 5 chước, bạch đường 2 cân 1 lưỡng 5 tiền, bồn đường 8 lưỡng, phong mật 8 lưỡng, hạch đào nhân 4 lưỡng, tùng nhân 2 tiền,
  • Cẩu kỷ 4 lưỡng, càn táo 10 lưỡng, trư nhục 12 cân, hương du 3 cân 10 lưỡng, kê đản 20 cá, diện cân 1 cân 8 lưỡng, đậu hủ 2 cân, phấn oa tra 1 cân, điềm tương 2 cân 12 lưỡng, thanh tương 2 lưỡng, thố 5 lưỡng, tiên thái 15 cân, gia tử 20 cá, vương qua 20 điều, bạch chá 7 chi, hoàng chá 2 chi, dương du chá 20 chi, dương du canh chá 1 chi,
  • Than Hồng la: mùa hè 20 cân, mùa đông 40 cân; than đen: mùa hè 40 cân, mùa đông 80 cân
Hoàng hậu[15] Bạc 1000 lượng
  • Mãng đoạn 2 thất, bổ đoạn 2 thất, chức kim 2 thất, trang đoạn 2 thất, uy đoạn 4 thất, thiểm đoạn 2 thất, kim tự đoạn 2 thất, vân đoạn 7 thất, y tố đoạn 4 thất,
  • Lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 2 thất, dương đoạn 6 thất, cung trù 2 thất, lộ trù 4 thất, sa 8 thất, lí sa 8 thất, lăng 8 thất, phưởng ti 8 thất, hàng tế 8 thất,
  • Miên trù 8 thất, cao lệ bố 10 thất, tam tuyến bố 5 thất, mao thanh bố 40 thất, thô bố 5 thất, kim tuyến 20 lữu, nhung 10 cân, miên tuyến 6 cân, mộc miên 40 cân, lí điêu bì 40, Ô lạp điêu bì 50
  • Thịt heo 16 cân, thịt dê 1 mâm, gà, vịt các 1 loại chỉ, tân canh mễ 1 thăng 8 hợp, hoàng lão mễ 1 thăng 3 hợp 5 chước, cao lệ giang mễ 1 thăng 5 hợp, canh mễ phấn 1 cân 8 lưỡng,
  • Bạch diện 7 cân 8 lưỡng, kiều mạch diện 8 lưỡng, oản đậu 3 hợp, bạch đường 1 cân, bồn đường 4 lưỡng, phong mật 4 lưỡng, hạch đào nhân 2 lưỡng, tùng nhân 1 tiền, cẩu kỷ 4 lưỡng, càn táo 5 lưỡng, trư du 1 cân, hương du 1 cân, kê đản 10 cá, diện cân 12 lưỡng, đậu hủ 1 cân 8 lưỡng, phấn oa tra 1 cân, điềm tương 1 cân 6 lưỡng 5 tiền, thanh tương 1 lưỡng, thố 2 lưỡng 5 tiền,
  • Tiên thái 15 cân, gia tử 20 cá, vương qua 20 điều, bạch chá 5 chi, hoàng chá 4 chi, dương du chá 10 chi, dương du canh chá 1 chi,
  • Than Hồng la: mùa hè 10 cân, mùa đông 20 cân; Than đen: mùa hè 30 cân, mùa đông 60 cân
Hoàng quý phi[16] Bạc 800 lượng
  • Mãng đoạn 1 thất, bổ đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 2 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 6 thất, y tố đoạn 3 thất,
  • Lam tố đoạn 3 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 4 thất, bành đoạn 4 thất, cung trù 2 thất, lộ trù 3 thất, sa 8 thất, lí sa 7 thất, lăng 7 thất, phưởng ti 7 thất, hàng tế 7 thất, miên trù 6 thất, cao lệ bố 8 thất, tam tuyến bố 3 thất, mao thanh bố 15 thất, thâm lam bố 15 thất, thô bố 5 thất, kim tuyến 14 lữu, nhung 8 cân, miên tuyến 6 cân,
  • Mộc miên 30 cân, lí điêu bì 30, ô lạp điêu bì 40
  • Thịt heo 12 cân, thịt dê 1 mâm, gà 1 chỉ (hoặc vịt 1 chỉ), trần canh mễ 1 thăng 5 hợp, hoàng lão mễ 1 thăng 3 hợp 5 chước, cao lệ giang mễ 1 thăng 5 hợp, canh mễ phấn 1 cân 8 lưỡng,
  • Bạch diện 5 cân, kiều mạch diện 8 lưỡng, oản đậu 3 hợp, bạch đường 5 lưỡng, bồn đường 4 lưỡng, phong mật 4 lưỡng, hạch đào nhân 1 lưỡng, tùng nhân 1 tiền, cẩu kỷ 4 lưỡng, càn táo 5 lưỡng,
  • Trư du 1 cân, hương du 1 cân, kê đản 10 cá, diện cân 12 lưỡng, đậu hủ 1 cân 8 lưỡng, phấn oa tra 1 cân, điềm tương 1 cân 6 lưỡng 5 tiền, thanh tương 1 lưỡng, thố 2 lưỡng 5 tiền,
  • Tiên thái 15 cân, gia tử 20 cá, vương qua 20 điều, bạch chá 5 chi, hoàng chá 4 chi, dương du chá 10 chi, dương du canh chá 1 chi,
  • Than hồng la: mùa hạ 10 cân, mùa đông 20 cân, Than đen: mùa hạ 30 cân, mùa đông 60 cân,
  • Lá Lục An trà 14 lượng (mỗi tháng), Lá Thiên Trì trà 8 lượng (mỗi tháng)
Quý phi[17] Bạc 600 lượng
  • Mãng đoạn 1 thất, bổ đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 2 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 4 thất, y tố đoạn 3 thất,
  • Lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 2 thất, bành đoạn 1 thất, cung trù 2 thất, lộ trù 3 thất, sa 4 thất, lí sa 7 thất, lăng 6 thất, phưởng ti 7 thất, hàng tế 5 thất, miên trù 5 thất, cao lệ bố 6 thất, tam tuyến bố 2 thất, mao thanh bố 12 thất, thâm lam bố 12 thất, thô bố 5 thất, kim tuyến 12 lữu, nhung 6 cân, miên tuyến 4 cân,
  • Mộc miên 25 cân, lí điêu bì 20, ô lạp điêu bì 30
  • Thịt heo 9 cân 8 lưỡng, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 15 chỉ (mỗi tháng), trần canh mễ 1 thăng 3 hợp 5 chước, bạch diện 3 cân 8 lưỡng, bạch đường 3 lưỡng, hạch đào nhân 1 lưỡng, càn táo 1 lưỡng 6 tiền, hương du 6 lưỡng, kê đản 4 cá, diện cân 4 lưỡng, đậu hủ 1 cân 8 lưỡng, phấn oa tra 8 lưỡng, điềm tương 6 lưỡng 5 tiền, thanh tương 8 tiền, thố 2 lưỡng 5 tiền,
  • Tiên thái 10 cân, gia tử 8 cá, vương qua 8 điều, bạch chá 2 chi, hoàng chá 2 chi, dương du chá 5 chi,
  • Than hồng la: mùa hạ 10 cân, mùa đông 15 cân; Than đen: mùa hạ 30 cân, đông 60 cân,
  • Lá Lục An trà 14 lưỡng (mỗi tháng), Lá Thiên Trì trà 8 lưỡng (mỗi tháng)
Phi[18] Bạc 300 lượng
  • Mãng đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 2 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 4 thất, y tố đoạn 2 thất, lam tố đoạn 1 thất,
  • Mạo đoạn 1 thất, bành đoạn 3 thất, cung trù 1 thất, lộ trù 2 thất, sa 4 thất, lí sa 5 thất, lăng 5 thất, phưởng ti 4 thất, hàng tế 5 thất, miên trù 5 thất, cao lệ bố 5 thất, tam tuyến bố 2 thất, mao thanh bố 10 thất, thâm lam bố 10 thất, thô bố 3 thất, kim tuyến 10 lữu, nhung 5 cân, miên tuyến 3 cân, mộc miên 20 cân, lí điêu bì 10,
  • Ô lạp điêu bì 20
  • Thịt heo 9 cân, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 10 chỉ (mỗi tháng), trần canh mễ 1 thăng 3 hợp 5 chước, bạch diện 3 cân 8 lưỡng, bạch đường 3 lưỡng, hạch đào nhân 1 lưỡng,
  • Càn táo 1 lưỡng, hương du 6 lưỡng, kê đản 4 cá, diện cân 4 lưỡng, đậu hủ 1 cân 8 lưỡng, phấn oa tra 8 lưỡng, điềm tương 6 lưỡng 5 tiền, thố 2 lưỡng 5 tiền, tiên thái 10 cân,
  • Gia tử 8 cá, vương qua 8 điều, bạch chá 2 chi, hoàng chá 2 chi, dương du chá 2 chi,
  • Than hồng la: mùa hạ 5 cân, mùa đông 10 cân; Than đen: mùa hạ 25 cân, mùa đông 40 cân,
  • Lá Lục An trà 14 lưỡng (mỗi tháng), Lá Thiên Trì trà 8 lưỡng (mỗi tháng)
Tần[19] Bạc 200 lượng
  • Mãng đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 1 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 2 thất, y tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 1 thất,
  • Dương đoạn 1 thất, bành đoạn 1 thất, cung trù 1 thất, lộ trù 2 thất, sa 1 thất, lí sa 2 thất, lăng 3 thất, phưởng ti 3 thất, hàng tế 3 thất, cao lệ bố 4 thất,
  • Mao thanh bố 8 thất, thâm lam bố 8 thất, thô bố 4 thất, kim tuyến 6 lữu, nhung 3 cân, miên tuyến 3 cân, mộc miên 15 cân, lí điêu bì 4, ô lạp điêu bì 20
  • Thịt heo 6 cân 8 lưỡng, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 10 chỉ (mỗi tháng), trần canh mễ 1 thăng 3 hợp, bạch diện 2 cân, bạch đường 2 lưỡng, hương du 5 lưỡng 5 tiền,
  • Đậu hủ 1 cân 8 lưỡng, phấn oa tra 8 lưỡng, điềm tương 6 lưỡng, thố 2 lưỡng, tiên thái 8 cân, gia tử 6 cá, vương qua 6 điều, bạch chá 2 chi, hoàng chá 2 chi, dương du chá 2 chi,
  • Than hồng la: mùa hạ 5 cân, mùa đông 8 cân; Than đen: mùa hạ 20 cân, mùa đông 30 cân,
  • Lá Lục An trà 14 lưỡng (mỗi tháng), Lá Thiên Trì trà 8 lưỡng (mỗi tháng)
Quý nhân[20] Bạc 100 lượng
  • Uy đoạn 1 thất, vân đoạn 2 thất, y tố đoạn 2 thất, lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 1 thất, cung trù 1 thất, lộ trù 2 thất, sa 2 thất,
  • Lí sa 2 thất, lăng 2 thất, phưởng ti 2 thất, cao lệ bố 3 thất, mao thanh bố 6 thất, thâm lam bố 6 thất, thô bố 3 thất, kim tuyến 3 lữu, nhung 3 cân, miên tuyến 2 cân,
  • Mộc miên 12 cân, lí điêu bì 4, ô lạp điêu bì 10
  • Thịt heo 6 cân, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 8 chỉ (mỗi tháng), trần canh mễ 1 thăng 2 hợp, bạch diện 2 cân, bạch đường 2 lưỡng, hương du 3 lưỡng 5 tiền, đậu hủ 1 cân, phấn oa tra 8 lưỡng, điềm tương 6 lưỡng, thố 2 lưỡng, tiên thái 6 cân, gia tử 6 cá, vương qua 6 điều, bạch chá 1 chi, hoàng chá 1 chi, dương du chá 1 chi,
  • Than hồng la mùa đông 5 cân; Than đen: mùa hạ 18 cân, mùa đông 25 cân,
  • Lá Lục An trà 7 lưỡng (mỗi tháng), Lá Thiên Trì trà 4 lưỡng (mỗi tháng)
Thường tại[21] Bạc 50 lượng
  • Vân đoạn 1 thất, y tố đoạn 1 thất, bành đoạn 1 thất, cung trù 1 thất, lộ trù 1 thất, sa 1 thất, lăng 1 thất, phưởng ti 1 thất, mộc miên 3 cân
  • Thịt heo 5 cân, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 5 chỉ (mỗi tháng), trần canh mễ 1 thăng 2 hợp, bạch diện 2 cân, bạch đường 2 lưỡng, hương du 3 lưỡng 5 tiền,
  • Đậu hủ 1 cân 8 lưỡng, phấn oa tra 8 lưỡng, điềm tương 6 lưỡng, thố 2 lưỡng, tiên thái 6 cân, gia tử 6 cá, vương qua 6 điều, bạch chá 2 chi, dương du chá 1 chi,
  • Than đen: mùa hạ 10 cân, mùa đông 20 cân
Đáp ứng[22] Bạc 30 lượng
  • Vân đoạn 1 thất, y tố đoạn 1 thất, bành đoạn 1 thất, cung trù 1 thất, lộ trù 1 thất, sa 1 thất, lăng 1 thất, phưởng ti 1 thất, mộc miên 3 cân
  • Thịt heo 1 cân 8 lưỡng, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 5 chỉ (mỗi tháng), trần canh mễ 6 hợp, bạch diện 2 cân, tùy thời tiên thái 2 cân, hoàng chá 1 chi, Dương du chá 1 chi,
  • Than đen: hạ 5 cân, đông 10 cân
Quan nữ tử[23] Bạc 6 lượng
  • Vân đoạn 1 sơ, cung trừu 1 sơ, sa 1 sơ, phưởng ti 1 sơ, hàng tế 1 sơ, mộc miên 2 cân
  • Thịt heo 1 cân, bạch lão mễ 7 hợp 5 chước, hắc diêm 3 tiền, tiên thái 12 lưỡng

Phẩm phục[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với một hậu phi nhà Thanh, trang phục vào dịp sắc phong hoặc đại lễ luôn được yêu cầu, không chỉ thể hiện vinh quang của nhà Thanh, mà còn thể hiện địa vị của vị phi tần đó. Theo quy định nhà Thanh, một lễ phục cơ bản của hậu phi là: Triều quan (朝冠), Kim ước (金约), Nhị (珥), Lãnh ước (领约), Triều châu (领约), Thải thuế (彩帨), Triều quái (朝褂), Triều bào (朝袍), Triều váy (朝裙) cùng Triều ủng (朝靴) mười loại tạo thành[24].

Chủ yếu quần áo từ ngoài vào trong, phân biệt là: Triều quái, Triều bào và Triều váy 3 thứ. Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đều giống nhau, đơn giản vì danh xưng Thái hậu ý chỉ “Hoàng hậu của Tiên đế” nên trang phục cùng Hoàng hậu đồng dạng. Xuống dưới tần phi tước Tần trở lên và mệnh phụ cấp cao mới cùng giống, và cũng chỉ có Tần trở lên mới có Triều quái, Triều bào, Triều quan mà thôi.

Triều phục[sửa | sửa mã nguồn]

Triều phục thể hiện trên tranh chân dung của Hiếu Kính Hiến hoàng hậu.
Triều phục thể hiện trong tranh chân dung của Hiếu Đức Hiển hoàng hậu.
Triều phục Hoàng hậu của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu.
Triều phục Hoàng quý phi của Tuệ Hiền Hoàng quý phi.
  • [Triều quái; 朝褂]: là một loại áo khoác mặc bên ngoài Triều bào ở dưới Phi lĩnh. Theo Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ ghi lại thì: “Sắc dùng thanh, trường vạt vô mệ, dệt kim long văn, dệt kim lụa hoặc dệt kim lụa nạm biên”.
  1. Triều quái không có tay áo, cân vạt và dài. Loại áo này có cơ bản 4 thể, loại đầu tiên có thể thấy trên tranh vẽ Hiếu Kính Hiến hoàng hậu của Ung Chính Đế và một số tranh hậu phi đời trước, đều cùng một loại mẫu để vẽ. Thể thức này tay áo màu lam, vạt áo xẻ tà đằng trước, viền áo nạm kim, trước ngực là một hình rồng chính long, vạt áo có 2 hành long, phía dưới vạt áo có thể thức bát bảo bình thủy. Có thể tạm xem đây là thể thức thời Khang-Ung thường dùng, vì bức họa các vị Hoàng hậu trở ra trước đều như vậy.
  2. Một số hình vẽ mệnh phụ thời gian này cũng có hình thức Triều quái tương tự như vậy. Loại thức này chính thức sang thời Càn Long trung kỳ bị bãi bỏ. Thời kỳ này, triều đình quy định Triều quái Hoàng hậu dùng màu xanh, trước sau là 2 hình đại lập long. Cứ theo [Khâm định cung trung hiện hành tắc lệ; 钦定宫中现行则例] thời Càn Long ghi lại: “Triều quái, sắc dùng xanh đá, phiến kim duyên, thêu văn trước sau lập long các nhị” (乾隆《钦定宫中现行则例》“朝褂,色用石青,片金缘,绣文前后立龙各二”). Phía dưới, Hoàng tử Phúc tấn đến Huyện chúa đều dùng thức trước 4 sau 3 hình rồng.
  3. Một loại Triều quái khác, gọi là “Hữu điệp triều quái” (有褶朝褂; dạng triều quái có tầng khúc). Loại này ở phần ngực trước sau thêu 2 hình lập long, phía dưới chia ra 4 tầng, hàng 1 và 3 thêu hành long, hàng 2 và 4 thêu vạn phúc vạn thọ đồ hình cùng với mây tía giao nhau. Loại này chỉ có tần phi trở lên dùng. Năm Càn Long thứ 36, Thanh Cao Tông vì Sùng Khánh Thái hậu vạn thọ mà ở Từ Ninh cung cử hành vạn thọ tiết, trong dịp này có [Từ Ninh yến hỉ đồ; 慈宁燕喜图], thể hiện tần phi trong điện đều vận dạng này Triều quái.
  4. Còn một loại Triều quái, thể hiện từ sau thời Càn Long trở đi. Cơ bản cũng là dạng 2 hình lập long, song hình lập long dời xuống hai vạt, viền áo thể hiện hình hoa văn vạn phúc vạn thọ cùng mây tía giao nhau, ở dưới vạt áo ngoài hoa văn sóng nước thì còn có các dải màu xanh, đỏ, lục, vàng, huyền xen kẽ nhau. Dạng thức này đến hết thời Thanh, có thể thấy các tranh Hoàng hậu đều là dạng này cả, như tranh vẽ Hiếu Đức Hiển hoàng hậu. Chỉ riêng đến thời Uyển Dung đăng vị Hoàng hậu, lại dùng thể thức Hữu điệp triều quái.
  • [Triều bào; 朝袍]: là áo mặc chính trong bộ lễ phục của hậu phi. Bộ triều phục gồm hai yếu tố quan trọng là: Mã đề tụ (马蹄袖; ống tay hình móng ngựa) cùng Phi lĩnh (披领; loại cổ giả khoác lên vai, còn gọi “Khoát lĩnh”), sau đó còn có cổ áo tròn (viên lĩnh), tay áo hẹp nách rộng có viền, hai sườn mở vạt, có hoa văn rồng, đều lấy hình thức cửu long. Hoàng thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng quý phi đều dùng Triều bào màu Minh hoàng sắc (明黄色).
  • [Triều váy; 朝裙], có hai loại, một là có áo hai là không dựa theo hiện vật thật. Hậu phi triều phục sử dụng trường hợp rất ít, chỉ ở trọng đại lễ nghi lễ mừng sử dụng, tỷ như đông chí, Nguyên Đán, vạn thọ, sắc phong,... và duy nhất lễ hiến tế tầm đàn của Hoàng hậu chủ trì. Hoàng Hậu triều váy, mùa Đông dùng phiến kim thêm hải long duyên, trên dùng hồng dệt kim thọ tự lụa, xuống dùng xanh đá hành long trang lụa, toàn dùng chính phúc, có bích tích. Mùa hè, triều váy dùng phiến kim duyên. Từ Hoàng hậu đến tần đều có quy chế như nhau.
  • [Triều quan; 朝冠]: là một dạng mũ dùng cho Triều phục, ở giữa có một vật trang trí có tầng Kim phượng, xung quanh còn gắn một vòng những con Kim phượng và 1 con Kim địch ở sau gáy mũ. Mặt sau của Triều quan, ở dưới đuôi Kim địch có gắn chuỗi Rũ châu làm trang sức. Phía sau của Triều quan có 1 tấm Hộ Lãnh - nguyên liệu dùng giống vành Triều quan rũ xuống phía dưới. Có 2 loại Triều quan, 1 cho mùa hè còn một cho mùa đông.
  1. Triều quan của Hoàng thái hậu, Hoàng hậu: mùa đông dùng da huân chồn, mùa hạ dùng Nhung xanh (có tài liệu ghi là Nhung đen) bọc ngoài. Trên đỉnh đính Chu vĩ (chính là phần lông mềm màu đỏ). Đỉnh có 3 tầng, mỗi tầng cách 1 viên Đông châu và 1 con Kim phượng, trên thân Kim phượng gắn 3 viên Đông châu, 17 viên Trân châu, trên cùng của đỉnh Triều quan gắn một 1 viên Đông châu cỡ lớn. Trên Chu vĩ có đính 7 con Kim phượng, trên thân Kim phượng gắn 9 viên Đông châu, 1 viên đá mắt mèo, 21 viên Trân châu; 1 con Kim địch, trên thân Kim địch gắn 1 viên đá mắt mèo, 16 viên Trân châu nhỏ. Chim Địch rũ châu, có 302 viên, kết thành 5 hàng dãy rũ. Dây rũ dùng Minh Hoàng sắc.
  2. Triều quan của Hoàng quý phi, Quý phi: lệ như của Hoàng hậu, mùa Đông dùng da Huân chồn, mùa hạ dùng Nhung xanh, đại khái như Hoàng hậu. Nhưng đuôi chim Địch sức 192 viên, kết thành 3 hàng dây rũ. Quý phi dây rũ dùng màu Kim hoàng sắc.
  3. Triều quan của Phi: trên đỉnh chỉ có 2 tầng, mỗi tầng cách 1 viên Đông châu và 1 con Kim phượng, trên thân Kim phượng gắn 9 viên Đông châu, 17 viên Trân châu, trên đỉnh dùng đá mắt mèo. Trên Chu vĩ có đính 5 con Kim phượng, sức 7 Đông châu, 21 trân châu; sau 1 Kim địch, đều như Quý phi. Chim Địch rũ châu, có 188 viên, kết thành 3 hàng dây rũ, đều như Quý phi.
  4. Triều quan của Tần: lệ như Quý phi, có 2 tầng, mặt trên cùng khảm đá Kha. Thân Kim phượng gắn 5 viên Đông châu, 19 viên Trân châu, Kim địch phía sau sức 16 Trân châu, rũ dây tổng 172 viên, còn lại đều như Phi.
  • [Thải thuế; 彩帨]: dây rũ bằng vải trước ngực của các bộ Triều quái, được cột bằng dây có màu theo quy định.
  1. Thải thuế của Hoàng hậu thường màu xanh biếc, thêu Ngũ cốc được mùa, dây cột màu Minh hoàng.
  2. Thải thuế của Hoàng quý phi, cùng Hoàng hậu tương đồng.
  3. Thải thuế của Quý phi, dây cột màu Kim hoàng, còn lại như Hoàng quý phi.
  4. Thải thuế của Phi, thêu hình Vân chi thụy bảo, còn lại như Quý phi.
  5. Thải thuế của Tần không thêu hoa văn, còn lại như của Phi.
  • [Triều châu; 领约]: một bộ dây ngọc khoác bên ngoài Triều quái, thành phần gồm 3 bộ, trong đó có 1 chuỗi dây bằng đá và 2 chuỗi san hô (màu đỏ), dây cột có màu. Hoàng hậu và Phi tần dựa theo chất liệu của Triều châu cùng màu của dây cột mà phân định:
  1. Hoàng hậu: 1 dây Đông châu (màu trắng), 2 dây San hô, dây thắt màu Minh hoàng.
  2. Hoàng quý phi: 1 dây Mật phách (màu vàng mật), 2 dây San hô, dây thắt màu Minh hoàng.
  3. Quý phi: quy chế như của Hoàng quý phi, riêng dây thắt màu Kim hoàng.
  4. Phi: quy chế như của Quý phi.
  5. Tần: 1 dây San hô, 2 dây Mật phách, dây thắt màu Kim hoàng.
  • [Lãnh ước; 领约]: là cái kiềng đeo trên cổ Triều quái.
  1. Hoàng hậu: có 11 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây sức đá Ngọc lam.
  2. Hoàng quý phi: có 7 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây cũng sức San hô.
  3. Quý phi: màu dây là Kim hoàng, còn lại như Hoàng quý phi.
  4. Phi và Tần: đều như Quý phi.
  • [Kim ước; 金约]: dây đeo trên trán, để giữ Triều quan.
  1. Hoàng hậu: khắc 13 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 324 viên, phân làm 5 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 5 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 8 viên Đông châu và 8 viên Trân châu xen kẽ.
  2. Hoàng quý phi và Quý phi: khắc 12 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 204 viên, phân làm 3 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 3 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 6 viên Đông châu và 6 viên Trân châu xen kẽ.
  3. Phi: khắc 11 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 194 viên, phân làm 3 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 3 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 6 viên Đông châu và 6 viên Trân châu xen kẽ.
  4. Tần: khắc 8 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 177 viên, phân làm 3 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 3 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 4 viên Đông châu và 4 viên Trân châu xen kẽ.
  • [Nhị; 珥]: tức là trang sức đeo ở lỗ tai, theo truyền thống người Mãn, hậu phi đều xỏ 3 lỗ ở tai và đeo 3 viên trang sức hoa tai vào khi mặc Triều phục. Theo quy chế, hình hoa tai của tần phi đều có hình rồng làm bằng vàng, ngoài ra còn sức trân châu mỗi bông 2 viên, tuy nhiên chất lượng trân châu tùy cấp bậc mà khác biệt:
  1. Hoàng hậu: hoa tai dùng Nhất đẳng Trân châu;
  2. Hoàng quý phi và Quý phi: dùng Nhị đẳng Trân châu;
  3. Phi: dùng Tam đẳng Trân châu;
  4. Tần: dùng Tứ đẳng Trân châu;

Cát phục[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với Triều phục phải dịp trọng đại vinh hiển mới được mặc, còn thì những việc hỉ hay cần trang trọng một chút, các hậu phi đều mặc một thứ phục sức gọi là Cát phục. Trong các triều đại Trung Quốc, chỉ có nhà Thanh là chính thức quy định loại phục sức này, dù trước đó nhà Minh đã hình thành khái niệm rồi.

Loại phục sức này cơ bản giống loại tiếp theo gọi Thường phục, nhưng hoa văn trang sức mỹ lệ, nên còn gọi là Thải phục (彩服) hay Hoa y (花衣). Một bộ Cát phục bao gồm: Long quái (龙褂) mặc ngoài và Long bào (龙袍) mặc bên trong.

Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu của Càn Long Đế mặc Long quái bên ngoài Long bào.
  • [Long quái; 龙褂], gọi như vậy loại áo “Quái” là dạng áo có xẻ vạt, thân áo dài, ống tay tương đối dài, nhưng không có thức Mã đề tụ, đều có màu xanh đen (tức là Thạch Lam sắc). Theo khai quật được, thì Quái của Đế vương là áo xẻ trước sau, trái phải thành 4 vạt, còn Hậu phi chỉ xẻ đằng sau. Nhưng cứ theo nhiều hình họa thời Thanh sơ kỳ, cho thấy áo nữ cũng xẻ trước sau trái phải 4 vạt như nam giới. Này cũng tương đối dễ hiểu vì đa phần quần áo thời kỳ trước nam nữ khá là giống nhau một cái hình thức.
  1. Hoa văn Long quái, thưở ban đầu là dạng Mãn trang (满装), một thân áo toàn hình Mãn thêu mây. Dạng hoa văn này từ thời Minh hậu kỳ đã hình thành. Năm Khang Hi thứ 25, cứ 《Tô Châu dệt cục chí》 có ghi nhận những thứ như “Mãn trang quái”, “Phong vân địa long thủy quái”...chính là thể Long quái này. Thể thức này, trước sau ngực thường là trước 2 sau 1 hình chính long, bả vai mỗi vai 1 chính long, ở hai vạt áo có hình phúc hành long trước sau 2 hình, cộng lại đủ 9 hình long. Bên dưới vạt có thể hoa văn “hải thủy giang nhai” (海水江崖). Ngoài ra còn có “Tứ long thức”; là trước sau hai hình đại lập long, hai vai mỗi vai hình 1 long. Loại áo Mãn trang quái này thời Khang-Ung khai quật hiện vật chiếm tỉ lệ rất cao.
  2. Thưở từ thời Càn Long trở đi, cho đến vãn kỳ, đều là dạng Đoàn long trang (团龙装). Đoàn long, tức là hình rồng ổ cuộn tròn, ngoài đoàn long phân bố ở hai vai, trước sau vùng ngực và trước sau phía dưới vạt áo, thì còn lại để trống và áo thường màu xanh đậm. Một số loại áo thêm hình sóng nước ở vạt áo và dải màu ở ống tay áo.
  • [Long bào; 龙袍], cũng gọi Mãng bào (蟒袍) hay Cát phục bào (吉服袍), loại áo mặc bên trong và cũng là áo chính của một bộ Cát phục thời Thanh. Áo thể viên lĩnh (cổ tròn), ống tay áo dạng Mã đề tụ, khai vạt trái phải, thân áo dài, lĩnh khâm (viền cổ áo) có viền hoa văn. Đại để khá tương đồng với Long bào của phái nam trong hoàng thất.
  1. Hoa văn của áo thường là Mãn địa văn (满地纹; hình hoa văn phủ khắp áo) và Đoàn văn (团纹; hình hoa văn ổ). Thời sơ kỳ, áo bào của Đế-Hậu cùng dạng đoàn long, sau chỉ có hậu phi sử dụng. Ngoài ra dưới vạt áo cũng có hoa văn cột thủy, sóng thủy và đôi khi có đề tài dơi, mây phủ rải rác thân áo bên cạnh đoàn long (cái này khác với dạng mãn địa văn).
  2. Cát phục thường mặc Long quái bên ngoài Long bào, song cũng có trường hợp chỉ mặc Long bào, nhưng do trang phục hoa văn của Long bào khá bắt mắt nên thông thường họ cũng không để lộ ra, chỉ khi vẽ tranh là thường như vậy.
  3. Long bào quy định màu sắc, tương tự triều bào: Thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng quý phi dùng màu Minh hoàng, Quý phi và Phi dùng màu Kim hoàng, còn Tần dùng màu Hương.
Lệnh phi mặc Long bào, không khoác Long quái.

Quy định về Cát phục của các bậc Hậu phi cụ thể như sau:

  1. Hoàng hậuHoàng quý phi: Long quái có 8 hình Ngũ trảo Kim long (五爪金龙) theo thể thức hình tròn khép kín, 2 vai là hình Chính long (正龙; hình rồng quay mặt ra chính diện), vát áo trước thêu 4 hình Hành long (行龙; hình rồng xoãi dài bề ngang), bên dưới là hình Bát bảo, Cột thủy, tay áo thêu hình Hành long. Còn một loại áo Long quái thì bên dưới không có Bát bảo Cột thủy, tay áo cũng không thêu hình gì. Long bào dùng màu Kim hoàng, cổ áo giả (Lĩnh tụ) dùng màu Thạch lam, toàn thân áo thêu 9 hình Kim long, xen kẽ là hình Ngũ sắc vân, Phúc thọ văn thải, trước sau chính giữ cổ là hình Chính long, trái phải có các hình Hành long tụ về, tay áo tương tiếp mỗi chỗ 2 hình Hành long, khai vạt. Loại áo thứ 2 Long bào, thêu Ngũ trảo Kim long 8 hình, 2 vai thêu Chính long, vạt áo 4 hình Hành long, bên dưới có Bát bảo, Cột thủy. Một loại nữa không có hoa văn bên dưới, còn lại đều như các loại trên.
  2. Quý phiPhi: đều có thể thức hoa văn tương tự với Hoàng hậu và Hoàng quý phi, cả Long quái và Long bào, duy Long bào đều dùng màu Minh hoàng.
  3. Tần loại dùng Long quái trước sau và 2 vai đều là Chính long, ở vạt áo dùng Quỳ long (夔龙; hình rồng lượn trong 1 hình tròn nhưng không quay chính diện), còn lại như Quý phi và Phi. Long bào của Tần dùng màu Hương, còn lại đều như trên.

Án theo lễ chế, Cát phục sẽ có Cát phục quan (吉服冠). Loại Cát phục quan này, có thể thấy giống với mũ nam giới, đầu là dạng mũ chóp lông đỏ, có thể tùy theo cấp bậc mà có điểm trang sức. Song trong các tranh họa thời kỳ này cũng có người không đội mũ mà chỉ biện tóc, tùy ý cài thêm hai ba loại trang sức. Lại có người dùng khăn đen phủ đầu, cài trâm. Sau này, loại khăn đó hình thành và đỉnh điểm ở thời Càn Long, đã ra Điền tử (钿子), một trong những loại phúc sức tiêu biểu của phụ nữ quý tộc nhà Thanh.

Điền tử về sau ngày càng gắn lên đó nhiều trang sức, trở thành một loại “Cát phục quan” không có trong điển lễ. Điền tử này trải qua quá trình biến đổi hình dạng, cuối cùng thành hình thể “thiên can” (挑杆) là hoàn chỉnh.

Tâm tả trị bình đồ (心寫治平圖) của Lang Thế Ninh, thể hiện từ Hoàng hậu đến phi tần đều mặc Long bào cát phục

Phân định[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng thái hậu, Hoàng hậuHoàng quý phi: đều có Triều bào, Triều quái và Triều quan như nhau. Triều bào và dây thao sau Triều quái có màu Minh hoàng sắc (明黄色), còn Triều quan có 3 tầng. Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đều y như nhau, còn Hoàng quý phi tuy tương đồng, song Triều châu của Hoàng quý phi không có sợi Đông châu trắng, mà dùng Mật phách ngả vàng.
  • Quý phi, PhiTần: màu áo Triều bào và màu dây thao sau Triều quái là Kim hoàng sắc (金黄色). Triều quan của Quý phi là 3 tầng, của Phi và Tần chỉ có 2 tầng. Màu Triều bào của Tần là Hương sắc (香色). Còn lại đều như Hoàng quý phi.
  • Phúc tấn, Trắc Phúc tấn của Thân vương và Quận vương, Cố Luân công chúaHòa Thạc công chúa: khi mặc Long quái chỉ gọi là Cát phục quái (吉服褂).
  1. Thân vương Phúc tấn: Cát phục quái, thêu Ngũ trảo kim long tứ đoàn (五爪金龙四团), trước sau Chính long, hai vai Hành long (行龙).
  2. Thế tử Phúc tấn: án theo Thân vương Phúc tấn.
  3. Hoàng tử Phúc tấn: Cát phục quái, thêu Ngũ trảo chính long tứ đoàn (五爪正龙四团), trước sau-hai vai từng chỗ một hình.
  4. Quận vương Phúc tấn: Cát phục quái, thêu Ngũ trảo hành long tứ đoàn (五爪行龙四团), trước sau-hai vai từng chỗ một hình.
  5. Bối lặc Phu nhân: Cát phục quái, trước sau thêu Tứ trảo chính mãng (四爪正蟒) các một.
  6. Bối tử Phu nhân: Cát phục quái, trước sau thêu Tứ trảo hành mãng (四爪行蟒) các một.
  7. Trấn Quốc công phu nhân: Cát phục quái thêu hoa Bát đoàn.
  8. Phụ Quốc công phu nhân: y như Trấn Quốc công phu nhân.
  9. Trấn quốc tướng quân phu nhân quan, phục đều như Nhất phẩm mệnh phụ;
  10. Phụ quốc tướng quân phu nhân quan, phục đều như Nhị phẩm mệnh phụ;
  11. Phụng quốc tướng quân thê tử, phong Thục nhân(淑人), quan, phục đều Tam phẩm mệnh phụ;
  12. Phụng ân tướng quân thê tử, phong Cung nhân (恭人), quan, phục đều theo Tứ phẩm mệnh phụ;
  13. Cố Luân công chúa, Hòa Thạc công chúa và Quận chúa y phục như Thân vương Phúc tấn;
  14. Huyện chúa y phục như Quận vương Phúc tấn;
  15. Quận quân đều như Bối lặc Phu nhân;
  16. Huyện quân đều như Bối tử Phu nhân;
  17. Hương quân, con gái Trấn Quốc công và Phụ Quốc công, đều như Trấn Quốc công phu nhân;
  18. Dân công phu nhân, Hầu phu nhân, Bá phu nhân, đến Tam phẩm Mệnh phụ: y phục như Trấn Quốc công phu nhân, sắc dùng xanh đá, thêu hoa Bát đoàn;

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清史稿·卷二百十四·列传一》太祖初起,草创阔略,宫闱未有位号,但循国俗称“福晋”。福晋盖“可敦”之转音,史述后妃,后人缘饰名之,非当时本称也。
  2. ^ 《满文老档》天聪六年二月......十二日,汗集诸贝勒大臣於内廷筵宴,以戴青贝勒之女册为东宫福晋。此福晋乃蒙古扎鲁特部戴青贝勒之女。汗已册立中宫福晋、西宫福晋,惟东宫未立福晋。时值选贤,遂遣人往聘此福晋。转谕其父曰:“我召来观之,中则留於宫内不中则遣之还。”遂召福晋至,暂憩城外。汗命有眼力者往观可否留於宫中。观者前来报於汗曰:“无需众多人,汗宜斟酌而行。他人观之岂可相信乎?汗应亲往观之。若可册为东宫福晋,宜按典礼聘之矣。”汗遂亲率从者数人往观之,迎入内廷,非好多娶,按例需备三福晋。以聘礼设宴。是宴也,杀牛一、羊六,治筵二十席。
  3. ^ 《满文老档·第二十册》崇德元年七月......册封国君福晋、东大福晋、西大福晋、东侧福晋、西侧福晋典礼。七月初十日......系蒙古科尔泌部博尔济吉特氏,特赐尔册宝,位出诸福晋之上,命为清宁宫中宫国君福晋。尔务以清廉端庄仁孝谦恭之义训诲诸福晋......系蒙古科尔沁部博尔济吉特氏,特赐尔册文,命为东宫关睢宫大福晋宸妃。尔务尽......系蒙古阿鲁大土门部博尔济吉特氏,特赐尔册文,命为西宫麟趾宫大福晋贵妃。尔务尽......系蒙古阿鲁大土门部塔布囊阿巴盖博第赛楚虎尔之女,特赐尔册文,命为东宫衍庆宫侧福晋淑妃。尔务尽......系蒙古科尔沁部博尔济克特氏,特赐尔册文,命为西宫永福宫侧福晋庄妃。尔务尽......,
  4. ^ 明太祖洪武五年,立六局一司。六局為;尚宮、尚儀、尚服、尚食、尚寢、尚功,一司為;宮正,皆位正六品。每一局管領四司,其屬二十有四,而尚宮總行六局之事。官七十五人,女史十八人。
  5. ^ ^ "Empresses and Consorts: Selections from Chen Shou's Records of the Three States with Pei Songzhi's Commentary". China Review International, Vol. 8, No. 2, Fall 2001, pp. 358–363.
  6. ^ Ví dụ: Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu
  7. ^ Kế Hoàng hậu
  8. ^ Đổng Ngạc Hoàng quý phi
  9. ^ Hi Quý phi
  10. ^ “清朝皇后_互动百科”. Truy cập 15 tháng 10 năm 2015. 
  11. ^ 《大清会典》卷87规定:凡选宫女,于内务府三旗佐领内管领下女子,年十三以上者,造册送府,奏交宫殿监督领侍卫等引见,入选者留宫,余令其父母择配。
  12. ^ 《宫女谈往录》:她13岁进宫,分在储秀宫里当差,專門伺候慈禧奉烟 ,专职是敬烟。18岁由慈禧指婚,赐给一个姓刘的太监,…这在清宫里是件罕见的事。清宫惯例,宫女离宫后,不许再返回当差,何况已经出嫁了的,怎能又回到老太后身边呢?不是太后特别喜爱,是绝对办不到的(据她说,在她以前只有东太后慈安的侍女双喜,得到过东太后的恩典,二次进宫伺候过东太后,但时间很短)。其实是慈禧把她赐给太监,问心有愧,才给点小恩小惠罢了,而她却反自认为是特殊光荣,谈起来眉飞色舞。
  13. ^ 《汤若望回忆录》记载在董鄂妃去世后,福临将30名宫女太监殉葬。至少在康熙十二年(1673年)禁止八旗包衣佐领的奴仆殉葬之前,宫女是有可能殉葬的。
  14. ^ 皇太后: [年例] 金20两,银2000两,蟒缎2匹,补缎2匹,织金2匹,妆缎2匹,倭缎4匹,闪缎1匹,金字缎2匹,云缎7匹, 衣素缎4匹,蓝素缎2匹,帽缎2匹,杨缎6匹,宫绸2匹,潞绸4匹,纱8匹,里纱10匹,纺纱10匹,杭细10匹, 绵绸10匹,高丽布10匹,三线布5匹,毛青布40匹,粗布5匹,金线20绺,绒10斤,棉线6斤,木棉40斤, 2号银钮200,3号银钮200,2等貂皮10,3等貂皮20,5等貂皮70,里貂皮12,海龙皮12 [日用] 猪1口,羊、鸡、鸭各1只,新粳米2升,黄老米1升5合,高丽江米3升,粳米粉3斤,白面51斤, 荞麦面、麦子粉各1斤,豌豆3合,芝麻1合5勺,白糖2斤1两5钱,盆糖8两,蜂蜜8两,核桃仁4两,松仁2钱, 枸杞4两,干枣10两,猪肉12斤,香油3斤10两,鸡蛋20个,面筋1斤8两,豆腐2斤,粉锅渣1斤,甜酱2斤12两,清酱2两,醋5两,鲜菜15斤,茄子20个,王瓜20条,白蜡7支,黄蜡2支,羊油蜡20支,羊油更蜡1支, 红箩炭夏20斤、冬40斤,黑炭夏40斤、冬80斤
  15. ^ 皇后: [年例] 银1000两,蟒缎2匹,补缎2匹,织金2匹,妆缎2匹,倭缎4匹,闪缎2匹,金字缎2匹,云缎7匹,衣素缎4匹, 蓝素缎2匹,帽缎2匹,杨缎6匹,宫绸2匹,潞绸4匹,纱8匹,里纱8匹,绫8匹,纺丝8匹,杭细8匹,绵绸8匹,高丽布10匹,三线布5匹,毛青布40匹,粗布5匹,金线20绺,绒10斤,棉线6斤,木棉40斤,里貂皮40, 乌拉貂皮50 [日用] 猪肉16斤,羊1盘、鸡、鸭各1只,新粳米1升8合,黄老米1升3合5勺,高丽江米1升5合,粳米粉1斤8两, 白面7斤8两,荞麦面8两,豌豆3合,白糖1斤,盆糖4两,蜂蜜4两,核桃仁2两,松仁1钱,枸杞4两,干枣5两,猪油1斤,香油1斤,鸡蛋10个,面筋12两,豆腐1斤8两,粉锅渣1斤,甜酱1斤6两5钱,清酱1两,醋2两5钱, 鲜菜15斤,茄子20个,王瓜20条,白蜡5支,黄蜡4支,羊油蜡10支,羊油更蜡1支,红箩炭夏10斤、冬20斤, 黑炭夏30斤、冬60斤
  16. ^ 皇贵妃: [年例] 银800两,蟒缎1匹,补缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎2匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎6匹,衣素缎3匹, 蓝素缎3匹,帽缎1匹,杨缎4匹,彭缎4匹,宫绸2匹,潞绸3匹,纱8匹,里纱7匹,绫7匹,纺丝7匹,杭细7匹,绵绸6匹,高丽布8匹,三线布3匹,毛青布15匹,深蓝布15匹,粗布5匹,金线14绺,绒8斤,棉线6斤, 木棉30斤,里貂皮30,乌拉貂皮40 [日用] 猪肉12斤,羊1盘、鸡1只(或鸭1只),陈粳米1升5合,黄老米1升3合5勺,高丽江米1升5合,粳米粉1斤8两, 白面5斤,荞麦面8两,豌豆3合,白糖5两,盆糖4两,蜂蜜4两,核桃仁1两,松仁1钱,枸杞4两,干枣5两, 猪油1斤,香油1斤,鸡蛋10个,面筋12两,豆腐1斤8两,粉锅渣1斤,甜酱1斤6两5钱,清酱1两,醋2两5钱, 鲜菜15斤,茄子20个,王瓜20条,白蜡5支,黄蜡4支,羊油蜡10支,羊油更蜡1支,红箩炭夏10斤、冬20斤, 黑炭夏30斤、冬60斤,六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  17. ^ 贵妃: [年例] 银600两,蟒缎1匹,补缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎2匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎4匹,衣素缎3匹, 蓝素缎2匹,帽缎1匹,杨缎2匹,彭缎1匹,宫绸2匹,潞绸3匹,纱4匹,里纱7匹,绫6匹,纺丝7匹,杭细5匹,绵绸5匹,高丽布6匹,三线布2匹,毛青布12匹,深蓝布12匹,粗布5匹,金线12绺,绒6斤,棉线4斤, 木棉25斤,里貂皮20,乌拉貂皮30 [日用] 猪肉9斤8两,羊15盘(每月)、鸡鸭共15只(每月),陈粳米1升3合5勺,白面3斤8两,白糖3两,核桃仁1两,干枣1两6钱,香油6两,鸡蛋4个,面筋4两,豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两5钱,清酱8钱,醋2两5钱, 鲜菜10斤,茄子8个,王瓜8条,白蜡2支,黄蜡2支,羊油蜡5支,红箩炭夏10斤、冬15斤, 黑炭夏30斤、冬60斤,六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  18. ^ 妃: [年例] 银300两,蟒缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎2匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎4匹,衣素缎2匹,蓝素缎1匹, 帽缎1匹,彭缎3匹,宫绸1匹,潞绸2匹,纱4匹,里纱5匹,绫5匹,纺丝4匹,杭细5匹,绵绸5匹,高丽布5匹,三线布2匹,毛青布10匹,深蓝布10匹,粗布3匹,金线10绺,绒5斤,棉线3斤,木棉20斤,里貂皮10, 乌拉貂皮20 [日用] 猪肉9斤,羊15盘(每月)、鸡鸭共10只(每月),陈粳米1升3合5勺,白面3斤8两,白糖3两,核桃仁1两, 干枣1两,香油6两,鸡蛋4个,面筋4两,豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两5钱,醋2两5钱,鲜菜10斤, 茄子8个,王瓜8条,白蜡2支,黄蜡2支,羊油蜡2支,红箩炭夏5斤、冬10斤,黑炭夏25斤、冬40斤, 六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  19. ^ 嫔: [年例] 银200两,蟒缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎1匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎2匹,衣素缎2匹,帽缎1匹, 杨缎1匹,彭缎1匹,宫绸1匹,潞绸2匹,纱1匹,里纱2匹,绫3匹,纺丝3匹,杭细3匹,高丽布4匹, 毛青布8匹,深蓝布8匹,粗布4匹,金线6绺,绒3斤,棉线3斤,木棉15斤,里貂皮4,乌拉貂皮20 [日用] 猪肉6斤8两,羊15盘(每月)、鸡鸭共10只(每月),陈粳米1升3合,白面2斤,白糖2两,香油5两5钱, 豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两,醋2两,鲜菜8斤,茄子6个,王瓜6条,白蜡2支,黄蜡2支,羊油蜡2支, 红箩炭夏5斤、冬8斤,黑炭夏20斤、冬30斤,六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  20. ^ 贵人: [年例] 银100两,倭缎1匹,云缎2匹,衣素缎2匹,蓝素缎2匹,帽缎1匹,杨缎1匹,宫绸1匹,潞绸2匹,纱2匹, 里纱2匹,绫2匹,纺丝2匹,高丽布3匹,毛青布6匹,深蓝布6匹,粗布3匹,金线3绺,绒3斤,棉线2斤, 木棉12斤,里貂皮4,乌拉貂皮10 [日用] 猪肉6斤,羊15盘(每月)、鸡鸭共8只(每月),陈粳米1升2合,白面2斤,白糖2两,香油3两5钱,豆腐1斤,粉锅渣8两,甜酱6两,醋2两,鲜菜6斤,茄子6个,王瓜6条,白蜡1支,黄蜡1支,羊油蜡1支,红箩炭冬5斤, 黑炭夏18斤、冬25斤,六安茶叶7两(每月),天池茶叶4两(每月)
  21. ^ 常在: [年例] 银50两,云缎1匹,衣素缎1匹,彭缎1匹,宫绸1匹,潞绸1匹,纱1匹,绫1匹,纺丝1匹,木棉3斤 [日用] 猪肉5斤,羊15盘(每月)、鸡鸭共5只(每月),陈粳米1升2合,白面2斤,白糖2两,香油3两5钱, 豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两,醋2两,鲜菜6斤,茄子6个,王瓜6条,白蜡2支,羊油蜡1支, 黑炭夏10斤、冬20斤
  22. ^ 答应: [年例] 银30两,云缎1匹,衣素缎1匹,彭缎1匹,宫绸1匹,潞绸1匹,纱1匹,绫1匹,纺丝1匹,木棉3斤 [日用] 猪肉1斤8两,羊15盘(每月)、鸡鸭共5只(每月),陈粳米6合,白面2斤,随时鲜菜2斤,黄蜡1支, 羊油蜡1支,黑炭夏5斤、冬10斤
  23. ^ 宫女子: [年例]银六两,云縀一疋,宫紬一疋,纱一疋,纺丝一疋,杭细一疋,木棉二觔 [日用]猪肉一觔,白老米七合五勺,黑盐三钱,随时鲜菜十二两
  24. ^ 雍正朝的宫廷女装

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thanh sử cảo - 《清史稿·后妃传》(节选):太祖初起,草创阔略,宫闱未有位号,但循国俗称“福晋”。福晋盖“可敦”之转音,史述后妃,后人缘饰名之,非当时本称也。崇德改元,五宫并建,位号既明,等威渐辨。世祖定鼎,循前代旧典。顺治十五年,采礼官之议:乾清宫设夫人一,淑仪一,婉侍六,柔婉、芳婉皆三十;慈宁宫设贞容一、慎容二,勤侍无定数;又置女官。循明六局一司之制,议定而未行。康熙以后,典制大备。皇后居中宫;皇贵妃一,贵妃二,妃四,嫔六,贵人、常在、答应无定数,分居东、西十二宫。东六宫:曰景仁,曰承乾,曰锺粹,曰延禧,曰永和,曰景阳;西六宫:曰永寿,曰翊坤,曰储秀,曰启祥,曰长春,曰咸福。诸宫皆有宫女子供使令。每三岁选八旗秀女,户部主之;每岁选内务府属旗秀女,内务府主之。秀女入宫,妃、嫔、贵人惟上命。选宫女子,贵人以上,得选世家女;贵人以下,但选拜唐阿以下女。宫女子侍上,自常在、答应渐进至妃、嫔,后妃诸姑、姊妹不赴选。帝祖母曰“太皇太后”,母曰“皇太后”,居慈宁、寿康、宁寿诸宫。先朝妃、嫔称太妃、太嫔,随皇太后同居,与嗣皇帝,年皆逾五十,乃始得相见。诸宫殿设太监,秩最高不逾四品,员额有定数,廪给有定量,分领执事有定程。此其大较也。二百数十年,壸化肃雍,诐谒盖寡,内鲜燕溺匹嫡之嫌,外绝权戚蠹国之衅,彬彬盛矣。追尊四代,惟宣皇后著氏族,且有继室,讬始于是。历朝居正号者,谨而次之,并及妃、嫔有子若受后朝尊封者。世祖以汉女为妃,高宗以回女为妃,附书之,以其仅见也。
  • Phần dịch trang phục Triều bào, Triều quan có lấy từ Page Góc Trung Quốc - Văn hóa Nghệ thuật và Lịch sử