Hậu cung Nhà Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hậu cung nhà Thanh)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bức tranh 《Vạn quốc lai triều đồ》 vẽ hậu phi của Càn Long Đế.

Hậu cung Nhà Thanh (chữ Hán: 清朝後宮 Thanh triều Hậu cung) là quy định và trật tự của hậu cung dưới thời nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Ngoài bản thân Hoàng đế là người lớn nhất, bên cạnh đó còn có Hoàng thái hậu, Hoàng hậu cùng Phi tần, Thái giámCung nữ, tất cả đều tham gia vào sự vận động cuộc sống sinh hoạt hằng ngày trong cung. Triều đại nhà Thanh có tương quan ghi chép nhiều nhất trong các đời phong kiến Trung Quốc.

Hậu Kim sơ khai[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Thiên Mệnh và Thiên Thông[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hậu Kim thành lập, Nỗ Nhĩ Cáp Xích vẫn chưa thành lập trật tự các vị thê thiếp của mình, vẫn gọi là Phúc tấn. Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng Đại hãn, các thê thiếp gọi chung là Chúng Phúc tấn (众福晋; Fujisa). Phúc tấn vốn là chuyển âm của "Khả đôn" (可敦). Đời sau, tuy lấy "Hậu phi" mà gọi thời kì này, song thực tế lúc đó không gọi như vậy[1].

Lúc này, nội trướng của Hậu Kim tạm có trật tự một chút:

  • Đại Phúc tấn (大福晋; Amba fujin): đứng đầu Chúng phúc tấn. Đây là Đích Phúc tấn, chính thất toàn vẹn trên pháp lý của Hậu Kim Đại hãn. Tùy theo thứ tự cưới trước hay sau, trong văn bản có thể gọi là [Nguyên phi; 元妃] hay [Kế phi; 继妃], như vợ đầu của Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Đông Giai thị được gọi là Thanh Thái Tổ Nguyên phi, có Mãn văn là [Neneme gaiha fujin], nghĩa là "Nguyên thú Phúc tấn" hay "Vị Phúc tấn được cưới hỏi đầu tiên". Sau đó lễ chế phát triển, Chính thất Hãn phi được gọi là Đại phi (大妃), chính là Đại Phúc tấn.
  • Trắc Phúc tấn (侧福晋; Ashani fujin): thân phận trung hòa giữa Đích Phúc tấn và các Thứ Phúc tấn. Trong đó có một ít Trắc Phúc tấn có thân phận cơ hồ có thể cùng Đại Phúc tấn tương đồng. Đây được cho là ảnh hưởng từ chế độ khai sơ [Một chồng, nhiều vợ, nhiều thiếp] của người Nữ Chân trước khi nhập quan.
  • Thứ Phúc tấn (庶福晋; Buya fujin): những Thứ phi, là các tiểu thiếp trải trong nội trướng, thân phận kém xa Đích Phúc tấn và Trắc Phúc tấn. Có rất nhiều tên gọi:
  1. Tiểu Phúc tấn (小福晋; Ajige fujin);
  2. Tiểu thê (小妻; Buya sargan);
  3. Tì thiếp (婢妾; Gucihi);
  4. Nhàn tản Phụ nhân (闲散妇人; Sula hehesi);
  5. Cách cách (格格; Gege);

Trên thực tế, lúc đó trong hậu cung sinh hoạt tuy rằng đồng dạng thuộc về cấp bậc Thứ phi, nhưng là căn cứ xưng hô bất đồng mà cũng có địa vị cao thấp khác nhau. Tỷ như nói “Ajige fujin” thân phận liền phải so cao hơn các “Buya sargan”, nhưng các “Ajige fujin” vẫn như cũ không thể bị xếp vào hàng Trắc Phúc tấn được.

Khi Hoàng Thái Cực lên ngôi, ông cho lập Trung cung Phúc tấn (中宮福晉), Đông cung Phúc tấn (東宮福晉) và Tây cung Phúc tấn (西宮福晉). Hoàng Thái Cực trước hết sắc lập Trung cung Phúc tấn và Tây cung Phúc tấn, lại ở Thiên Thông năm thứ 6 (1632) sách lập Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (扎鲁特博尔济吉特氏) làm "Đông cung Phúc tấn"[2]. Thiên Thông năm thứ 9 (1635), ngày 7 tháng 10, sau khi vừa hạ sinh Cửu cách cách, Hoàng Thái Cực đem Trát Lỗ Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị ban cho Nam Chử (南褚) của Diệp Hách, cho thấy thái độ khinh mạn của Hoàng Thái Cực với chúng tần thiếp.

Thời kỳ Sùng Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sùng Đức nguyên niên (1636), Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đếThịnh Kinh, lập ra Đại Thanh, do vậy đem hậu cung sửa lại định chế, gọi là Ngũ cung chế (五宮制), Ngũ cung Phúc tấn (五宫福晋) hay Sùng Đức Ngũ cung (崇德五宮)[3]. Nhưng khi ấy Hoàng thái Cực tuy phỏng theo quy chế Trung nguyên, học theo nhà Minh, nhưng vẫn có tình trạng ba phải thế nào cũng được, trộn lẫn danh xưng Hán song song danh xưng theo lối Mãn.

Sắc phong cho 5 vị hậu phi này, bên cạnh Hán văn là Hậu và phi, thì còn có cách gọi theo truyền thống của Hậu Kim là Phúc tấn, trong đó:

  • Đại Phúc tấn Triết Triết ngụ tại Thanh Ninh cung (清寧宮), vị Hoàng hậu (皇后); Mãn văn gọi là Quốc quân Phúc tấn (國君福晉; Ejen fujin);
  • Hải Lan Châu ở Đông Cung là Quan Thư cung (關睢宮), phong hiệu Thần phi (宸妃); Mãn văn là Đông Đại Phúc tấn (東大福晉; Dergi amba fujin).
  • Na Mộc Chung ở Tây Cung là Lân Chỉ cung (麟趾宮), phong hiệu Quý phi (贵妃); Mãn văn là Tây Đại Phúc tấn (西大福晋; Wargi amba fujin).
  • Ba Đặc Mã Tảo ở Đông Cung là Diễn Khánh cung (衍慶宮), phong hiệu Thục phi (淑妃); Mãn văn là Đông Trắc Phúc tấn (東侧福晋; Dergi ashan i fujin).
  • Bố Mộc Bố Thái ở Tây Cung là Vĩnh Phúc cung (永福宮), phong hiệu Trang phi (莊妃); Mãn văn là Tây Trắc Phúc tấn (西侧福晋; Wargi ashan i fujin).

Sau khi nhập quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Thuận Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Thuận Trị, hậu cung nhà Thanh lại có biến chuyển. Hậu cung thời Thuận Trị, theo khảo chứng hồ sơ thì đã từng muốn thiết lập Hoàng phi (皇妃) cùng Cửu tần (九嫔) theo kiểu người Hán, song rốt cuộc cũng như chế độ nữ quan, đều bị bãi bỏ. Vào lúc đó, trong hậu cung vẫn hay giữ kiểu gọi tương ứng Hoàng hậu (Đích Phúc tấn), Phi (Trắc Phúc tấn) và Cách cách (Thứ thiếp) mà xưng hô cùng thiết đặt đãi ngộ, không khác thời Hậu Kim. Sau đó, triều đình Thuận Trị đã phân định rõ thứ bậc hơn một chút dựa theo quy chế Trung nguyên, dưới Hoàng hậu có hàng Hoàng quý phi, PhiTần đều thực sự đã được đề cập khi quy định đãi ngộ, nhưng không rõ vì lý do gì vẫn rất nhiều hậu cung không có danh vị chính thức. Đặc biệt là danh vị "Hoàng quý phi", được dùng để sách phong sủng thiếp Đổng Ngạc phi. Ngoài ra thì, chỉ có Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu cùng Phế hậu Tĩnh phi là từng được ghi nhận có đãi ngộ hàng Phi, riêng hàng Tần vẫn để trống.

Tóm gọn lại, hậu cung triều Thuận Trị có dạng 7 cấp:

  1. Hoàng hậu (皇后);
  2. Hoàng quý phi (皇貴妃), lập ra vì Đổng Ngạc phi;
  3. Phi (妃), chỉ thấy Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu và Tĩnh phi;
  4. Tần (嬪), vẫn luôn để trống;
  5. Phúc tấn (福晉), đãi ngộ tương đương Quý nhân, đây là đãi ngộ của Hiếu Khang Chương Hoàng hậu cùng đại đa số hậu cung triều Thuận Trị;
  6. Tiểu Phúc tấn (小福晉), bên trong lại có thêm 2 cấp, đãi ngộ tương đương Thường tại;
  7. Cách cách (格格), đãi ngộ thấp hơn Thường tại;

Trước mắt đại lượng hồ sơ chỉ xưng "Phúc tấn" cùng "Cách cách", còn "Tiểu Phúc tấn" rất hay bị gọi thành "Cách cách" dù hạng đãi ngộ có khác hơn hẳn. Nhưng mà có một lượng bộ phận hồ sơ cùng ký lục đời sau còn có chênh lệch, như một số Phúc tấn hay bị gọi thành Cách cách và ngược lại. Ngoài ra, nhiều Tân Đế sau khi lên ngôi, gọi các Hậu cung Phúc tấn bằng danh xưng [Ngạch niết; 额捏; nghĩa là "Mẫu thân"], căn cứ theo 《Thanh sử cảo》 cuốn 214 - Hậu phi truyện thì là cách gọi cho các phi tần đã sinh dục Hoàng tửHoàng nữ.

Năm Thuận Trị thứ 15 (1658), quan viên tấu thỉnh thiết lập:

  • Càn Thanh cung: thiết lập Phu nhân (夫人); Thục nghi (淑儀) mỗi chức 1 người; Uyển thị (婉侍) 6 người; Nhu uyển (柔婉) cùng Phương uyển (方婉) tổng 60 người;
  • Từ Ninh cung: thiết lập Trinh dung (貞容) 1 người; Thận dung (慎容) 2 người; còn có Cần thị (勤侍) vô định số;

Ngoài ra hệ thống hậu cung cũng đề nghị có thêm Nữ quan, y theo 「Lục cục nhất Ti - 六局一司」của nhà Minh[4]. Tuy nhiên, phần trên chỉ là nghị định biên soạn, nhưng cứ liệu biên sử chưa bao giờ thấy có trường hợp chấp hành. Tuy vậy, Ngụy Nguyên (魏源) trong Cổ Vi đường thi tập (古微堂詩集), cuốn 4 tựa Đô trung ngâm (都中吟) lại dẫn chứng Càn Long Đế từng ngự chế thơ, có đoạn ["Quốc sơ nữ nhạc duyên minh quý, Khang Hi nữ nhạc bất doanh thiên, Ung Chính cận tồn thập chi thất, Càn Long vô nhất nữ nhạc yên"; 國初女樂沿明季,康熙女樂不盈千,雍正僅存十之七,乾隆無一女樂焉]. Càn Long Đế còn tự nói rằng "Đến nỗi Nữ nhạc, (Trẫm) từ khi đăng vị đã không dùng" (Nguyên văn: 至於女樂,自即位以來即不用。), không chỉ khẳng định triều Càn Long đã không còn chế độ này, mà đồng thời khẳng định đến tận triều Ung Chính vẫn còn hệ thống này, chỉ là phai dần thôi.

Khang Hi hoàn bị[sửa | sửa mã nguồn]

Qua thời Khang Hi, đại để vẫn giữ danh xưng triều Thuận Trị, bắt đầu thiết lập Phi và Tần cùng các đãi ngộ, nhưng lại xếp vào hàng "Trắc Phúc tấn" như thời Hậu Kim, đồng thời vẫn giữ các gọi "Thứ phi""Cách cách" cho các vị trí thấp hơn nữa. Về cơ bản vào thời kì đầu vẫn không có danh phận chính thức dành cho phi tần, đặc biệt là những phi tần sinh dục Hoàng tự, chỉ được gọi đơn giản là Thứ phi, có nghĩa là "Phi thiếp hàng dưới" mà không có danh vị chính thức nào.

Tuy nhiều hậu cung thời Khang Hi không có danh vị, nhưng đã có chế độ thiện đãi nhất định tương ứng với các danh vị chính thức. Như Thứ phi Vương thị (庶妃王氏) trong tấu xưng gọi [Vương tần; 王嬪], Bình phi Hách Xá Lý thị có đãi ngộ Quý phi, nên xưng gọi [Quý phi; 貴妃]. Một ít Thứ phi khác cũng có đãi ngộ của Tần vị và Phi vị dù không có hoạch phong, ví dụ Tuyên phi cùng Khác Huệ Hoàng quý phi đồng dạng là hưởng Phi vị đãi ngộ.

Trải qua 2 giai đoạn mấy chục năm thích ứng cùng điều chỉnh, từ triều Khang Hi bắt đầu chính thức xác lập chế độ Bát đẳng hậu phi (八等后妃) mà đời sau hay nhất đến, hơn nữa lấy các loại tiền lệ làm căn cứ, hình thành chế độ cố định. Năm Khang Hi thứ 57 (1718), Thánh Tổ dụ Lễ bộ, sách phong 6 vị hậu cung tuy đã sinh dục hoàng tự, nhưng chưa được tấn phong chính thức. Từ đấy về sau, hậu cung triều Thanh mới nhất nhất quy định hậu phi đều nên có danh phận[5].

Hậu cung phân vị[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Đại Thanh cũng như mọi người đàn ông trong xã hội Mãn Thanh, đều theo thể chế thê thiếp. Các vị trí chính thê hay thứ thiếp trong hậu cung nhà Thanh, về căn bản được chia làm các cấp bậc chính:

  • Hoàng hậu (皇后): chính thất của Hoàng đế.
  • Phi tần (妃嬪): thê thiếp của Hoàng đế[6].

Tất cả bọn họ là các Nội đình chủ vị (內廷主位) hay Hậu cung chủ vị (後宮主位)[7], được các thái giám và cung nữ hầu hạ. Một khi nhập cung và nhận sắc phong của Hoàng đế, họ sẽ sống cả đời trong hậu cung. Theo quy định thời gian đầu của nhà Thanh, ngoài Càn Thanh cung dành cho Hoàng đế, Khôn Ninh cung dành cho Hoàng hậu, thì các nhóm phi tần đều ở 12 cung hai bên sườn của Càn Thanh cung, gồm Đông lục cungTây lục cung, gọi gộp lại là [Đông Tây lục cung; 東西六宮].

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu Uyển Dung - Hoàng hậu của Tuyên Thống Đế Phổ Nghi.

Hoàng hậuchính thê của Hoàng đế, vì vậy luôn luôn chỉ có một Hoàng hậu tại vị. Trong lịch sử, Hoàng hậu nhà Thanh được lập trong các trường hợp sau:

  • Khi Hoàng đế đến tuổi lập Chính thất, tuyển con gái môn đăng hộ đối theo lễ đại hôn[8].
  • Khi một Hoàng tử lên ngôi Hoàng đế, Đích Phúc tấn sẽ được lập làm Hoàng hậu[9].
  • Khi một Hoàng hậu qua đời (hoặc bị phế), Phi tần có khả năng sẽ được Hoàng đế lập làm Hoàng hậu kế vị[10].

Hoàng hậu là danh vị cao, thân phận độc nhất vô nhị, theo quy định của triều Thanh thì một phi tần cũng được truy phong thụy hiệu Hoàng hậu nếu là [Đế mẫu; 帝母][11]. Trường hợp này xuất hiện rất nhiều vào thời nhà Thanh, điển hình là Hiếu Trang Văn hoàng hậu, Sùng Khánh Hoàng thái hậu hay cả Từ Hi Hoàng thái hậu (thụy hiệu của bà là Hiếu Khâm Hiển hoàng hậu). Cũng có một trường hợp độc nhất vô nhị, khi không phải Hoàng hậu của Tiên Đế cũng không phải Đế mẫu của Hoàng đế tương lai mà vẫn được truy phong làm Hoàng hậu, ấy là Đổng Ngạc phi của Thanh Thế Tổ.

Trong hậu cung thì Hoàng hậu là [Chủ nội trị; 主内治], là người chủ trì tất cả mọi việc[12], quản lý tất cả các phi tần, thái giámcung nữ. Theo quan niệm đa thê, Hoàng hậu là chính thê, cho nên được coi là [Hoàng đích mẫu; 皇嫡母] hay [Hoàng hậu ngạch niết; 皇后额捏][13] của tất cả các Hoàng tửHoàng nữ trong hậu cung, bất luận đó là con của phi tần nào đi nữa. Đầu nhà Thanh, Hoàng hậu sống ở Khôn Ninh cung, từ thời Ung Chính thì dọn sang một trong mười hai cung ở hậu cung.

Trong việc thờ cúng Hoàng đế cùng Hoàng hậu, thứ tự về xuất thân, ai đầu ai sau cũng rất quan trọng. Vị đầu tiên thường là nguyên phối thê tử của Hoàng đế, tức là "Người đầu tiên được cưới hỏi đàng hoàng", họ đa phần là Đích Phúc tấn khi còn ở Tiềm để hay được trực tiếp cưới vào, khi ấy họ được gọi là [Nguyên hậu; 元后], có địa vị tôn quý trong hoàng thất, còn được gọi là Đích hậu (嫡后). Còn người được lập tiếp theo sau khi nguyên phối qua đời được gọi là [Kế hậu; 繼后], thứ cận là các Hoàng hậu được truy phong, tức gọi Đế mẫu.

Trong vị thứ hoàng gia, Nguyên hậu là tôn quý nhất trên thứ tự bài vị lẫn quy cách ghi chép. Khi phụng táng vào hoàng lăng, chỉ có Nguyên hậu là có tư cách dùng tự ["Hợp táng"; 合葬], còn Kế hậu, Đế mẫu lẫn phi tần đều là ["Tòng táng"; 从葬] hay ["Phụ táng"; 附葬] mà thôi, như vậy có nghĩa chỉ có Nguyên hậu là "chủ nhân", cùng Hoàng đế sánh vai, còn những người khác chỉ có ý nghĩa hầu cận, táng phụ vào hầu hạ. Từ thời Gia Khánh trở về sau, gia đình của Nguyên hậu có thể trực tiếp được hưởng "Thừa Ân công" (承恩公), mà Kế hậu cùng Đế mẫu thường chỉ phong "Thừa Ân hầu" (承恩侯), chỉ truy phong tước Công khi qua đời. Địa vị bài tự trong Thái Miếu cũng cho thấy thứ tự là Nguyên hậu, rồi tới Kế hậu và Đế mẫu theo hàng phụ thờ cùng Hoàng đế. Từ thời Ung Chính, dường như để tôn vinh mẹ đẻ Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu, Thanh Thế Tông chỉ cho Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu cùng Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu được bày chân dung cùng với Khang Hi Hoàng đế thờ phụng trong Thọ Hoàng điện (壽皇殿) vào các dịp kị. Từ đó về sau, Thọ Hoàng điện chỉ bày vị cho Nguyên hậu cùng Đế mẫu.

Theo dòng lịch sử, triều đại nhà Thanh có 13 Hoàng đế và tổng cộng 25 Hoàng hậu[14].

Phi Tần[sửa | sửa mã nguồn]

Thục phi Văn Tú - Hoàng phi của Tuyên Thống Đế Phổ Nghi.

Phi tầnthiếp của Hoàng đế, đều cấp bậc dưới Hoàng hậu.

Các phi tần là những thị thiếp chính thức của Hoàng đế, không giống như các bậc tì thiếp không có danh phận rõ ràng, việc sắc phong của phi tần được tổ chức long trọng dưới sự chủ trì và sắp xếp của Hoàng hậu. Theo cuốn Quốc triều cung sử (国朝宫史) do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ TháiTrương Đình Ngọc soạn thảo, phi tần được chia làm các cấp và có hạn định như sau:

  • Hoàng quý phi (皇貴妃): có một người tại vị.
  • Quý phi (貴妃): có hai người tại vị.
  • Phi (妃): có bốn người được tại vị. Có phong hiệu do Nội vụ phủ cung chọn.
  • Tần (嬪): có sáu người được tại vị. Có phong hiệu do Nội vụ phủ cung chọn.
  • Quý nhân (貴人): vô hạn định.
  • Thường tại (常在): vô hạn định.
  • Đáp ứng (答應): vô hạn định.

Từ Hoàng quý phi đến Tần được hoàng gia nhà Thanh xem là hậu cung chính thức, mà từ Quý nhân trở xuống tuy có hạng ngạch riêng nhưng lại đều bị xem là những thị ngự thấp kém trong hệ thống hậu cung. Điều này biểu thị ở việc từ Tần trở lên đã có lễ sách phong cấp phong hiệu, có được ban áo mũ theo cấp bậc để tham dự các nghi thức đại lễ cũng như phân vị cao hơn hẳn. Còn Quý nhân trở xuống không có lễ sách phong, không có áo mũ quy định nên cũng không thể tham dự các đại lễ.

Theo quy định cũng ghi trong Quốc triều cung sử, Hoàng quý phi đến Tần vị thứ cao, giúp Hoàng hậu [Tá nội trị; 佐内治][15], có nghĩa là có thể đứng ra làm một số việc ["phụ giúp"] Hoàng hậu, còn từ vị trí Quý nhân trở xuống, họ chỉ có thể [Cần tu nội chức; 勤修内职], tuân thủ nghiêm ngặt cung quy[16]. Bên cạnh đó, từ Tần trở lên ngoài áo mũ thì có thể dùng một loại tùy tùng khi ra ngoài được gọi là [Thải trượng; 采仗], riêng bậc Quý phi và Hoàng quý phi là [Nghi trượng; 儀仗]. Còn Hoàng hậu cùng Hoàng thái hậu có địa vị tôn quý, đoàn tùy tùng của họ cũng như Hoàng đế, được gọi là [Nghi giá; 儀駕]. Từ Quý nhân trở xuống không được phép sử dụng.

Dù đã có định số từng tước, nhưng triều Khang HiCàn Long vẫn thường phá lệ phong vượt số lượng đã định, cụ thể như:

  • Khang Hi năm thứ 39 đến năm thứ 50, có Ngũ phi: Huệ phi, Nghi phi, Đức phi, Vinh phi, Lương phi.
  • Khang Hi năm thứ 57 trở đi, có Thất phi: Huệ phi, Nghi phi, Đức phi, Vinh phi, Hòa phi, Tuyên phi, Thành phi.
  • Càn Long năm thứ 28, có Lục phi: Du phi, Khánh phi, Thư phi, Dĩnh phi, Hãn phi, Dự phi.
  • Càn Long năm thứ 29 đến năm thứ 32, có Ngũ phi: Du phi, Khánh phi, Thư phi, Dĩnh phi, Dự phi.
  • Càn Long năm thứ 33 đến năm thứ 38, có Ngũ phi: Du phi, Dung phi, Thư phi, Dĩnh phi, Dự phi.
  • Càn Long năm thứ 41 đến năm thứ 42, có Lục phi: Du phi, Dung phi, Thư phi, Dĩnh phi, Đôn phi, Thuận phi.
  • Càn Long năm thứ 43 đến năm thứ 50, có Ngũ phi: Du phi, Dung phi, Dĩnh phi, Đôn phi, Thuận phi.

Từ thời Khang Hi, phi tần chính thức đã có thể có tên gọi riêng, gọi là [Phong hiệu; 封號]. Các phong hiệu này đều do Lễ bộ soạn, một người sẽ có một lần 3 chữ Hán và 3 nghĩa chữ Mãn cho Hoàng đế tự tuyển chọn, đây đều là các chữ mang ý cát tường, đem đến may mắn cho hậu cung nên đều có ý nghĩa thiên về mỹ đức. Có một vấn đề về phong hiệu, chính là âm Mãn đôi khi có trùng nhau. Ví dụ Hoa phi Hầu Giai thị của Thanh Nhân Tông, sau khi qua đời, nha môn khi làm bài vị phát hiện phong hiệu "Hoa" của bà ban đầu Mãn văn là 「Yangsangga」, ý là "Tiếu lệ", cùng phong hiệu của Tề phi Lý thị cũng có Mãn văn tương tự, nên hỏi xem cần đổi không. Nhân Tông không để ý, nhưng cuối cùng vẫn cho đổi thành 「Gincihiyan」, ý rằng "Tú mỹ"; tuy nhiên đời Thanh về sau vẫn xem chuyện này không có gì to tát, vì như Trân phi có âm Mãn là 「Ujengge」, lặp lại Mãn văn với Trang phi Vương Giai thị của Nhân Tông. Sau khi qua đời, trừ Hoàng quý phi, còn Quý phi trở xuống đều lấy phong hiệu xem như thụy hiệu (xem Nghi tầnTuân tần).

Bên cạnh đó, từ Quý nhân trở xuống được gọi bằng [Xưng hiệu; 稱號]. Khái niệm này khác với phong hiệu, bởi vì một khi chọn phong hiệu là do Hoàng đế tự chọn, do Lễ bộ xem ý nghĩa mà soạn ra, có chữ Hán lẫn âm Mãn, trong khi đó "Xưng hiệu" chỉ tồn tại dạng phiên âm, mà chữ phiên âm ấy phần nhiều là tên chữ đầu của cha, âm khác của dòng dõi hay bản thân tên hiệu của vị hậu cung ấy. Từ Quý nhân trở xuống, hậu cung chủ vị không đủ tư cách làm lễ sách phong, không có áo mũ, nên cũng không có phong hiệu. Dĩ nhiên, trong lịch sử cũng có trường hợp dù chỉ là Quý nhân mà vẫn có phong hiệu như Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu, hoặc đã là Tần nhưng vẫn không có phong hiệu như Ân tần.

Ngoài ra, khi hậu cung chỉ vị qua đời, do thân phận cùng bối cảnh đặc biệt mà từ ngữ Hán văn để mô tả cũng không bình thường, mà phải biểu thị rõ thân phận thuộc hoàng cung của mình, cũng như trong văn bản không thể xuất hiện các loại chữ ý nghĩa xấu. Trong khi Hoàng hậu với Hoàng đế đồng dạng, đều được dùng 「Băng thệ; 崩逝」, thì phi tần đều chỉ dùng 「Hoăng; 薨」, ngoài ra còn một số từ khác nữa như 「Mộng du; 夢遊」 hay 「Thoát thệ; 脫逝」.

Các thân phận khác[sửa | sửa mã nguồn]

Dù thời Khang Hi đã lập ra 8 đẳng hậu phi, nhưng trong hồ sơ hậu cung triều Thanh vẫn xuất hiện những danh xưng khác nhau, chỉ đến các hạng thị thiếp trong hậu cung. Dưới các phi tần, ngay từ thời Khang Hi đã quy định khá nhiều danh phận dành cho các phi tần không chính thức, tức là dạng ngự thiếp thuộc hàng thấp, thân phận tương đương cung nữ, chỉ khác là được Hoàng đế sủng hạnh qua. Những danh vị này gồm:「Đại Đáp ứng; 大答應」, 「Tiểu Đáp ứng; 小答應」, 「Cách cách; 格格」 và 「Học sinh; 學生」.

Những "Đại Đáp ứng" cùng "Tiểu Đáp ứng" đều thuộc dạng cung nữ đặc biệt, từng cùng thuộc bậc Đáp ứng hàng thấp nhất. Trong khi Đại Đáp ứng có tư cách xuất hiện trong hồ sơ phân vị, thậm chí có thể táng vào Phi viên tẩm, thì Tiểu Đáp ứng không được đãi ngộ này. Còn như "Cách cách" cùng "Học sinh" địa vị tạm thời không tra rõ được, chỉ biết đến tận thời Càn Long vẫn có những vị Cách cách cùng Học sinh, như Hoắc cách cách (霍格格), Phượng Học sinh (鳳學生) cùng Học sinh Kim Quan (金官), đều trú tại Ninh Thọ cung, sau đó Càn Long Đế mới dần không sử dụng những danh vị này nữa, những ai chưa được sủng hạnh cũng được thả ra khỏi cung[17].

Ngoài ra, từ thời Ung Chính, có bậc [Quan nữ tử; 官女子], cũng gọi [Cung nữ tử; 宫女子], là danh vị dùng để gọi các cung nữ nói chung, sang thời Ung Chính thì bắt đầu dùng để gọi các cung nữ được Hoàng đế sủng hạnh, địa vị so với cung nữ không mấy khác biệt lớn. Trừ cung nữ được thụ sủng, cũng chỉ có phi tần (từ Đáp ứng trở lên) bị biếm xuống làm Quan nữ tử, chưa thấy cung nữ được [thụ phong] danh vị này bao giờ, có thể thấy đây là dạng danh xưng chứ không phải vị hiệu trong hậu cung. Bên cạnh đó, [Quan nữ tử] cũng là danh từ dùng để gọi tì thiếp vốn là Sử nữ (使女) của các vị Hoàng tử (như Hòa phi của Thanh Tuyên Tông), địa vị ngang với Cách cách[18].

Nhóm Tiền triều[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời nhà Hán, Hoàng hậu của Tiên Đế sẽ trụ lại hoàng cung, phi tần sẽ tùy theo hoàn cảnh mà lên lăng của Tiên đế sống, hoặc cho về nhà, một số cá biệt lại bắt tuẫn tang, tức là ép chết theo Tiên đế với ý niệm hầu hạ theo sang bên kia thế giới. Đến thời kì nhà Thanh, chế độ triều đình Mãn Thanh đã khác so với các triều đại trước. Trong khi nhà Minh thời đầu tiếp tục giữ tục tuẫn tang, bắt ép các phi tần chôn theo Tiên đế, thì đến thời nhà Thanh các phi tần được ưu đãi hơn, có phẩm vị và nơi ở riêng.

Pháp độ nhà Thanh, Hoàng tổ mẫu tôn Thái hoàng thái hậu, Hoàng mẫu tôn Hoàng thái hậu, sau khi Tiên đế ngự băng, từ Hoàng thái hậu cùng phi tần của Tiên đế đều phải dọn đến bên ngoài Long Tông môn (隆宗門), nơi có một dãy kiến trúc được gọi nôm na là Quả phụ viện (寡妇院) của Tử Cấm Thành. Dãy kiến trúc này lấy Từ Ninh cung (慈寧宮) làm đầu, bên cạnh đó còn có Thọ Khang cung (壽康宮), Ninh Thọ cung (寧壽宮) và Thọ An cung (壽安宮).

Thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ An Thái hậu
Tước vị Mẫu hậu Hoàng thái hậu, còn gọi là Đông Thái hậu.
Từ Hi Thái hậu
Tước vị Thánh mẫu Hoàng thái hậu, còn gọi là Tây Thái hậu.

Thái hoàng thái hậu (太皇太后) là tôn hiệu dành cho bà nội, còn Hoàng thái hậu (皇太后) là tôn hiệu dành cho mẹ của Hoàng đế triều Thanh. Lịch sử Thanh cung chỉ có 2 vị Thái hoàng thái hậu, là Hiếu Trang Văn Hoàng hậu cùng Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu (tức Từ Hi Thái hậu).

Trong hậu cung, với vai trò là trưởng bối và là bà nội của Hoàng đế, Thái hoàng thái hậu có bối phận cao nhất đương thời, khi Hiếu Trang Văn Hoàng hậu là Thái hoàng thái hậu thì ý chỉ của bà được xem là tối cao nhất, nếu không có Thái hoàng thái hậu thì chỉ dụ của Hoàng thái hậu mới được xem là cao nhất. Đương thời, Hiếu Trang Văn Hoàng hậu trú tại Từ Ninh cung, còn Hoàng thái hậu là Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu trú tại Ninh Thọ cung. Từ đó về sau, nơi mà Hoàng thái hậu có thể ở được luôn không cố định, đa phần là Thọ Khang cung, đôi khi là Từ Ninh cung hoặc Ninh Thọ cung. Dù ở đâu đi nữa, thì tước vị cao hơn luôn ở cung điện có địa vị lớn nhất.

Không giống như Hoàng hậu, có thể có nhiều hơn một Hoàng thái hậu tại vị một lúc. Đó là khi Hoàng đế là con thứ xuất, thì lúc đó theo Chế pháp đích-thứ sẽ cùng tồn tại cả hai người mẹ của đương kim Hoàng đế. Một người là Hoàng hậu của Tiên đế, tức [Hoàng đích mẫu; 皇嫡母] hay mẹ cả của Hoàng đế; còn người kia là sinh mẫu của Hoàng đế nhưng vốn chỉ là phi tần của Tiên đế, tức [Hoàng sinh mẫu; 皇生母].

Vào thời nhà Minh, triều đại đầu tiên công nhận có thể tôn cùng lúc hai vị Hoàng thái hậu, quy định khá đơn giản rằng Hoàng đích mẫu sẽ có tôn hiệu, còn Hoàng sinh mẫu chỉ được gọi là Hoàng thái hậu, mà không có tôn hiệu. Sang đến đời nhà Thanh, triều đại này quy định cùng tôn hiệu cho cả hai vị Hoàng thái hậu, nhưng có sự khác biệt về ý nghĩa danh hiệu để phân chia.

Lần đầu tiên nhà Thanh xảy ra trường hợp có cả hai Hoàng thái hậu là thời Khang Hi, nếu bỏ qua sự mập mờ không rõ ràng thời Thuận Trị (có thể xem rõ mục "Con trai được lập" trong bài về Hiếu Trang Thái hậu). Khi ấy, Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu là Đích mẫu của Khang Hi Đế, huy hiệu [Nhân Hiến Hoàng thái hậu], còn mẹ sinh của Khang Hi Đế là Hiếu Khang Chương Hoàng hậu vốn chỉ là tần phi, được Khang Hi Đế tôn huy hiệu là [Từ Hòa Hoàng thái hậu].

Sau đó suốt thời nhà Thanh, các vị Hoàng thái hậu thường chỉ có một người. Đến thời Đồng Trị, Hoàng đế vừa có Đích mẫu Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị, vừa có sinh mẫu Ý Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị. Việc tôn phong Hoàng đích mẫu và Hoàng sinh mẫu được quy định như sau:

  1. Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị được tôn là [Mẫu hậu Hoàng thái hậu; 母后皇太后].
  2. Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị được tôn là [Thánh mẫu Hoàng thái hậu; 聖母皇太后].

Sang năm sau, Đồng Trị Đế mới dâng tôn hiệu cho Mẫu hậu Hoàng thái hậu làm [Từ An Hoàng thái hậu], còn Thánh mẫu Hoàng thái hậu là [Từ Hi Hoàng thái hậu]. Nhưng đích-thứ phân biệt, người đời thường gọi quen Từ An là [Đông Thái hậu; 東太后] do phía Đông là quý, còn Từ Hi được gọi là [Tây Thái hậu; 西太后] do phía Tây là vị trí phụ. Việc tôn phong của Từ An cùng Từ Hi đã thành điển phạm, ảnh hưởng sâu sắc, khiến cụm [Mẫu hậu Hoàng thái hậu] và [Thánh mẫu Hoàng thái hậu] trở thành đặc trưng tôn hiệu của triều đình nhà Thanh. Nhiều ngộ nhận cho rằng đây là việc tôn phong từ lâu của triều Thanh, nhưng thực tế chỉ mới áp dụng ở thời Đồng Trị mà thôi.

Các di sương phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần của Hoàng đế đời trước mà không phải là sinh mẫu của đương kim Hoàng đế thì trú tùy nghi ở các cung, đều cầu cận nhau mà sống. Khi có đại yến tổ chức ở Từ Ninh cung, họ mới tập họp lại mà vui vẻ, ngày thường thì họ đến các Phật đường được xây cất trong Từ Ninh cung để dâng hương, tạm yên ổn mà sống qua kiếp người. Nếu họ có con trai được phong tước thì có thể được đặc cách dọn tới Vương phủ ở cùng con, nếu không sẽ ở Từ Ninh cung hoặc Thọ Khang cung, tuy nhiên điều này chỉ xảy ra đối với các phi tần của Khang Hi Đế, do ông đã ra chỉ dụ cho phép phi tần có con có thể đến phủ của con mình ở, như Ninh Khác phi, Nghi phi cùng Định phi.

Theo thông lệ, Hoàng đế sẽ gọi chung các phi tần này là [Thái phi; 太妃], nhưng đó chỉ là cách gọi chung chứ không phải tước vị chính thức. Theo cách chính xác nhất, Hoàng đế sẽ gọi phi tần của Hoàng phụ theo yếu tố [Hoàng khảo; 皇考] để phân biệt với hậu phi của đương kim Hoàng đế, tương tự với những phi tần của Hoàng tổ phụ, thì Hoàng đế sẽ tôn với huy hiệu [Hoàng tổ; 皇祖]. Ngoài ra, Hoàng đế vì lý do gì đó cũng có thể tấn phong họ lên một cấp bậc cao hơn, có đãi ngộ tốt hơn, và những đãi ngộ ấy đều theo mức tước vị quy định trong hệ thống phi tần[19].

Ví dụ như:

Nếu khi đó không có Hoàng thái hậu, thì vị "Di sương tần phi" có địa vị cao có thể sẽ đứng đầu chúng phi tiền triều, được tôn làm ["Thái phi"] bởi sách văn chính thức chứ không phải kính gọi thông thường. Lệ này có từ thời Khang Hi, khi Thánh Tổ tôn Thọ Khang Thái phi làm [Hoàng tổ Thọ Khang Thái phi; 皇祖寿康太妃]. Từ đây có lệ, tấn tôn vị Phi có địa vị tôn quý nhất làm Thái phi, như sau đó Càn Long Đế tôn Đôn Di Hoàng quý phi làm Ôn Huệ Hoàng quý thái phi (温惠皇貴太妃). Khi Cao Tông thoái vị làm Thái thượng hoàng, Nhân Tông vẫn gọi các Uyển Quý phi cùng Dĩnh Quý phi là [Thái phi] để tôn trọng dù không chính thức gia tôn mà chỉ gọi là [Hoàng khảo Quý phi].

Nếu trường hợp có các "Hoàng tổ di phi" còn sống, thì các Hoàng tổ di phi sẽ có thể trở thành Thái phi cao hơn là các "Hoàng khảo di phi". Sau thời Càn Long, có Trang Thuận hoàng quý phi thời Đồng Trị hay Đoan Khác Hoàng quý phi thời Tuyên Thống đều trở thành các Thái phi. Cũng có trường hợp thiện đãi, nên dù có Thái hậu thì vẫn có thể trở thành "Thái phi", như Trang Tĩnh Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị, trở thành Hoàng quý thái phi theo chỉ dụ của Từ An Thái hậuTừ Hi Thái hậu.

Thân phận[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyển chọn hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bát Kỳ tuyển tú
Thư phi Diệp Hách Lặc thị của Càn Long Đế - tham gia Bát Kỳ tuyển tú, sơ phong Quý nhân.

Sau khi nhập quan, hậu phi nhà Thanh chủ yếu là từ Mãn Châu, Mông CổHán Quân; xuất thân từ Bát kỳ quý tộc. Các nàng sẽ thông qua cái gọi là [Bát Kỳ tuyển tú; 八旗选秀], đường đường chính chính nhập cung dưới sự chỉ định của Hoàng đế hoặc Hoàng thái hậu. Trừ lần đó ra, rất ít nữ tử thông qua phương thức khác trở thành phi tần của Hoàng đế, như Dung phiDự phi của Càn Long Đế.

Những cô gái dự tuyển trong Bát Kỳ tuyển tú được gọi là Tú nữ (秀女), đầu tiên cần thiết là huyết thống thuần khiết con gái nhà quan viên, bảo trì tôn nghiêm cùng đặc quyền của giai cấp quý tộc Mãn Thanh. Sau khi bảo đảm huyết thống cùng địa vị xã hội, thì mới tới dung mạo của nữ tử. Chế độ [Bát Kỳ tuyển tú] không chỉ để chọn tần phi, mà còn để chọn con cái mà chỉ hôn cho Hoàng tử tông thân, nên xét về gia thế cơ bản của bất cứ quý tộc Mãn Thanh nào, cũng đều sẽ có con gái dự tuyển trúng.

Mỗi 3 năm, bộ Hộ phối hợp Nội vụ phủ tuyển chọn con gái nhà lương gia trong Bát kỳ, độ từ 14 đến 16 tuổi, không tàn tật để tham gia đợt tuyển lựa tú nữ. Chế độ cũ, khi chọn lựa Tú nữ thì em gái của Hoàng hậu và tước Tần trở lên đều được miễn. Phàm quan viên Bát Kỳ, lính lệ trong nhà có con gái hợp tuyển thì đều bị tuyển. Gia Khánh năm thứ 11, mệnh Hán Quân Bát kỳ từ "Bút thiếp thức" trở lên có con gái đến tuổi, đều dự tuyển. Năm thứ 18, mệnh Mãn Châu, Mông Cổ từ Hộ quân trở lên đều bị tuyển.

Theo thông lệ, mỗi ngày tuyển hai kỳ, lấy nhân số nhiều ít đều xứng, không tự ý phân. Trước một ngày, Cai kỳ Tham lĩnh, Lĩnh thôi tập bày xe. Như chọn [Chính Hoàng kỳ] và [Tương Hoàng kỳ], xét mỗi kỳ Mãn-Mông-Hán thì phân ra 3 cỗ, mỗi cỗ ghi tuổi tác, phân ra trước sau thứ tự. [Chính Hoàng kỳ] trước, rồi [Tương Hoàng kỳ] sau, các xe cứ thế đi theo hình đuôi cá, xa thụ song đăng. Buổi chiều tối bắt đầu, nửa đêm nhập cửa sau, đến bên ngoài Thần Vũ môn (神武門). Ở phía sau, theo thứ tự xuống xe mà vào. Xe đó đi từ Thần Vũ môn ra đến Đông Hoa môn (東華門). Từ Sùng Văn môn (崇文門) ra đến Bắc phố xá, sau lại vòng cửa sau chạy đến Thần Vũ môn, lúc này đã tầm giờ Tị giờ Ngọ hôm sau, đã tuyển tú xong, lần lượt ra xe mà về. Tuy trăm ngàn chiếc xe, mà ngay ngắn trật tự. Khi Nội vụ phủ tam kỳ tuyển chọn, cũng đỗ xe ở Địa An môn (地安門).

Các Tú nữ đi từ Thần Vũ môn đến Thuận Trinh môn (順貞門) thì xin đợi, có Hộ bộ Tư quan quản lý. Đến khi, Thái giám Ấn ban dẫn vào, mỗi ban 5 người, lạy mà không quỳ. Khi đến trước mặt Hoàng đế và Hoàng thái hậu, Tú nữ được đọc tên sẽ đứng lên trước, mắt cúi xuống, không nhìn trực diện Lưỡng Cung, hoàn toàn không được nói gì cả, cho đến khi người Tú nữ kế tiếp được đọc tên thì lui về hàng sau. Khi được chọn, nàng đó sẽ là [Lưu bài tử; 留牌子], sau đó lại tham gia "Phục tuyển", nếu không gọi lưu lại thì là bị rớt, còn lưu lại thì tiếp tục. Khi phục tuyển lần thứ hai, các Tú nữ sẽ có hai vận mệnh, một là chỉ hôn cho Hoàng thân, hai là lưu lại dự trù làm cung phi. Tuy nhiên, Lưu bài tử để vào cung cũng trải qua nhiều quá trình khác, nhiều lần "Phục khán", "Ký danh", lại được Hoàng đế đích thân lựa chọn thì "Thượng ký danh", bắt đầu quá trình "Lưu cung trụ túc" để tỉ mỉ khảo sát, ai hoàn thiện được sẽ là hậu phi, còn không sẽ bị loại, gọi là [Lược bài tử; 撂牌子].

Sau khi vào cung, Tú nữ như nhau sơ phong Đáp ứng, Thường tại hay Quý nhân tùy vào ý định của Hoàng đế. Tước vị "Quý nhân" đa số xuất thân từ cao môn tử đệ qua nhiều thế hệ, còn "Thường tại" cùng "Đáp ứng" chỉ cần là con gái chức "Bái đường a" là có thể được phong, thân phận tương đối không hiển hách mới bị liệt vào hàng này. Đặc biệt rằng trong quá trình lịch sử cùng hồ sơ ghi nhận, hầu như không Tú nữ nào tham gia Bát Kỳ tuyển tú bị chỉ định làm "Đáp ứng", mà tước này thường là từ Cung nữ tử tiến phong mới phải qua mà thôi. Vào thời kì cuối như Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự; cung đình nhà Thanh lại có nhiều phá lệ, phong Tú nữ làm Tần ngay khi tuyển tú (như Hiếu Trinh Hiển hoàng hậu, Cẩn phi cùng Trân phi).

Tuyển chọn cung nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Lệnh Ý Hoàng quý phi Ngụy Giai thị, là Cung nữ Bao y xuất thân.

Cung nữ nhà Thanh, chủ yếu đến từ đợt xét tuyển của Nội vụ phủ mà vào, gọi là Nội vụ phủ tuyển tú (內務府選秀).

Căn cứ Thanh cung trung dĩ Cung nữ vi Chủ đích nữ phó giai tằng (清宫中以宫女为主的女仆阶层), tuyển chọn cung nữ thời Thanh đã sớm ở năm Thuận Trị thứ 8 (1661), ghi lại:"Phàm nữ tử từ Nội phủ Tá lĩnh (tức Bao y Tá lĩnh), Nội phủ Quản lĩnh (tức Tân Giả khố), khi được 13 tuổi, thì Tá lĩnh cùng Quản lĩnh tạo danh sách để kê trình, giao Tổng quản Thái giám thỉnh chỉ duyệt xem”. Nói cách khác, khi tuyển chọn cung nữ, các nàng cần phải đủ tuổi và có kỳ tịch thuộc Nội vụ phủ Tá lĩnh và Quản lĩnh của [Thượng Tam kỳ Bao y], gồm Tương Hoàng kỳ, Chính Hoàng kỳ và Chính Bạch kỳ (trước là Chính Lam kỳ). Tất cả đều phỏng vấn ở Ngự Hoa viên trong Tử Cấm Thành, mỗi lượt chọn 5-6 người, sau đó trở thành cung nữ, phân phối đến các cung điện phục vụ, ai không được chọn thì có thể về nhà kết hôn[20]. Sau đó qua quá trình kiểm tra gắt gao, đầu tiên là dung mạo ưa nhìn, thông minh linh lợi, sau đó là đến cách thêu thùa, quét tước cùng luyện chữ và đọc sách, thì mới tùy trình độ mà phân phó vào các cung làm việc, ai ưu tú thì được đãi ngộ tốt nhất là hầu hạ phi tần, thấp thì phải vào các cơ quan làm việc nặng[21]. Dưới thời Ung Chính, cung nữ hầu hạ cho Quý nhân trở lên, tắc phải được tuyển từ con nhà thế gia trong tầng lớp Bao y, còn những phi tần tước vị Thường tạiĐáp ứng thì mới tuyển cung tì xuất thân thấp hơn để hầu hạ.

Có thể thấy, nữ tử từ Nội vụ phủ Bao y đều như nhau trải qua tuyển chọn gay gắt, đến lúc này thì không còn dựa vào gia thế nữa, mà cơ bản là bản thân của người đó phải có biểu hiện tốt, thì mới được phân vào các công việc tốt nhất như hầu cận chủ tử tần phi. Vào thời Thanh, Hoàng đế không có cung nữ hầu mà chỉ có Thái giám, như bản thân Thanh Thánh Tổ trong Đình huấn cách ngôn (庭训格言) có nói:"Vào thời Minh triều, trong cung cung nữ có mấy nghìn người, tiền son bột phải đến trăm vạn. Nay Trẫm định trong cung Sử nữ có 300 người. Những người chưa hầu cận Trẫm, tuổi khi 30, ra cung về với nhà mẹ, lệnh hôn phối"[22]. Sách Cung nữ đàm vãn lục (宫女谈往录) cũng ghi lại, Thanh triều cung chế nghiêm ngặt, cung nữ không được tùy tiện rời khỏi cung điện mà mình phục vụ, khi rời khỏi thì nhất thiết phải có ít nhất 2 người cùng đi.

Phân phối cung nữ:

Khác với các chủ nhân ở hậu cung, cung nữ đời nhà Thanh chỉ phải ở trong cung đến 25 tuổi là có thể xuất cung và sống như những người phụ nữ bình thường khác (lấy chồng, sinh con...). Cũng có những trường hợp cung nữ tự nguyện ở trong cung cả đời, trở thành cô cô Trưởng quản cung nữ của một cung, hoặc sẽ trở thành phi tần, như Lệnh Ý Hoàng quý phi. Còn có những trường hợp như được ban làm nha hoàn hồi môn cho Công chúa, hoặc ban làm thiếp cho quan thần, ví dụ Kỷ Hiểu Lam từng được ban hai cung nữ làm thiếp. Sau khi ra khỏi cung, người cung nữ đó không được phục tiến, không được đến cửa cung thỉnh an, nhưng cũng có lệ cung nữ được sủng ái, sau khi ra khỏi cung cũng được triệu về trở lại trong một thời gian. Lời đồn rằng, cung nữ Song Hỉ (雙喜) của Từ An Thái hậu từng được gọi vào trở lại. Hay cung nữ Vinh Tử (荣子) của Từ Hi Thái hậu, từng chỉ hôn cho một viên thái giám, sau được triệu hồi trở lại[23].

Tuy thân phận nô bộc, song theo quy định trong cung đình nhà Thanh, cung nữ nếu bị tội thì sẽ bị phạt quỳ, phạt trượng đánh, nếu phạm đại tội bất nghịch thì mới dùng phạt trượng đánh chết. Nhưng có một hạn chế nhất định, chính là không thể phạt đánh vào mặt, và hạn chế đánh chết cung nữ. Đôn phi của Càn Long Đế từng đánh chết cung nữ mà bị giáng làm Tần. Đặc biệt có một việc, khi Đổng Ngạc phi chết, Thế Tổ từng đem 30 cung nữ tuẫn tang, về sau thời Khang Hi thì triệt để bỏ đi quy tắc này[24].

Thể loại "Hán phi"[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hậu cung triều Thuận Trị, Khang Hi và Càn Long xuất hiện một dạng hậu phi xuất thân không phải người Bát Kỳ, tức không thuộc Bao y hay Kỳ phân Tá lĩnh. Với xuất thân này, họ không vào cung qua các đợt tuyển chính thức như Bát Kỳ tuyển tú hay Nội vụ phủ tuyển tú, mà đều được mua vào cung làm Cung nữ tử, sau mới được nâng thành Bao y. Khi thảo luận hậu phi triều Thanh, mạng xã hội Trung Quốc hiện đại gọi họ là các [Hán phi; 汉妃]. Đây không phải thuật ngữ chính thức xuất hiện trong thư tịch cổ, nhưng được người hiện đại dùng để chỉ đến những hậu phi có trường hợp xuất thân kể trên.

Cái khái niệm này có khác với cái khái niệm “Hậu phi vốn là người Hán”. Vào đời Thanh thì dù là Hán Quân, Mông Cổ hay Mãn Châu, thì trên phương diện gốc tích họ đều được xem là [Người Bát kỳ]. Không cần xét dân tộc tính là người Mãn, người Hán hay người Mông Cổ đi nữa, người đời Thanh khi đã có Kỳ tịch thuộc Bát Kỳ thì đều đã là người Bát Kỳ, đều hưởng quyền lợi bình đẳng như nhau. Cho nên hậu phi xuất thân Hán Quân, có Đôn Túc Hoàng quý phi cùng Ninh phi, hoặc có tộc Hán thuộc kỳ tịch Mãn Châu như Lệnh Ý Hoàng quý phi, đều không thể xem là “Hán phi”.

Thuần Huệ Hoàng quý phi - một ví dụ cho "Hán phi" của triều Thanh.

Trên mạng Trung Quốc đầy truyền thuyết về Hán phi, nào là “không thể lập Hán phi làm Hậu”, lại còn có người nói đời Thanh không tồn tại Hán phi, bởi vì khi nhập quan Hiếu Trang Hoàng thái hậu đã ra chỉ dụ cấm Hán nữ nhập cung. Trước mắt trong hồ sơ Mãn văn, chẳng thấy cái chỉ dụ này tồn tại, thứ hai thì “Hán phi” thực sự có tồn tại. Đời Thanh, cả ba vị Thuận Trị, Khang Hi và Càn Long đều nổi tiếng có nạp Hán phi. Với Thuận Trị, là nói đến Khác phi Thạch thị, năm Thuận Trị thứ 5, Thuận Trị Đế hạ hai đạo ý chỉ về Mãn-Hán liên hôn, đại loại có nói “Quan Mãn Châu cưới con gái người Hán làm vợ đều báo lại. Còn người thường không cần báo”, đặc biệt sau đó Thuận Trị Đế còn tự “thử nghiệm” mà tuyển Hán nữ nhập cung. Khi ấy, Thạch thị từ Loan Châu xứ Hà Bắc, Trung Quốc mà được chọn, vào cung phong Phi, cư Vĩnh Thọ cung, còn cho phép dùng quần áo người Hán. Điều này cho thấy một bộ mặt phong phú và cởi mở của người Thanh với người ngoại tộc, khác hẳn những gì đại đa số tưởng tượng.

Từ thời Khang Hi, vì quan niệm "môn đăng hộ đối", người Bát Kỳ và dân đen không liên hôn dần thành lệ bất thành văn, cho nên tình huống “quang minh chính đại” nghênh thú Hán phi triều Thanh cũng dần thu hẹp. Một ít hồ sơ trong cung cho thấy, Khang Hi Đế cùng Càn Long Đế, đã thông qua các quan viên địa phương ở Giang Nam mà mua về một số cô gái trẻ, đều con nhà nghèo hèn, vào cung dạy dỗ mà làm Cung nữ tử. Những cô gái ấy lớn lên, liền được mệnh cho Hoàng đế lâm hạnh, trở thành Hậu cung chủ vị. Nhưng do vấn đề về hồ sơ, cũng không rõ ràng xuất thân của các hậu cung chủ vị triều Khang Hi, theo suy đoán mà đại đa số nghi ngờ, thì “Hán phi” triều Khang Hi có Hi tần Trần thị hoặc Tương tần Cao thị, đều có thể là Cung nữ tử người Hán được lâm hạnh.

Trái lại, việc Càn Long Đế nạp Hán phi lại có khá nhiều hồ sơ rõ ràng, ai cũng đều có thể tra ra và biết đến, cụ thể phải kể đến Thuần Huệ Hoàng quý phi, Khánh Cung Hoàng quý phi, Phương phi, Di tần, Cung tầnLộc Quý nhân. Các vị trên sau đó đều được Càn Long Đế tạo hồ sơ giả, đưa vào Nội vụ phủ Bao y, trở thành người Bát Kỳ có kỳ tịch chính thức.

Phương thức mua Hán nữ từ Giang Nam đến triều Gia Khánh thì bãi bỏ. Với cách làm của các vị Hoàng đế nhà Thanh cũng thấy rõ, Hán nữ xuất thân bình dân có thể mắt nhắm mắt mở đưa vào, còn ghi vào hồ sơ và thậm chí là cải hồ sơ thành người Bát Kỳ chính gốc. Song vì đều phải đưa về kỳ tịch, hơn nữa phương thức có phần không “quang minh chính đại”, cái khái niệm “Hán phi” cũng không tồn tại chính thức, nhưng lại là một loại “Ngầm đồng ý” vậy.

Sinh hoạt[sửa | sửa mã nguồn]

Xuân Quý nhân (trái) cùng Mân Quý phi (phải) trong Ngự hoa viên.

Các hậu phi của Hoàng đế triều Thanh phần lớn đều sinh hoạt trong Đông lục cungTây lục cung. Thời Khang Hi, một số hậu phi lại ở khu vực Càn Tây ngũ sở, tựa hồ việc cấp cho chỗ ở thế nào cũng tùy vào sắp xếp. Ví dụ, tuy nói các Thái hậu phải đến Từ Ninh cung hay Thọ Khang cung, nhưng không nhất thiết phải như vậy. Từ Hi Hoàng thái hậu sinh thời lúc còn là Hoàng thái hậu, thường đều ở xen kẽ các cung thuộc Tây lục cung, và bà hay ở Trữ Tú cung.

Sách Thanh triều xuyên việt chỉ nam (清朝穿越指南) của học giả Quất Huyền Nhã (橘玄雅) có chỉ ra rằng, sau khi vào cung thì hậu phi không thể liên lạc với nhà mẹ. Việc người nhà thăm hậu phi là gần như không thể, mà chỉ tùy theo "Đặc chỉ" trong một dịp nào đó, hậu phi mới có thể cùng nhà mẹ gặp một chút. Khi hậu phi có thai, ngoài việc được triều đình chu cấp bà đỡ và thái y, Hoàng đế sẽ thường ân chuẩn cho người nhà của hậu phi vào thăm, đây được xem là một đặc ân vì có công lao sinh hạ Hoàng tự cho hoàng thất. Còn ngoài ra, dẫu gia đình có chuyện đến tan cửa nát nhà, hậu phi chỉ có thể được cho phép phái một thái giám hay một cung nữ thân cận đến nhà mẹ đẻ mà an ủi. Đến khi Từ Hi Thái hậu nắm quyền, những quy tắc này cũng giảm bớt.

Về vấn đề tài sản và lương bổng, sau khi vào cung thì hậu phi không thể mang bất cứ vật gì hoặc người hầu riêng từ nhà mẹ vào cung, và hậu phi mỗi tháng nhận lương thường chỉ có thể dùng ban cho thái giám hay cung nữ, không thể mang ra ngoài đưa cho nhà mẹ. Cao Tông từng có một chỉ huấn về việc này: ["Các ngươi nghiêm dụ đến các Thủ lĩnh Thái giám, phàm mọi việc trong cung không được truyền ra ngoài, ngược lại cũng không được phép đem chuyện bên ngoài vào trong cung. Đến như các vật mà chư vị Thái phi hưởng, đều do Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ban tặng, các vật chư vị Mẫu phi sở hữu, đều do Thế Tông Hiến Hoàng đế ban tặng, đến nay Hoàng hậu sở hữu, cũng là Trẫm ban tặng. Các ngươi nhận phân lệ, cũng nên tiết kiệm chi phí"], cho thấy quy định rất rõ ràng hậu phi chỉ có quyền sử dụng, mà không có quyền sở hữu với bất kỳ vật dụng nào trong cung. Đây cũng là một đặc điểm cực kỳ gắt gao trong lối sống của cung đình triều Thanh[25][26]. Đến mỗi khi hậu cung chủ vị có sinh nhật, đầu đặc biệt gia ân ban thưởng[27].

Về phương diện sự vụ Nội đình, hậu phi hoàn toàn không có quyền can thiệp như nhiều sự ngộ nhận cùng lầm tưởng qua tiểu thuyết hay phim ảnh, thực tế mọi việc trong Nội đình đều do Nội vụ phủ quản lý cùng phân phối, với quyết định cuối cùng là của Hoàng đế. Từ vấn đề lương thực, sinh hoạt, nhu phẩm và nhân sự như cung nữ đều rơi vào sự xử lý của Nội vụ phủ. Như cung nữ phục vụ đến 25 tuổi, theo lệ có thể xuất cung, đều sẽ do Nội vụ phủ đến trực tiếp từng cung điện mà lên danh sách, tiến hành đối chiếu cùng xác thực, sau đó mới dâng lên cho Hoàng đế. Những điều này có thể thấy được vai trò hậu phi trong triều Thanh không liên hệ gì đến ["xử lý nội sự"], mà chủ yếu ở phương diện lễ tế (như Thân tàm lễ), phụng sự Hoàng thái hậu cùng duy trì nếp sống cung kiệm và đức độ trong hậu cung. Bỏ qua những vấn đề gò bó này, thì cuộc sống của hậu phi trong hậu cung đều đạt đến sự phú quý. Họ có thể tiếp cận nhiều loại hình giải trí như thăm Ngự hoa viên, đánh đàn, trò chuyện, hay nếu trong cung có tổ chức Kinh kịch thì đều có thể cùng với Hoàng đế xem.

Về phương diện gia đình, khi con gái một nhà nào đó vào cung làm Hậu cung chủ vị, đặc biệt là Hoàng hậu, thì rất có cơ hội cho gia tộc được đề cao dòng dõi, chính là việc nâng kỳ, ban đất đai cùng các loại tước vị, đây cũng trở thành tiền đề cho nhiều nhà tiến vào hàng Thế gia và có con đường hôn nhân “Vòng luân thế gia” trở nên rộng mở. Cho nên ở đời Thanh, cũng không phải không có nhà muốn đưa nữ nhân của mình hầu trong cung, song đều là các Thế gia hết thời xuống dốc, hay các nhà không có căn cơ muốn đổi đời, muốn làm “Tân quý” mà thôi. Còn đại đa số gia đình Bát Kỳ không hy vọng con gái mình vào cung làm chủ vị làm gì, bởi vì tuy vào cung là hưởng phú quý, song là cả đời vĩnh viễn mất cha mẹ cùng nhà cửa. Dân gian có câu nói về các vị Tú nữ như sau: “Khứ thất gia, từ phụ mẫu, dĩ nhập cung cấm. Quả đương tuyển, tức chung thân u bế, bất phục kiến kỳ thân, sinh ly tử biệt” (Nguyên văn: 去室家,辞父母,以入宫禁。果当选,即终身幽闭,不复见其亲,生离死别。). Cho nên mới nói, người Bát Kỳ có rất nhiều thơ mừng em gái, con gái nhà mình được "may mắn" cho lược thẻ bài.

Xưng hô[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Hi Hoàng thái hậu đương thời được xưng tụng "Lão phật gia", cho thấy quyền lực tuyệt đối của bà trong hoàng thất Mãn Thanh.

Vấn đề xưng hô, Thanh triều xuyên việt chỉ nam chỉ ra, nô tài đối với Hoàng hậu gọi là [Hoàng hậu Chủ tử; 皇后主子], các phi tần đều được gọi là [Mỗ chủ tử; 某主子] - trong đó [Mỗ] là danh vị của phi tần ấy[28][29]. Một số ghi nhận lại xuất hiện danh xưng [Tiểu chủ; 小主] (từ "Cung nữ đàm vãng lục")[30], [Tiểu chủ nhi; 小主兒] (từ "Trân phi mệnh án")[31] hoặc [Chủ phi; 主妃] (từ "Hai vị cô mẫu Cẩn phi, Trân phi của tôi")[32], dù những danh xưng này không thông dụng lắm và có ý kiến tranh cãi, có thể chỉ dành riêng cho thái giám, cung nữ thuộc về cá nhân hậu phi ấy gọi như vậy. Căn cứ theo một số hồ sơ về việc dùng than và Để đương chép về phân vị trong cung, thì từ Hoàng hậu lẫn Phi tần ngẫu nhiên được các nô tài gọi chung là [Nương nương; 娘娘], không phân biệt dù cho là Thường tại hay Hoàng hậu. Các Hoàng tử, Công chúa hay ngoại thần quan viên cùng nô tài trong cung đối với các vị hậu phi có con cái đều sẽ gọi là [Mỗ Ngạch niết; 某额捏] - trong đó [Mỗ] là địa vị hay hiệu của vị phi ấy, ví dụ như Lệnh Ý Hoàng quý phi trong thời gian còn là Hoàng quý phi, đã được gọi là ["Hoàng quý phi ngạch niết"] vì bà là sinh mẫu của các Hoàng tử, Công chúa.

Các vị hậu phi khi trước Hoàng đế và Thái hậu, ngay cả Hoàng hậu, cũng nhất loạt tự xưng [Nô tài; 奴才], đều xuất phát từ ảnh hưởng của chế độ Bát kỳ. Riêng trong sinh hoạt hằng ngày, các hậu phi đều tự xưng theo ngôi thứ nhất với nhau, phiên ra Hán ngữ tương ứng là [; 予] hoặc [Ngô; 吾], còn những từ tự xưng rất thông dụng trên phim ảnh là "Bổn cung", "Thần thiếp" hoàn toàn không có cứ liệu ghi lại.

Đến với Hoàng đế và Hoàng thái hậu, thì Hoàng đế được hậu phi gọi [Hoàng thượng; 皇上], trong khi các nô tài lại gọi là [Chủ tử; 主子], [Thánh chủ; 圣主] hoặc [Vạn tuế gia; 万岁爷]. Bản thân Hoàng đế liền tự xưng là [Ngã; 我] tức là "Ta", bởi vì họ đều nói âm Mãn, mà âm Mãn tự xưng ngôi thứ nhất đều là "Pi", kiểu xưng [Trẫm; 朕] chỉ là hình thức trên văn viết. Từ [Ngô] và [Dư] cũng được ghi nhận được Thái hậu triều Thanh dùng để xưng hô. Từ Hi Thái hậu được ghi nhận hay tự dùng từ [Cha gia; 咱家] để tự xưng, và được phiên thành [zá jiā] hoặc [zǎ jiā] theo bính âm. Riêng từ [Ai gia; 哀家][33] phổ biến trên phim ảnh được cho là xuất phát từ nghệ thuật sân khấu Hí khúc vào cuối đời Thanh, vì không có tư liệu nào đích xác chỉ ra Thái hậu dùng danh xưng này.

Hậu cung đối với Hoàng thái hậu đều gọi [Thái hậu ngạch niết; 太后额捏] hoặc [Ngạch niết; 额捏], sang cuối thời Thanh thì lại thịnh hành dùng một danh từ trộn lẫn Hán-Mãn là [Hoàng ngạch nương; 皇额娘]. Riêng Thái giám, cung nữ đều gọi [Thái hậu chủ tử; 太后主子] cùng [Lão tổ tông; 老祖宗]. Sang thời kỳ cuối của nhà Thanh, Từ Hi Thái hậu được các quan viên và nô tài trong cung gọi bằng một danh từ gây tranh cãi là [Lão Phật gia; 老佛爷], theo nhận định thì có lẽ là một dạng biến hóa của danh xưng [Chủ tử] và [Phật gia], những danh xưng đặc thù của người Mãn Châu gọi Hoàng đế. Riêng Quang Tự Đế lại gọi bà là [Thân ba ba; 亲爸爸] rất đặc thù, đây được cho là do ảnh hưởng "Nữ dĩ nam luận" mà thành, tức là đem vai vế phụ nữ cao hơn hoặc bằng đàn ông đối với người gọi.

Quy trình lễ sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn huy hiệu cho Thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sách lập Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ sách lập của Hoàng hậu triều Thanh, theo Quốc triều cung sử do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ TháiTrương Đình Ngọc soạn thảo[34][35].

Sách phong Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ sách phong của Phi tần triều Thanh, theo Quốc triều cung sử do Đại học sĩ Ngạc Nhĩ TháiTrương Đình Ngọc soạn thảo[36][37].

Trở lên là quy trình chung của [Hoàng quý phi] đến Tần, Quý nhân trở xuống không có lẽ sách phong. Những thay đổi của từng phân vị khác nhau:

  • [Quý phi] và [Phi]: chế tác ["Sách"; 冊] và ["Bảo"; 寶], riêng Phi chỉ dùng ["Ấn"; 印], quy trình còn lại đều như Hoàng quý phi. Riêng người đến lạy trước cung của Quý phi và Phi, thì chỉ có các Hoàng tử, Hoàng tôn cùng các Thái giám phục vụ trong điện sở của Quý phi và Phi.
  • [Tần]: chỉ chế tác ["Sách"; 冊], không hưởng tế cáo Thái Miếu hậu điện và Phụng Tiên điện. Những người đến lạy trước cung của Tần, chỉ có Hoàng tử do chính Tần ấy sinh ra, cùng các Thái giám phục vụ trong điện sở. Quy trình còn lại đều như trên.

Niên hiệu Sùng Đức thời Hoàng Thái Cực, sách lập Hiếu Đoan Văn hoàng hậu cùng sách phong Tứ phi là Thần phi Hải Lan Châu, Quý phi Na Mộc Chung, Thục phi Ba Đặc Mã Tảo và Trang phi Bố Mộc Bố Thái, Hoàng Thái Cực đã cho làm lễ [Khánh hạ; 慶賀] cho cả triều đình chúc mừng. Trong dịp ấy, Công chúa, Vương phi và Mệnh phụ nhập triều bái lạy Hoàng hậu bằng [Lục túc tam quỵ tam bái lễ; 六肃三跪三拜礼], đồng thời cũng bái lạy Tứ phi bằng [Tứ túc nhị quỵ nhị khấu lễ; 四肃二跪二叩礼][41]. Sang thời Ung Chính, ông lập Hiếu Kính Hiến hoàng hậu và cử hành Khánh hạ, do đó Đôn Túc Hoàng quý phi Niên thị cũng được vinh dự nhận lễ từ các mệnh phụ vào triều bái. Đến triều Càn Long, lễ sắc phong của Cao thị được làm ngay lễ sách lập của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, do đó Càn Long Đế căn cứ theo tiền lệ củaĐôn Túc Hoàng quý phi, cho phép Quý phi Cao thị được hưởng quy lễ nhận bái kiến của Công chúa, Thân vương Phúc tấn và Cáo mệnh phu nhân với lễ bái [Tứ túc nhị quỵ nhị khấu lễ].

Năm Càn Long thứ 14 (1749), sách phong Nhàn Quý phi Na Lạp thị làm "Hoàng quý phi Nhiếp lục cung sự", nghi thức [đều như sách lập Hoàng hậu], do đó có được hưởng Khánh hạ, chúc mừng từ quan viên và hưởng lễ bái lạy [Lục túc tam quỵ tam bái lễ] từ Phi tần, Công chúa, Vương phi và các Mệnh phụ. Đây là lần đầu tiên và duy nhất, một Phi tần triều Thanh có được lễ tuyên sách vị hiệu chính thức lại dùng đại điển như của một Hoàng hậu.

Phân vị trong cung[sửa | sửa mã nguồn]

Lương bổng[sửa | sửa mã nguồn]

Cứ theo Cung trung tạp kiện (宫中杂件), hậu phi nhà Thanh có lương bổng và thiện đãi nhất định, ngoài lượng bạc thì còn có các nhu yếu phẩm, hơn kém tùy vào cấp độ.

Tước vị Lương bổng
(theo năm)
Nhu yếu phẩm
(theo năm)
Nhu yếu phẩm
(theo ngày)
Hoàng thái hậu[42] Vàng 20 lượng, bạc 2000 lượng
  • Các loại vải lụa: Mãng đoạn 2 thất, bổ đoạn 2 thất, chức kim 2 thất, trang đoạn 2 thất, uy đoạn 4 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 2 thất, vân đoạn 7 thất, y tố đoạn 4 thất, lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 2 thất, dương đoạn 6 thất.
  • Lụa tơ tằm 2 thất, lụa Sơn Tây 4 thất, chỉ 8 thất, sợi lót 10 thất, sợi dệt 10 thất, hàng tế 10 thất, lụa miên (một loại lụa dệt) 10 thất, vải cao ly 10 thất, vải ba vạch 5 thất, vải lông xanh 40 thất, vải thô 5 thất, chỉ/sợi vàng 20 lữu, nhung 10 cân, sợi bông 6 cân, mộc miên 40 cân.
  • Cúc bạc số hai 200, cúc bạc số ba 200
  • Da chồn loại hai 10, da chồn loại ba 20, da chồn loại năm 70, da chồn Lý (tên một loại chồn): 12, da rái cá biển 12
  • Lợn một con, dê, gà, vịt các loại 1 chỉ, gạo nếp mới 2 thăng, gạo vàng 1 thăng 5 hợp, gạo sông Cao Ly 3 thăng, bột nếp 3 cân, mì trắng 51 cân, mì kiều mạch, bột mì các loại 1 cân, đậu hạt 3 hợp.
  • Vừng 1 hợp 5 chước, đường trắng 2 cân 1 lưỡng 5 tiền, đường bát 8 lưỡng, mật ong 8 lưỡng, quả óc chó 4 lưỡng, hạt thông 2 tiền, cẩu kỷ (kỷ tử) 4 lưỡng, táo tàu khô 10 lưỡng, thịt lợn 12 cân, dầu mè 3 cân 10 lưỡng, trứng gà 20 quả, bột đậu 1 cân 8 lưỡng, đậu phụ 2 cân, bột oa tra 1 cân, tương ngọt 2 cân 12 lưỡng, nước tương trong 2 lưỡng, giấm 5 lưỡng.
  • Rau tươi 15 cân, cà tím 20 quả, dưa chuột 20 quả, sáp trắng 7 chi, sáp vàng 2 chi, sáp dầu cừu 20 chi, sáp dầu cừu cô đặc 1 chi.
  • Than Hồng la: mùa hè 20 cân, mùa đông 40 cân; than đen: mùa hè 40 cân, mùa đông 80 cân
Hoàng hậu[43] Bạc 1000 lượng
  • Các loại vải lụa: Mãng đoạn 2 thất, bổ đoạn 2 thất, chức kim 2 thất, trang đoạn 2 thất, uy đoạn 4 thất, thiểm đoạn 2 thất, kim tự đoạn 2 thất, vân đoạn 7 thất, y tố đoạn 4 thất, lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 2 thất, dương đoạn 6 thất
  • Lụa tơ tằm 2 thất, lụa Sơn Tây 4 thất, chỉ 8 thất, tơ 8 thất, sợi dệt 8 thất, hàng tế 8 thất, lụa miên 8 thất, vải cao ly 10 thất, vải ba vạch 5 thất, vải lông xanh 40 thất, vải thô 5 thất, chỉ/sợi vàng 20 lữu, nhung 10 cân, sợi bông 6 cân, mộc miên 40 cân.
  • Da chồn Lý 40, da chồn Ô Lạp (tên một loại chồn) 50
  • Thịt lợn 16 cân, thịt dê 1 mâm, gà, vịt các một loại chỉ, gạo nếp mới 1 thăng 8 hợp, gạo vàng 1 thăng 3 hợp 5 chước, gạo sông Cao Ly 1 thăng 5 hợp, bột nếp 1 cân 8 lưỡng, mì trắng 7 cân 8 lưỡng, mì kiều mạch 8 lưỡng, đậu hạt 3 hợp.
  • Đường trắng 1 cân, đường bát 4 lưỡng, mật ong 4 lưỡng, quả óc chó 2 lưỡng, hạt thông 1 tiền, cẩu kỷ (kỷ tử) 4 lưỡng, táo tàu khô 5 lưỡng, mỡ lợn 1 cân, dầu mè 1 cân, trứng gà 10 quả, diện cân 12 lưỡng, đậu phụ 1 cân 8 lưỡng, bột oa tra 1 cân, tương ngọt 1 cân 6 lưỡng 5 tiền, nước tương trong 1 lưỡng, giấm 2 lưỡng 5 tiền.
  • Rau tươi 15 cân, cà tím 20 quả, dưa chuột 20 quả, sáp trắng 5 chi, sáp vàng 4 chi, sáp dầu cừu 10 chi, sáp dầu cừu cô đặc 1 chi.
  • Than Hồng la: mùa hè 10 cân, mùa đông 20 cân; Than đen: mùa hè 30 cân, mùa đông 60 cân
Hoàng quý phi[44] Bạc 800 lượng
  • Các loại vải lụa: Mãng đoạn 1 thất, bổ đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 2 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 6 thất, y tố đoạn 3 thất, lam tố đoạn 3 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 4 thất, bành đoạn 4 thất.
  • Lụa tơ tằm 2 thất, lụa Sơn Tây 3 thất, chỉ 8 thất, chỉ lót 7 thất, tơ 7 thất, lụa dệt 7 thất, hàng tế 7 thất, lụa miên 6 thất, vải cao ly 8 thất, vải ba vạch 3 thất, vải lông xanh 15 thất, vải xanh đậm 15 thất, vải thô 5 thất, chỉ/sợi vàng 14 lữu, nhung 8 cân, sợi bông 6 cân, mộc miên 30 cân,
  • Da chồn Lý 30, da chồn Ô Lạp 40
  • Thịt lợn 12 cân, thịt dê 1 mâm, gà 1 chỉ (hoặc vịt 1 chỉ), gạo trần canh 1 thăng 5 hợp, gạo vàng 1 thăng 3 hợp 5 chước, gạo sông Cao Ly 1 thăng 5 hợp, bột nếp 1 cân 8 lưỡng, mì trắng 5 cân, mì kiều mạch 8 lưỡng, đậu hạt 3 hợp.
  • Đường trắng 5 lưỡng, đường bát 4 lưỡng, mật ong 4 lưỡng, quả óc chó 1 lưỡng, hạt thông 1 tiền, cẩu kỷ (kỷ tử) 4 lưỡng, táo tàu khô 5 lưỡng, mỡ lợn 1 cân, dầu mè 1 cân, trứng gà 10 quả, diện cân 12 lưỡng, đậu phụ 1 cân 8 lưỡng, bột oa tra 1 cân, tương ngọt 1 cân 6 lưỡng 5 tiền, nước tương trong 1 lưỡng, giấm 2 lưỡng 5 tiền.
  • Rau tươi 15 cân, cà tím 20 quả, dưa chuột 20 quả, sáp trắng 5 chi, sáp vàng 4 chi, sáp dầu cừu 10 chi, sáp dầu cừu cô đặc 1 chi.
  • Lá trà Lục An 14 lượng (mỗi tháng), Lá trà Thiên Trì 8 lượng (mỗi tháng)
  • Than hồng la: mùa hạ 10 cân, mùa đông 20 cân, Than đen: mùa hạ 30 cân, mùa đông 60 cân,
Quý phi[45] Bạc 600 lượng
  • Các loại vải lụa: Mãng đoạn 1 thất, bổ đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 2 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 4 thất, y tố đoạn 3 thất, lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 2 thất, bành đoạn 1 thất.
  • Lụa tơ tằm 2 thất, lụa Sơn Tây 3 thất, chỉ 4 thất, chỉ lót 7 thất, tơ 7 thất, lụa dệt 7 thất, hàng tế 5 thất, lụa miên 5 thất, vải cao ly 6 thất, vải ba vạch 2 thất, vải lông xanh 12 thất, vải xanh đậm 12 thất, vải thô 5 thất, chỉ vàng 12 lữu, nhung 6 cân, sợi bông 4 cân, mộc miên 25 cân.
  • Da chồn Lý 20, da chồn Ô Lạp 30
  • Thịt lợn 9 cân 8 lưỡng, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 15 chỉ (mỗi tháng), gạo trần canh 1 thăng 3 hợp 5 chước, mì trắng 3 cân 8 lưỡng
  • Đường trắng 3 lưỡng, quả óc chó 1 lưỡng, táo tàu khô 1 lưỡng 6 tiền, dầu mè 6 lưỡng, trứng gà 4 quả, diện cân 4 lưỡng, đậu phụ 1 cân 8 lưỡng, bột oa tra 8 lưỡng, tương ngọt 6 lưỡng 5 tiền, nước tương trong 8 tiền, giấm 2 lưỡng 5 tiền,
  • Rau tươi 10 cân, cà tím 8 quả, dưa chuột 8 quả, sáp trắng 2 chi, sáp vàng 2 chi, sáp dầu cừu 5 chi,
  • Lá trà Lục An 14 lưỡng (mỗi tháng), Lá trà Thiên Trì 8 lưỡng (mỗi tháng)
  • Than hồng la: mùa hạ 10 cân, mùa đông 15 cân; Than đen: mùa hạ 30 cân, đông 60 cân,
Phi[46] Bạc 300 lượng
  • Các loại vải lụa: Mãng đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 2 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 4 thất, y tố đoạn 2 thất, lam tố đoạn 1 thất, mạo đoạn 1 thất, bành đoạn 3 thất
  • Lụa tơ tằm 1 thất, lụa Sơn Tây 2 thất, chỉ 4 thất, chỉ lót 5 thất, tơ 5 thất, lụa dệt 4 thất, hàng tế 5 thất, lụa miên 5 thất, vải cao ly 5 thất, vải ba vạch 2 thất, vải lông xanh 10 thất, vải xanh đậm 10 thất, vải thô 3 thất, chỉ vàng 10 lữu, nhung 5 cân, sợi bông 3 cân, mộc miên 20 cân.
  • Da chồn Lý 10, da chồn Ô Lạp 20
  • Thịt lợn 9 cân, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 10 chỉ (mỗi tháng), gạo trần canh 1 thăng 3 hợp 5 chước, mì trắng 3 cân 8 lưỡng,
  • Đường trắng 3 lưỡng, quả óc chó 1 lưỡng, táo tàu khô 1 lưỡng, dầu mè 6 lưỡng, trứng gà 4 quả, diện cân 4 lưỡng, đậu phụ 1 cân 8 lưỡng, bột oa tra 8 lưỡng, tương ngọt 6 lưỡng 5 tiền, giấm 2 lưỡng 5 tiền,
  • Rau tươi 10 cân, cà tím 8 quả, dưa chuột 8 quả, sáp trắng 2 chi, sáp vàng 2 chi, sáp dầu cừu 2 chi.
  • Lá trà Lục An 14 lưỡng (mỗi tháng), Lá trà Thiên Trì 8 lưỡng (mỗi tháng)
  • Than hồng la: mùa hạ 5 cân, mùa đông 10 cân; Than đen: mùa hạ 25 cân, mùa đông 40 cân,
Tần[47] Bạc 200 lượng
  • Các loại vải lụa: Mãng đoạn 1 thất, chức kim 1 thất, trang đoạn 1 thất, uy đoạn 1 thất, thiểm đoạn 1 thất, kim tự đoạn 1 thất, vân đoạn 2 thất, y tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 1 thất, bành đoạn 1 thất
  • Lụa tơ tằm 1 thất, lụa Sơn Tây 2 thất, chỉ 1 thất, chỉ lót 2 thất, tơ 3 thất, lụa dệt 3 thất, hàng tế 3 thất, vải cao ly 4 thất, vải lông xanh 8 thất, vải xanh đậm 8 thất, vải thô 4 thất, chỉ vàng 6 lữu, nhung 3 cân, sợi bông 3 cân, mộc miên 15 cân.
  • Da chồn Lý 4, da chồn Ô Lạp 20
  • Thịt lợn 6 cân 8 lưỡng, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 10 chỉ (mỗi tháng), gạo trần canh 1 thăng 3 hợp, mì trắng 2 cân,
  • Đường trắng 2 lưỡng, dầu mè 5 lưỡng 5 tiền, đậu phụ 1 cân 8 lưỡng, bột oa tra 8 lưỡng, tương ngọt 6 lưỡng, giấm 2 lưỡng
  • Rau tươi 8 cân, cà tím 6 quả, dưa chuột 6 quả, sáp trắng 2 chi, sáp vàng 2 chi, sáp dầu cừu 2 chi
  • Lá trà Lục An 14 lưỡng (mỗi tháng), Lá trà Thiên Trì 8 lưỡng (mỗi tháng)
  • Than hồng la: mùa hạ 5 cân, mùa đông 8 cân; Than đen: mùa hạ 20 cân, mùa đông 30 cân,
Quý nhân[48] Bạc 100 lượng
  • Các loại vải lụa: Uy đoạn 1 thất, vân đoạn 2 thất, y tố đoạn 2 thất, lam tố đoạn 2 thất, mạo đoạn 1 thất, dương đoạn 1 thất.
  • Lụa tơ tằm 1 thất, lụa Sơn Tây 2 thất, chỉ 2 thất, chỉ lót 2 thất, tơ2 thất, lụa dệt 2 thất, vải cao ly 3 thất, vải lông xanh 6 thất, vải xanh đậm 6 thất, vải thô 3 thất, chỉ vàng 3 lữu, nhung 3 cân, sợi bông 2 cân, mộc miên 12 cân.
  • Da chồn Lý 4, da chồn Ô Lạp 10
  • Thịt lợn 6 cân, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 8 chỉ (mỗi tháng), gạo trần canh 1 thăng 2 hợp, mì trắng 2 cân,
  • Đường trắng 2 lưỡng, dầu mè 3 lưỡng 5 tiền, đậu phụ 1 cân, bột oa tra 8 lưỡng, tương ngọt 6 lưỡng, giấm 2 lưỡng
  • Rau tươi 6 cân, cà tím 6 quả, dưa chuột 6 quả, sáp trắng 1 chi, sáp vàng 1 chi, sáp dầu cừu 1 chi,
  • Lá trà Lục An 7 lưỡng (mỗi tháng), Lá trà Thiên Trì 4 lưỡng (mỗi tháng)
  • Than hồng la mùa đông 5 cân; Than đen: mùa hạ 18 cân, mùa đông 25 cân,
Thường tại[49] Bạc 50 lượng
  • Vân đoạn 1 thất, y tố đoạn 1 thất, bành đoạn 1 thất, lụa tơ tằm 1 thất, lụa Sơn Tây 1 thất, chỉ 1 thất, tơ 1 thất, vải dệt 1 thất, mộc miên 3 cân
  • Thịt lợn 5 cân, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 5 chỉ (mỗi tháng), gạo trần canh 1 thăng 2 hợp, mì trắng 2 cân
  • Đường trắng 2 lưỡng, dầu mè 3 lưỡng 5 tiền, đậu phụ 1 cân 8 lưỡng, bột oa tra 8 lưỡng, tương ngọt 6 lưỡng, giấm 2 lưỡng
  • Rau tươi 6 cân, cà tím 6 quả, dưa chuột 6 quả, sáp trắng 2 chi, sáp dầu cừu 1 chi,
  • Than đen: mùa hạ 10 cân, mùa đông 20 cân
Đáp ứng[50] Bạc 30 lượng
  • Vân đoạn 1 thất, y tố đoạn 1 thất, bành đoạn 1 thất, lụa tơ tằm 1 thất, lụa sơn tây 1 thất, chỉ 1 thất, tơ 1 thất, vải dệt 1 thất, mộc miên 3 cân
  • Thịt lợn 1 cân 8 lưỡng, thịt dê 15 mâm (mỗi tháng), gà vịt cộng 5 chỉ (mỗi tháng), gạo trần canh 6 hợp, mì trắng 2 cân,
  • Rau tươi 2 cân, sáp vàng 1 chi, Sáp dầu cừu 1 chi
  • Than đen: hạ 5 cân, đông 10 cân
Quan nữ tử[51] Bạc 6 lượng
  • Vân đoạn 1 sơ, lụa tơ tằm 1 sơ, chỉ 1 sơ, lụa dệt 1 sơ, hàng tế 1 sơ, mộc miên 2 cân
  • Thịt lợn 1 cân, gạo trắng già 7 hợp 5 chước,
  • Rau tươi 12 lưỡng
  • Than vụn đen: 3 tiền

Đơn vị đo lường:

  • 1 cân = 10 lưỡng = 100 tiền, tương đương 0.5kg ngày nay
  • 1 thất = 10 trượng = 100 xích, tương đương 33m ngày nay

Than Hồng La[52]: loại than chuyên sử dụng trong cung đình Minh - Thanh, làm bởi xưởng Hồng La ngay ngoài cổng Tây An. Than Hồng La được làm từ các cây gỗ cứng của phủ Thuận Thiên, làm theo quy trình nghiêm ngặt được giám sát bởi Bộ Lễ. Than cháy lâu, lửa nóng, khi cháy không mùi không khói.

Phẩm phục[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với một hậu phi nhà Thanh, trang phục vào dịp sắc phong hoặc đại lễ luôn được yêu cầu, không chỉ thể hiện vinh quang của nhà Thanh, mà còn thể hiện địa vị của vị phi tần đó. Theo quy định nhà Thanh, một lễ phục cơ bản của hậu phi là: Triều quan (朝冠), Kim ước (金约), Nhị ước(珥约), Lãnh ước (领约), Triều châu (领约), Thải thuế (彩帨), Triều quái (朝褂), Triều bào (朝袍), Triều váy (朝裙) cùng Triều ủng (朝靴) mười loại tạo thành[53].

Chủ yếu quần áo từ ngoài vào trong, phân biệt là: Triều quái, Triều bào và Triều váy 3 thứ. Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đều giống nhau, đơn giản vì danh xưng Thái hậu ý chỉ “Hoàng hậu của Tiên đế” nên trang phục cùng Hoàng hậu đồng dạng. Xuống dưới tần phi tước Tần trở lên và mệnh phụ cấp cao mới cùng giống, và cũng chỉ có Tần trở lên mới có Triều quái, Triều bào, Triều quan mà thôi.

Triều phục[sửa | sửa mã nguồn]

Triều phục thể hiện trên tranh chân dung của Hiếu Kính Hiến hoàng hậu.
Triều phục thể hiện trong tranh chân dung của Hiếu Đức Hiển hoàng hậu.
Triều phục Hoàng hậu của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu.
Triều phục Hoàng quý phi của Tuệ Hiền Hoàng quý phi.
  • [Triều quái; 朝褂]: là một loại áo khoác mặc bên ngoài Triều bào ở dưới Phi lĩnh. Theo Khâm định Đại Thanh hội điển sự lệ ghi lại thì: “Sắc dùng thanh, trường vạt vô mệ, dệt kim long văn, dệt kim lụa hoặc dệt kim lụa nạm biên”.
  1. Triều quái không có tay áo, cân vạt và dài. Loại áo này có cơ bản 4 thể, loại đầu tiên có thể thấy trên tranh vẽ Hiếu Kính Hiến hoàng hậu của Ung Chính Đế và một số tranh hậu phi đời trước, đều cùng một loại mẫu để vẽ. Thể thức này tay áo màu lam, vạt áo xẻ tà đằng trước, viền áo nạm kim, trước ngực là một hình rồng chính long, vạt áo có 2 hành long, phía dưới vạt áo có thể thức bát bảo bình thủy. Có thể tạm xem đây là thể thức thời Khang-Ung thường dùng, vì bức họa các vị Hoàng hậu trở ra trước đều như vậy.
  2. Một số hình vẽ mệnh phụ thời gian này cũng có hình thức Triều quái tương tự như vậy. Loại thức này chính thức sang thời Càn Long trung kỳ bị bãi bỏ. Thời kỳ này, triều đình quy định Triều quái Hoàng hậu dùng màu xanh, trước sau là 2 hình đại lập long. Cứ theo [Khâm định cung trung hiện hành tắc lệ; 钦定宫中现行则例] thời Càn Long ghi lại: “Triều quái, sắc dùng xanh đá, phiến kim duyên, thêu văn trước sau lập long các nhị” (乾隆《钦定宫中现行则例》“朝褂,色用石青,片金缘,绣文前后立龙各二”). Phía dưới, Hoàng tử Phúc tấn đến Huyện chúa đều dùng thức trước 4 sau 3 hình rồng.
  3. Một loại Triều quái khác, gọi là “Hữu điệp triều quái” (有褶朝褂; dạng triều quái có tầng khúc). Loại này ở phần ngực trước sau thêu 2 hình lập long, phía dưới chia ra 4 tầng, hàng 1 và 3 thêu hành long, hàng 2 và 4 thêu vạn phúc vạn thọ đồ hình cùng với mây tía giao nhau. Loại này chỉ có tần phi trở lên dùng. Năm Càn Long thứ 36, Thanh Cao Tông vì Sùng Khánh Thái hậu vạn thọ mà ở Từ Ninh cung cử hành vạn thọ tiết, trong dịp này có [Từ Ninh yến hỉ đồ; 慈宁燕喜图], thể hiện tần phi trong điện đều vận dạng này Triều quái.
  4. Còn một loại Triều quái, thể hiện từ sau thời Càn Long trở đi. Cơ bản cũng là dạng 2 hình lập long, song hình lập long dời xuống hai vạt, viền áo thể hiện hình hoa văn vạn phúc vạn thọ cùng mây tía giao nhau, ở dưới vạt áo ngoài hoa văn sóng nước thì còn có các dải màu xanh, đỏ, lục, vàng, huyền xen kẽ nhau. Dạng thức này đến hết thời Thanh, có thể thấy các tranh Hoàng hậu đều là dạng này cả, như tranh vẽ Hiếu Đức Hiển hoàng hậu. Chỉ riêng đến thời Uyển Dung đăng vị Hoàng hậu, lại dùng thể thức Hữu điệp triều quái.
  • [Triều bào; 朝袍]: là áo mặc chính trong bộ lễ phục của hậu phi. Bộ triều phục gồm hai yếu tố quan trọng là: Mã đề tụ (马蹄袖; ống tay hình móng ngựa) cùng Phi lĩnh (披领; loại cổ giả khoác lên vai, còn gọi “Khoát lĩnh”), sau đó còn có cổ áo tròn (viên lĩnh), tay áo hẹp nách rộng có viền, hai sườn mở vạt, có hoa văn rồng, đều lấy hình thức cửu long. Hoàng thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng quý phi đều dùng Triều bào màu Minh hoàng sắc (明黄色).
  • [Triều váy; 朝裙], có hai loại, một là có áo hai là không dựa theo hiện vật thật. Hậu phi triều phục sử dụng trường hợp rất ít, chỉ ở trọng đại lễ nghi lễ mừng sử dụng, tỷ như đông chí, Nguyên Đán, vạn thọ, sắc phong,... và duy nhất lễ hiến tế tầm đàn của Hoàng hậu chủ trì. Hoàng Hậu triều váy, mùa Đông dùng phiến kim thêm hải long duyên, trên dùng hồng dệt kim thọ tự lụa, xuống dùng xanh đá hành long trang lụa, toàn dùng chính phúc, có bích tích. Mùa hè, triều váy dùng phiến kim duyên. Từ Hoàng hậu đến tần đều có quy chế như nhau.
  • [Triều quan; 朝冠]: là một dạng mũ dùng cho Triều phục, ở giữa có một vật trang trí có tầng Kim phượng, xung quanh còn gắn một vòng những con Kim phượng và một con Kim địch ở sau gáy mũ. Mặt sau của Triều quan, ở dưới đuôi Kim địch có gắn chuỗi Rũ châu làm trang sức. Phía sau của Triều quan có 1 tấm Hộ Lãnh - nguyên liệu dùng giống vành Triều quan rũ xuống phía dưới. Có hai loại Triều quan, 1 cho mùa hè còn một cho mùa đông.
  1. Triều quan của Hoàng thái hậu, Hoàng hậu: mùa đông dùng da huân chồn, mùa hạ dùng Nhung xanh (có tài liệu ghi là Nhung đen) bọc ngoài. Trên đỉnh đính Chu vĩ (chính là phần lông mềm màu đỏ). Đỉnh có 3 tầng, mỗi tầng cách 1 viên Đông châu và một con Kim phượng, trên thân Kim phượng gắn 3 viên Đông châu, 17 viên Trân châu, trên cùng của đỉnh Triều quan gắn một 1 viên Đông châu cỡ lớn. Trên Chu vĩ có đính bảy con Kim phượng, trên thân Kim phượng gắn 9 viên Đông châu, 1 viên đá mắt mèo, 21 viên Trân châu; một con Kim địch, trên thân Kim địch gắn 1 viên đá mắt mèo, 16 viên Trân châu nhỏ. Chim Địch rũ châu, có 302 viên, kết thành 5 hàng dãy rũ. Dây rũ dùng Minh Hoàng sắc.
  2. Triều quan của Hoàng quý phi, Quý phi: lệ như của Hoàng hậu, mùa Đông dùng da Huân chồn, mùa hạ dùng Nhung xanh, đại khái như Hoàng hậu. Nhưng đuôi chim Địch sức 192 viên, kết thành 3 hàng dây rũ. Quý phi dây rũ dùng màu Kim hoàng sắc.
  3. Triều quan của Phi: trên đỉnh chỉ có 2 tầng, mỗi tầng cách 1 viên Đông châu và một con Kim phượng, trên thân Kim phượng gắn 9 viên Đông châu, 17 viên Trân châu, trên đỉnh dùng đá mắt mèo. Trên Chu vĩ có đính năm con Kim phượng, sức 7 Đông châu, 21 trân châu; sau 1 Kim địch, đều như Quý phi. Chim Địch rũ châu, có 188 viên, kết thành 3 hàng dây rũ, đều như Quý phi.
  4. Triều quan của Tần: lệ như Quý phi, có 2 tầng, mặt trên cùng khảm đá Kha. Thân Kim phượng gắn 5 viên Đông châu, 19 viên Trân châu, Kim địch phía sau sức 16 Trân châu, rũ dây tổng 172 viên, còn lại đều như Phi.
  • [Thải thuế; 彩帨]: dây rũ bằng vải trước ngực của các bộ Triều quái, được cột bằng dây có màu theo quy định.
  1. Thải thuế của Hoàng hậu thường màu xanh biếc, thêu Ngũ cốc được mùa, dây cột màu Minh hoàng.
  2. Thải thuế của Hoàng quý phi, cùng Hoàng hậu tương đồng.
  3. Thải thuế của Quý phi, dây cột màu Kim hoàng, còn lại như Hoàng quý phi.
  4. Thải thuế của Phi, thêu hình Vân chi thụy bảo, còn lại như Quý phi.
  5. Thải thuế của Tần không thêu hoa văn, còn lại như của Phi.
  • [Triều châu; 领约]: một bộ dây ngọc khoác bên ngoài Triều quái, thành phần gồm 3 bộ, trong đó có 1 chuỗi dây bằng đá và 2 chuỗi san hô (màu đỏ), dây cột có màu. Hoàng hậu và Phi tần dựa theo chất liệu của Triều châu cùng màu của dây cột mà phân định:
  1. Hoàng hậu: 1 dây Đông châu (màu trắng), 2 dây San hô, dây thắt màu Minh hoàng.
  2. Hoàng quý phi: 1 dây Mật phách (màu vàng mật), 2 dây San hô, dây thắt màu Minh hoàng.
  3. Quý phi: quy chế như của Hoàng quý phi, riêng dây thắt màu Kim hoàng.
  4. Phi: quy chế như của Quý phi.
  5. Tần: 1 dây San hô, 2 dây Mật phách, dây thắt màu Kim hoàng.
  • [Lãnh ước; 领约]: là cái kiềng đeo trên cổ Triều quái.
  1. Hoàng hậu: có 11 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây sức đá Ngọc lam.
  2. Hoàng quý phi: có 7 Đông châu, ở giữa lấy San hô, dây rũ ở 2 đầu dùng màu Minh hoàng, ở giữa các dây sức San hô, ở đuôi các dây cũng sức San hô.
  3. Quý phi: màu dây là Kim hoàng, còn lại như Hoàng quý phi.
  4. Phi và Tần: đều như Quý phi.
  • [Kim ước; 金约]: dây đeo trên trán, để giữ Triều quan.
  1. Hoàng hậu: khắc 13 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 324 viên, phân làm 5 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 5 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 8 viên Đông châu và 8 viên Trân châu xen kẽ.
  2. Hoàng quý phi và Quý phi: khắc 12 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 204 viên, phân làm 3 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 3 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 6 viên Đông châu và 6 viên Trân châu xen kẽ.
  3. Phi: khắc 11 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 194 viên, phân làm 3 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 3 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 6 viên Đông châu và 6 viên Trân châu xen kẽ.
  4. Tần: khắc 8 hình Kim vân, mỗi hình sức 1 viên Đông châu, ở giữa dùng Thanh Kim thạch, Hồng Phiến kim. Ở sau rũ 1 dẫy ngọc, đều là trân châu, sức 177 viên, phân làm 3 hàng rũ, ở đuôi mỗi hàng rũ là sức 1 viên Đại trân châu. Giữa 3 hàng rũ có nối khoảng 2 viên Thanh Kim thạch, sức 4 viên Đông châu và 4 viên Trân châu xen kẽ.
  • [Nhị; 珥]: tức là trang sức đeo ở lỗ tai, theo truyền thống người Mãn, hậu phi đều xỏ 3 lỗ ở tai và đeo 3 viên trang sức hoa tai vào khi mặc Triều phục. Theo quy chế, hình hoa tai của tần phi đều có hình rồng làm bằng vàng, ngoài ra còn sức trân châu mỗi bông 2 viên, tuy nhiên chất lượng trân châu tùy cấp bậc mà khác biệt:
  1. Hoàng hậu: hoa tai dùng Nhất đẳng Trân châu;
  2. Hoàng quý phi và Quý phi: dùng Nhị đẳng Trân châu;
  3. Phi: dùng Tam đẳng Trân châu;
  4. Tần: dùng Tứ đẳng Trân châu;

Cát phục[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với Triều phục phải dịp trọng đại vinh hiển mới được mặc, còn thì những việc hỉ hay cần trang trọng một chút, các hậu phi đều mặc một thứ phục sức gọi là Cát phục. Trong các triều đại Trung Quốc, chỉ có nhà Thanh là chính thức quy định loại phục sức này, dù trước đó nhà Minh đã hình thành khái niệm rồi.

Loại phục sức này cơ bản giống loại tiếp theo gọi Thường phục, nhưng hoa văn trang sức mỹ lệ, nên còn gọi là Thải phục (彩服) hay Hoa y (花衣). Một bộ Cát phục bao gồm: Long quái (龙褂) mặc ngoài và Long bào (龙袍) mặc bên trong.

Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu của Càn Long Đế mặc Long quái bên ngoài Long bào.
  • [Long quái; 龙褂], gọi như vậy loại áo “Quái” là dạng áo có xẻ vạt, thân áo dài, ống tay tương đối dài, nhưng không có thức Mã đề tụ, đều có màu xanh đen (tức là Thạch Lam sắc). Theo khai quật được, thì Quái của Đế vương là áo xẻ trước sau, trái phải thành 4 vạt, còn Hậu phi chỉ xẻ đằng sau. Nhưng cứ theo nhiều hình họa thời Thanh sơ kỳ, cho thấy áo nữ cũng xẻ trước sau trái phải 4 vạt như nam giới. Này cũng tương đối dễ hiểu vì đa phần quần áo thời kỳ trước nam nữ khá là giống nhau một cái hình thức.
  1. Hoa văn Long quái, thuở ban đầu là dạng Mãn trang (满装), một thân áo toàn hình Mãn thêu mây. Dạng hoa văn này từ thời Minh hậu kỳ đã hình thành. Năm Khang Hi thứ 25, cứ 《Tô Châu dệt cục chí》 có ghi nhận những thứ như “Mãn trang quái”, “Phong vân địa long thủy quái”...chính là thể Long quái này. Thể thức này, trước sau ngực thường là trước 2 sau 1 hình chính long, bả vai mỗi vai 1 chính long, ở hai vạt áo có hình phúc hành long trước sau 2 hình, cộng lại đủ 9 hình long. Bên dưới vạt có thể hoa văn “hải thủy giang nhai” (海水江崖). Ngoài ra còn có “Tứ long thức”; là trước sau hai hình đại lập long, hai vai mỗi vai hình 1 long. Loại áo Mãn trang quái này thời Khang-Ung khai quật hiện vật chiếm tỉ lệ rất cao.
  2. Thuở từ thời Càn Long trở đi, cho đến vãn kỳ, đều là dạng Đoàn long trang (团龙装). Đoàn long, tức là hình rồng ổ cuộn tròn, ngoài đoàn long phân bố ở hai vai, trước sau vùng ngực và trước sau phía dưới vạt áo, thì còn lại để trống và áo thường màu xanh đậm. Một số loại áo thêm hình sóng nước ở vạt áo và dải màu ở ống tay áo.
  • [Long bào; 龙袍], cũng gọi Mãng bào (蟒袍) hay Cát phục bào (吉服袍), loại áo mặc bên trong và cũng là áo chính của một bộ Cát phục thời Thanh. Áo thể viên lĩnh (cổ tròn), ống tay áo dạng Mã đề tụ, khai vạt trái phải, thân áo dài, lĩnh khâm (viền cổ áo) có viền hoa văn. Đại để khá tương đồng với Long bào của phái nam trong hoàng thất.
  1. Hoa văn của áo thường là Mãn địa văn (满地纹; hình hoa văn phủ khắp áo) và Đoàn văn (团纹; hình hoa văn ổ). Thời sơ kỳ, áo bào của Đế-Hậu cùng dạng đoàn long, sau chỉ có hậu phi sử dụng. Ngoài ra dưới vạt áo cũng có hoa văn cột thủy, sóng thủy và đôi khi có đề tài dơi, mây phủ rải rác thân áo bên cạnh đoàn long (cái này khác với dạng mãn địa văn).
  2. Cát phục thường mặc Long quái bên ngoài Long bào, song cũng có trường hợp chỉ mặc Long bào, nhưng do trang phục hoa văn của Long bào khá bắt mắt nên thông thường họ cũng không để lộ ra, chỉ khi vẽ tranh là thường như vậy.
  3. Long bào quy định màu sắc, tương tự triều bào: Thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng quý phi dùng màu Minh hoàng, Quý phi và Phi dùng màu Kim hoàng, còn Tần dùng màu Hương.
Lệnh phi mặc Long bào, không khoác Long quái.

Quy định về Cát phục của các bậc Hậu phi cụ thể như sau:

  1. Hoàng hậuHoàng quý phi: Long quái có 8 hình Ngũ trảo Kim long (五爪金龙) theo thể thức hình tròn khép kín, 2 vai là hình Chính long (正龙; hình rồng quay mặt ra chính diện), vát áo trước thêu 4 hình Hành long (行龙; hình rồng xoãi dài bề ngang), bên dưới là hình Bát bảo, Cột thủy, tay áo thêu hình Hành long. Còn một loại áo Long quái thì bên dưới không có Bát bảo Cột thủy, tay áo cũng không thêu hình gì. Long bào dùng màu Kim hoàng, cổ áo giả (Lĩnh tụ) dùng màu Thạch lam, toàn thân áo thêu 9 hình Kim long, xen kẽ là hình Ngũ sắc vân, Phúc thọ văn thải, trước sau chính giữ cổ là hình Chính long, trái phải có các hình Hành long tụ về, tay áo tương tiếp mỗi chỗ 2 hình Hành long, khai vạt. Loại áo thứ 2 Long bào, thêu Ngũ trảo Kim long 8 hình, 2 vai thêu Chính long, vạt áo 4 hình Hành long, bên dưới có Bát bảo, Cột thủy. Một loại nữa không có hoa văn bên dưới, còn lại đều như các loại trên.
  2. Quý phiPhi: đều có thể thức hoa văn tương tự với Hoàng hậu và Hoàng quý phi, cả Long quái và Long bào, duy Long bào đều dùng màu Minh hoàng.
  3. Tần loại dùng Long quái trước sau và 2 vai đều là Chính long, ở vạt áo dùng Quỳ long (夔龙; hình rồng lượn trong 1 hình tròn nhưng không quay chính diện), còn lại như Quý phi và Phi. Long bào của Tần dùng màu Hương, còn lại đều như trên.

Án theo lễ chế, Cát phục sẽ có Cát phục quan (吉服冠). Loại Cát phục quan này, có thể thấy giống với mũ nam giới, đầu là dạng mũ chóp lông đỏ, có thể tùy theo cấp bậc mà có điểm trang sức. Song trong các tranh họa thời kỳ này cũng có người không đội mũ mà chỉ biện tóc, tùy ý cài thêm hai ba loại trang sức. Lại có người dùng khăn đen phủ đầu, cài trâm. Sau này, loại khăn đó hình thành và đỉnh điểm ở thời Càn Long, đã ra Điền tử (钿子), một trong những loại phúc sức tiêu biểu của phụ nữ quý tộc nhà Thanh.

Điền tử về sau ngày càng gắn lên đó nhiều trang sức, trở thành một loại “Cát phục quan” không có trong điển lễ. Điền tử này trải qua quá trình biến đổi hình dạng, cuối cùng thành hình thể “thiên can” (挑杆) là hoàn chỉnh.

Tâm tả trị bình đồ (心寫治平圖) của Lang Thế Ninh, thể hiện từ Hoàng hậu đến phi tần đều mặc Long bào cát phục

Phân định[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng thái hậu, Hoàng hậuHoàng quý phi: đều có Triều bào, Triều quái và Triều quan như nhau. Triều bào và dây thao sau Triều quái có màu Minh hoàng sắc (明黄色), còn Triều quan có 3 tầng. Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đều y như nhau, còn Hoàng quý phi tuy tương đồng, song Triều châu của Hoàng quý phi không có sợi Đông châu trắng, mà dùng Mật phách ngả vàng.
  • Quý phi, PhiTần: màu áo Triều bào và màu dây thao sau Triều quái là Kim hoàng sắc (金黄色). Triều quan của Quý phi là 3 tầng, của Phi và Tần chỉ có 2 tầng. Màu Triều bào của Tần là Hương sắc (香色). Còn lại đều như Hoàng quý phi.
  • Phúc tấn, Trắc Phúc tấn của Thân vương và Quận vương, Cố Luân công chúaHòa Thạc công chúa: khi mặc Long quái chỉ gọi là Cát phục quái (吉服褂).
  1. Thân vương Phúc tấn: Cát phục quái, thêu Ngũ trảo kim long tứ đoàn (五爪金龙四团), trước sau Chính long, hai vai Hành long (行龙).
  2. Thế tử Phúc tấn: án theo Thân vương Phúc tấn.
  3. Hoàng tử Phúc tấn: Cát phục quái, thêu Ngũ trảo chính long tứ đoàn (五爪正龙四团), trước sau-hai vai từng chỗ một hình.
  4. Quận vương Phúc tấn: Cát phục quái, thêu Ngũ trảo hành long tứ đoàn (五爪行龙四团), trước sau-hai vai từng chỗ một hình.
  5. Bối lặc Phu nhân: Cát phục quái, trước sau thêu Tứ trảo chính mãng (四爪正蟒) các một.
  6. Bối tử Phu nhân: Cát phục quái, trước sau thêu Tứ trảo hành mãng (四爪行蟒) các một.
  7. Trấn Quốc công phu nhân: Cát phục quái thêu hoa Bát đoàn.
  8. Phụ Quốc công phu nhân: y như Trấn Quốc công phu nhân.
  9. Trấn quốc tướng quân phu nhân: quan, phục đều như Nhất phẩm mệnh phụ;
  10. Phụ quốc tướng quân phu nhân: quan, phục đều như Nhị phẩm mệnh phụ;
  11. Phụng quốc tướng quân thê tử, phong Thục nhân (淑人), quan, phục đều Tam phẩm mệnh phụ;
  12. Phụng ân tướng quân thê tử, phong Cung nhân (恭人), quan, phục đều theo Tứ phẩm mệnh phụ;
  13. Cố Luân công chúa, Hòa Thạc công chúa và Quận chúa y phục như Thân vương Phúc tấn;
  14. Huyện chúa y phục như Quận vương Phúc tấn;
  15. Quận quân đều như Bối lặc Phu nhân;
  16. Huyện quân đều như Bối tử Phu nhân;
  17. Hương quân, con gái Trấn Quốc công và Phụ Quốc công, đều như Trấn Quốc công phu nhân;
  18. Dân công phu nhân, Hầu phu nhân, Bá phu nhân, đến Tam phẩm Mệnh phụ: y phục như Trấn Quốc công phu nhân, sắc dùng xanh đá, thêu hoa Bát đoàn;

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thanh Sử Cảo, quyển 214, Liệt truyện nhất”. 太祖初起,草创阔略,宫闱未有位号,但循国俗称福晋。福晋盖可敦之转音,史述后妃,后人缘饰名之,非当时本称也。 
  2. ^ 《满文老档》天聪六年二月......十二日,汗集诸贝勒大臣於内廷筵宴,以戴青贝勒之女册为东宫福晋。此福晋乃蒙古扎鲁特部戴青贝勒之女。汗已册立中宫福晋、西宫福晋,惟东宫未立福晋。时值选贤,遂遣人往聘此福晋。转谕其父曰:“我召来观之,中则留於宫内不中则遣之还。”遂召福晋至,暂憩城外。汗命有眼力者往观可否留於宫中。观者前来报於汗曰:“无需众多人,汗宜斟酌而行。他人观之岂可相信乎?汗应亲往观之。若可册为东宫福晋,宜按典礼聘之矣。”汗遂亲率从者数人往观之,迎入内廷,非好多娶,按例需备三福晋。以聘礼设宴。是宴也,杀牛一、羊六,治筵二十席。
  3. ^ 《满文老档·第二十册》崇德元年七月......册封国君福晋、东大福晋、西大福晋、东侧福晋、西侧福晋典礼。七月初十日......系蒙古科尔泌部博尔济吉特氏,特赐尔册宝,位出诸福晋之上,命为清宁宫中宫国君福晋。尔务以清廉端庄仁孝谦恭之义训诲诸福晋......系蒙古科尔沁部博尔济吉特氏,特赐尔册文,命为东宫关睢宫大福晋宸妃。尔务尽......系蒙古阿鲁大土门部博尔济吉特氏,特赐尔册文,命为西宫麟趾宫大福晋贵妃。尔务尽......系蒙古阿鲁大土门部塔布囊阿巴盖博第赛楚虎尔之女,特赐尔册文,命为东宫衍庆宫侧福晋淑妃。尔务尽......系蒙古科尔沁部博尔济克特氏,特赐尔册文,命为西宫永福宫侧福晋庄妃。尔务尽......,
  4. ^ 明太祖洪武五年,立六局一司。六局為;尚宮、尚儀、尚服、尚食、尚寢、尚功,一司為;宮正,皆位正六品。每一局管領四司,其屬二十有四,而尚宮總行六局之事。官七十五人,女史十八人。
  5. ^ 《清实录·清圣祖实录·卷之二百七十八》(康熙五十七年夏四月)○丁酉。上驻跸南石槽地方。○谕礼部王阿哥等之母备位宫闱俱年及六十、五十四十有余宫中虽称妃嫔、尚未受封。今封博尔济锦氏、和嫔瓜尔嘉氏、淳郡王允祐之母达甲氏、为妃。封贝子允祹之母瓦刘哈氏、十五阿哥允禑、十六阿哥允禄之母王氏、十七阿哥允礼之母陈氏、为嫔尔部察例俱奏.......
  6. ^ ^ "Empresses and Consorts: Selections from Chen Shou's Records of the Three States with Pei Songzhi's Commentary". China Review International, Vol. 8, No. 2, Fall 2001, pp. 358–363.
  7. ^ 內廷主位、主位:常見於宮廷檔案用於統稱太皇太后、皇太后、皇太妃、皇后和妃嬪等,在內廷的當朝或前朝後宮。以乾隆朝為例,乾清宮主位、壽康宮主位、寧壽宮主位分別為高宗後宮、世宗后宮、聖祖後宮的代稱。根據中国第一历史档案馆所藏的清朝檔案就有:「为备办内廷主位进京事宜事」、「为领取景仁宫主位挪运什物雇觅人夫车辆用过钱文事」及「镶黄旗满洲主位等封号年月及母家姓名册」等等。
  8. ^ Trường hợp lên ngôi còn trẻ như Thanh Thế Tổ, Thánh Tổ, Mục TôngĐức Tông. Các Hoàng hậu được làm lễ đại hôn đều là Nguyên phối thê tử, gồm Phế hậu Tĩnh phi, Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu, Hiếu Triết Nghị Hoàng hậuHiếu Định Cảnh Hoàng hậu.
  9. ^ Trường hợp của Hiếu Kính Hiến hoàng hậu, Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu, Hiếu Thục Duệ hoàng hậuHiếu Thận Thành hoàng hậu.
  10. ^ Trường hợp Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu, Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu, Kế Hoàng hậu, Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậuHiếu Toàn Thành Hoàng hậu.
  11. ^ danh từ dùng để gọi những sinh mẫu của Đương kim Hoàng đế chỉ vốn là phi tần của Tiên Đế
  12. ^ 《国朝宫史, 卷八》: 皇后居中宫主内治
  13. ^ Riêng phiên âm [Hoàng ngạch nương; 皇额娘] không chính xác lắm, bởi vì đã bị âm Hán ngữ bạch thoại hóa. Chỉ thông dụng vào cuối thời nhà Thanh
  14. ^ “清朝皇后_互动百科”. Truy cập 15 tháng 10 năm 2015. 
  15. ^ 《国朝宫史, 卷八》: 皇贵妃一位贵妃二位妃四位嫔六位分居东西十二宫佐内治
  16. ^ 《国朝宫史, 卷八》: 钦定册封贵人常在答应俱无定位随居十二宫勤修内职
  17. ^ 學生,在雍正十三年,永安亭二处学生共一百五十二人。這批學樂的女子只有極少部分人曾被世宗臨幸,高宗即位後把被世宗臨幸的學生封為後妃,如德答應之流,其餘學生均被趕出宮。高宗御製《和白居易樂府上陽宮人曲》亦稱「國初女樂沿明季,康熙女樂不盈千,雍正僅存十之七,乾隆無一女樂焉」。
  18. ^ 《宫内等处添减女子嫫嫫妈妈里底帐》雍正九年四月二十日 总管王朝卿等差司房太监卢玉堂传说:"四阿哥下官女子一人遇喜,每人外添肉一斤,姥姥一人每日添肉一斤。"雍正十一年十二月初五 苏培盛等差司房太监张福寿传说:"宝亲王下官女子一人遇喜。"乾隆無論在四阿哥或宝亲王時期,宮裡都有六名左右官女子,可知官女子非清代皇帝專屬寢宮宮女,由內務府三旗包衣之女兒選出。
  19. ^ Tức là Quý phi của Tiên đế, cũng nhận đãi ngộ lương bổng cùng nghi trượng như Quý phi của đương kim Hoàng đế.
  20. ^ 《大清会典》卷87规定:凡选宫女,于内务府三旗佐领内管领下女子,年十三以上者,造册送府,奏交宫殿监督领侍卫等引见,入选者留宫,余令其父母择配。
  21. ^ 杨永占.《清代皇宫礼俗——清宫中以宫女为主的女仆阶层》:辽宁民族出版社,2003年8月
  22. ^ 明时宫女至数千,脂粉钱至百万。今朕宫中计使女三百,况朕未近使之宫女,年近三十者,即出与其父母,令婚配。
  23. ^ 《宫女谈往录》:她13岁进宫,分在储秀宫里当差,專門伺候慈禧奉烟 ,专职是敬烟。18岁由慈禧指婚,赐给一个姓刘的太监,…这在清宫里是件罕见的事。清宫惯例,宫女离宫后,不许再返回当差,何况已经出嫁了的,怎能又回到老太后身边呢?不是太后特别喜爱,是绝对办不到的(据她说,在她以前只有东太后慈安的侍女双喜,得到过东太后的恩典,二次进宫伺候过东太后,但时间很短)。其实是慈禧把她赐给太监,问心有愧,才给点小恩小惠罢了,而她却反自认为是特殊光荣,谈起来眉飞色舞。
  24. ^ 《汤若望回忆录》记载在董鄂妃去世后,福临将30名宫女太监殉葬。至少在康熙十二年(1673年)禁止八旗包衣佐领的奴仆殉葬之前,宫女是有可能殉葬的。
  25. ^ 《國朝宮史》乾隆六年十二月初七日,上諭:應出宮女子,既已出宮,即係外人,不許進宮請安。其本宮首領太監與伊等傳信,亦屬不可。從前小太監化玉龍、甯進、王進喜等,倚仗在本主前有小殷勤,不服首領管教,甚屬無知。既放為宮中首領,應管一處之太監;放為總管,應管闔宮之首領太監。豈有太監不服首領管教,首領不服總管管教之理?似此不服管教之太監,即當懲處。再,爾等嚴諭首領太監,凡宮內之事,不許向外傳說。外邊之事亦不許向宮內傳說。至於諸太妃所有一切,俱係聖祖皇帝所賜。諸母妃所有,亦是世宗皇帝所賜。即今皇后所有,是朕所賜。各守分例,撙節用度,不可將宮中所有移給本家。其家中之物亦不許向內傳送,致涉小氣。嗣後本家除來往請安問好之外,一概不許妄行。從前朕曾經嚴傳諭旨,爾等不過一時小心,數日之後,漸就懈怠,此係膚所深知。今爾等不時稽查,如各宮首領太監有不謹之人向裏外傳說是非,或經查出,或被首告,必重處數人,以警其餘。若經朕躬訪察得實,即係爾等總管之罪。從前聖祖皇帝教訓爾等諭旨,至世宗皇帝時皆敬謹遵行。世宗皇帝教訓爾等諭旨,至朕時仍當敬謹遵行。今朕教訓諭旨,爾等亦當永遠遵行。即將來爾等不當總管時,後來總管仍當永遠遵行。爾等將此旨嚴行曉諭,務令通知。
  26. ^ 《國朝宮史》卷八 典禮四 ......皇帝駕臨內宮,本宮居住之內庭等位咸迎於本宮門外,立。俟駕至隨行進宮,駕回,仍送於本宮門外。若皇后駕臨,各宮迎送之儀亦如之。 ......凡各宮女子,不許與太監等認為親戚。非奉本主使令,不許擅相交語並嘻笑喧嘩。各宮小太監許於本宮內掖門出入。每夜起更時,各宮首領進本宮查看燈火畢,隨出,鎖掖門,報知敬事房。 ......
  27. ^ 《國朝宮史》卷十九 皇后千秋。恩賜金九十兩銀九百兩 上用縀紗等四十五疋內蟒緞九疋縀九疋寧綢九疋宮綢九疋紗九疋春綢九疋綾九疋。皇貴妃千秋。恩賜上用縀六疋官用縀六疋春綢六疋綾六疋上用果桌一張賞用果桌八張。貴妃千秋。恩賜上用縀四疋 官用縀五疋上用果桌一張賞用果桌六張 綾五疋春綢五疋。妃千秋。恩賜上用縀四疋官用縀四疋春綢四疋綾四疋上用果桌一張賞用果桌四張。嬪夀辰。恩賜上用縀三疋官用縀三疋春綢三疋綾三疋中品果桌一張賞用果桌一張。貴人生辰。恩賜上用縀二疋官用縀二疋春綢二疋綾二疋內用果桌一張賞用果桌一張 
  28. ^ 来自清朝的你,我应该怎么称呼呢?|趣史 - bài đăng mạng này trích từ cuốn sách nghiên cứu Thanh triều xuyên việt chỉ nam (清朝穿越指南), được thụ quyền nhà xuất bản
  29. ^ 《老太監的回憶》:「珍妃很好用錢,又常施惠於群監,近之者無不稱道主子之大方。」
  30. ^ 《宫女谈往录》: “不是,只有皇上、太后、主子、小主们的叫官房。”“珍小主进前叩头,道吉祥,完了,就一直跪在地下,低头听训。
  31. ^ 《珍妃命案》:「珍妃對宮中太監時有賞賜,太監得些小恩小惠,都竭力奉承她,稱之為『小主兒』,謂『小主兒』大方。」
  32. ^ 《我的兩位姑母瑾妃、珍妃》「自二妃進宮後,我家從祖母到一般傭人,都稱瑾妃為『四主』,珍妃為『五主』。『主』是對后妃的尊稱,『四』和『五』是按我家中同輩女孩的排列。」「下車進了東門,在殿外聽候傳叫。只聽太監一聲高喊:『瑾主子有旨,傳六、七爺進見。』」「姑母踢毽子的姿勢很好看……太監和宮女們在旁邊喝彩叫好:『瑾主妃踢得妙!』」
  33. ^ Mang nghĩa "Người bi ai đã có trượng phu qua đời", biểu thị tâm trạng chính mình bi ai. Có nhận thuyết chỉ ra đây là một biến hóa của [Ai Tử; 哀子], xuất phát từ "Tạp ký thượng" trong Lễ ký: [Tế xưng hiếu tử hiếu tôn, tang xưng ai tử ai tôn; 祭称孝子孝孙,丧称哀子哀孙。]
  34. ^ 國朝宮史卷五 - Phần chụp rõ sách chép tay nghi thức và cách tiến hành.
  35. ^ 國朝宮史/05 - Phần text có dấu trên Wikisource.
  36. ^ 國朝宮史卷五 - Phần chụp rõ sách chép tay nghi thức và cách tiến hành.
  37. ^ 國朝宮史/05 - Phần text có dấu trên Wikisource.
  38. ^ Một điện thờ sau nhà Thái Miếu, thờ tổ tiên của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Các phi tần khi tuyên cáo Thái Miếu lên tổ iên đều chỉ ở đây, Hoàng hậu mới tuyên cáo trên Thái Miếu chính thức.
  39. ^ Nguyên văn: [冊、寶亭; Sách, bảo đình]. Đây là một dạng án hình hộp vuông, nhìn như cái đình nhỏ và được khiêng để đựng sách, bảo tuyên phong cho hậu phi. Có thể xem Như Ý truyện tập 47, khi nhân vật Như Ý được lập Hậu. Toàn cảnh sách lập có thể tham khảo.
  40. ^ Nguyên văn: 六肅三跪三拜禮. Đây là lễ bái cao quý nhất, chỉ dành cho Đế-Hậu.
  41. ^ 《皇朝通典》: 崇徳元年孝庄文皇后肇封西永福宫庄妃, 暨册封东闗睢宫宸妃, 西麟趾宫贵妃, 东衍庆宫淑妃. 是日设黄幄于清宁宫前设黄案于幄内太宗文皇帝御崇政殿閲册寳宣制命正副使持节至清宁宫行册封礼成妃等率公主福晋以下及大臣命妇于太宗文皇帝前行六肃三跪三叩礼又于孝端文皇后前行六肃三跪三叩礼, 次公主福晋大臣命妇于妃前各行四肃二跪二叩礼各如仪.
  42. ^ 皇太后: [年例] 金20两,银2000两,蟒缎2匹,补缎2匹,织金2匹,妆缎2匹,倭缎4匹,闪缎1匹,金字缎2匹,云缎7匹, 衣素缎4匹,蓝素缎2匹,帽缎2匹,杨缎6匹,宫绸2匹,潞绸4匹,纱8匹,里纱10匹,纺纱10匹,杭细10匹, 绵绸10匹,高丽布10匹,三线布5匹,毛青布40匹,粗布5匹,金线20绺,绒10斤,棉线6斤,木棉40斤, 2号银钮200,3号银钮200,2等貂皮10,3等貂皮20,5等貂皮70,里貂皮12,海龙皮12 [日用] 猪1口,羊、鸡、鸭各1只,新粳米2升,黄老米1升5合,高丽江米3升,粳米粉3斤,白面51斤, 荞麦面、麦子粉各1斤,豌豆3合,芝麻1合5勺,白糖2斤1两5钱,盆糖8两,蜂蜜8两,核桃仁4两,松仁2钱, 枸杞4两,干枣10两,猪肉12斤,香油3斤10两,鸡蛋20个,面筋1斤8两,豆腐2斤,粉锅渣1斤,甜酱2斤12两,清酱2两,醋5两,鲜菜15斤,茄子20个,王瓜20条,白蜡7支,黄蜡2支,羊油蜡20支,羊油更蜡1支, 红箩炭夏20斤、冬40斤,黑炭夏40斤、冬80斤
  43. ^ 皇后: [年例] 银1000两,蟒缎2匹,补缎2匹,织金2匹,妆缎2匹,倭缎4匹,闪缎2匹,金字缎2匹,云缎7匹,衣素缎4匹, 蓝素缎2匹,帽缎2匹,杨缎6匹,宫绸2匹,潞绸4匹,纱8匹,里纱8匹,绫8匹,纺丝8匹,杭细8匹,绵绸8匹,高丽布10匹,三线布5匹,毛青布40匹,粗布5匹,金线20绺,绒10斤,棉线6斤,木棉40斤,里貂皮40, 乌拉貂皮50 [日用] 猪肉16斤,羊1盘、鸡、鸭各1只,新粳米1升8合,黄老米1升3合5勺,高丽江米1升5合,粳米粉1斤8两, 白面7斤8两,荞麦面8两,豌豆3合,白糖1斤,盆糖4两,蜂蜜4两,核桃仁2两,松仁1钱,枸杞4两,干枣5两,猪油1斤,香油1斤,鸡蛋10个,面筋12两,豆腐1斤8两,粉锅渣1斤,甜酱1斤6两5钱,清酱1两,醋2两5钱, 鲜菜15斤,茄子20个,王瓜20条,白蜡5支,黄蜡4支,羊油蜡10支,羊油更蜡1支,红箩炭夏10斤、冬20斤, 黑炭夏30斤、冬60斤
  44. ^ 皇贵妃: [年例] 银800两,蟒缎1匹,补缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎2匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎6匹,衣素缎3匹, 蓝素缎3匹,帽缎1匹,杨缎4匹,彭缎4匹,宫绸2匹,潞绸3匹,纱8匹,里纱7匹,绫7匹,纺丝7匹,杭细7匹,绵绸6匹,高丽布8匹,三线布3匹,毛青布15匹,深蓝布15匹,粗布5匹,金线14绺,绒8斤,棉线6斤, 木棉30斤,里貂皮30,乌拉貂皮40 [日用] 猪肉12斤,羊1盘、鸡1只(或鸭1只),陈粳米1升5合,黄老米1升3合5勺,高丽江米1升5合,粳米粉1斤8两, 白面5斤,荞麦面8两,豌豆3合,白糖5两,盆糖4两,蜂蜜4两,核桃仁1两,松仁1钱,枸杞4两,干枣5两, 猪油1斤,香油1斤,鸡蛋10个,面筋12两,豆腐1斤8两,粉锅渣1斤,甜酱1斤6两5钱,清酱1两,醋2两5钱, 鲜菜15斤,茄子20个,王瓜20条,白蜡5支,黄蜡4支,羊油蜡10支,羊油更蜡1支,红箩炭夏10斤、冬20斤, 黑炭夏30斤、冬60斤,六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  45. ^ 贵妃: [年例] 银600两,蟒缎1匹,补缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎2匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎4匹,衣素缎3匹, 蓝素缎2匹,帽缎1匹,杨缎2匹,彭缎1匹,宫绸2匹,潞绸3匹,纱4匹,里纱7匹,绫6匹,纺丝7匹,杭细5匹,绵绸5匹,高丽布6匹,三线布2匹,毛青布12匹,深蓝布12匹,粗布5匹,金线12绺,绒6斤,棉线4斤, 木棉25斤,里貂皮20,乌拉貂皮30 [日用] 猪肉9斤8两,羊15盘(每月)、鸡鸭共15只(每月),陈粳米1升3合5勺,白面3斤8两,白糖3两,核桃仁1两,干枣1两6钱,香油6两,鸡蛋4个,面筋4两,豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两5钱,清酱8钱,醋2两5钱, 鲜菜10斤,茄子8个,王瓜8条,白蜡2支,黄蜡2支,羊油蜡5支,红箩炭夏10斤、冬15斤, 黑炭夏30斤、冬60斤,六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  46. ^ 妃: [年例] 银300两,蟒缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎2匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎4匹,衣素缎2匹,蓝素缎1匹, 帽缎1匹,彭缎3匹,宫绸1匹,潞绸2匹,纱4匹,里纱5匹,绫5匹,纺丝4匹,杭细5匹,绵绸5匹,高丽布5匹,三线布2匹,毛青布10匹,深蓝布10匹,粗布3匹,金线10绺,绒5斤,棉线3斤,木棉20斤,里貂皮10, 乌拉貂皮20 [日用] 猪肉9斤,羊15盘(每月)、鸡鸭共10只(每月),陈粳米1升3合5勺,白面3斤8两,白糖3两,核桃仁1两, 干枣1两,香油6两,鸡蛋4个,面筋4两,豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两5钱,醋2两5钱,鲜菜10斤, 茄子8个,王瓜8条,白蜡2支,黄蜡2支,羊油蜡2支,红箩炭夏5斤、冬10斤,黑炭夏25斤、冬40斤, 六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  47. ^ 嫔: [年例] 银200两,蟒缎1匹,织金1匹,妆缎1匹,倭缎1匹,闪缎1匹,金字缎1匹,云缎2匹,衣素缎2匹,帽缎1匹, 杨缎1匹,彭缎1匹,宫绸1匹,潞绸2匹,纱1匹,里纱2匹,绫3匹,纺丝3匹,杭细3匹,高丽布4匹, 毛青布8匹,深蓝布8匹,粗布4匹,金线6绺,绒3斤,棉线3斤,木棉15斤,里貂皮4,乌拉貂皮20 [日用] 猪肉6斤8两,羊15盘(每月)、鸡鸭共10只(每月),陈粳米1升3合,白面2斤,白糖2两,香油5两5钱, 豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两,醋2两,鲜菜8斤,茄子6个,王瓜6条,白蜡2支,黄蜡2支,羊油蜡2支, 红箩炭夏5斤、冬8斤,黑炭夏20斤、冬30斤,六安茶叶14两(每月),天池茶叶8两(每月)
  48. ^ 贵人: [年例] 银100两,倭缎1匹,云缎2匹,衣素缎2匹,蓝素缎2匹,帽缎1匹,杨缎1匹,宫绸1匹,潞绸2匹,纱2匹, 里纱2匹,绫2匹,纺丝2匹,高丽布3匹,毛青布6匹,深蓝布6匹,粗布3匹,金线3绺,绒3斤,棉线2斤, 木棉12斤,里貂皮4,乌拉貂皮10 [日用] 猪肉6斤,羊15盘(每月)、鸡鸭共8只(每月),陈粳米1升2合,白面2斤,白糖2两,香油3两5钱,豆腐1斤,粉锅渣8两,甜酱6两,醋2两,鲜菜6斤,茄子6个,王瓜6条,白蜡1支,黄蜡1支,羊油蜡1支,红箩炭冬5斤, 黑炭夏18斤、冬25斤,六安茶叶7两(每月),天池茶叶4两(每月)
  49. ^ 常在: [年例] 银50两,云缎1匹,衣素缎1匹,彭缎1匹,宫绸1匹,潞绸1匹,纱1匹,绫1匹,纺丝1匹,木棉3斤 [日用] 猪肉5斤,羊15盘(每月)、鸡鸭共5只(每月),陈粳米1升2合,白面2斤,白糖2两,香油3两5钱, 豆腐1斤8两,粉锅渣8两,甜酱6两,醋2两,鲜菜6斤,茄子6个,王瓜6条,白蜡2支,羊油蜡1支, 黑炭夏10斤、冬20斤
  50. ^ 答应: [年例] 银30两,云缎1匹,衣素缎1匹,彭缎1匹,宫绸1匹,潞绸1匹,纱1匹,绫1匹,纺丝1匹,木棉3斤 [日用] 猪肉1斤8两,羊15盘(每月)、鸡鸭共5只(每月),陈粳米6合,白面2斤,随时鲜菜2斤,黄蜡1支, 羊油蜡1支,黑炭夏5斤、冬10斤
  51. ^ 宫女子: [年例]银六两,云縀一疋,宫紬一疋,纱一疋,纺丝一疋,杭细一疋,木棉二觔 [日用]猪肉一觔,白老米七合五勺,黑盐三钱,随时鲜菜十二两
  52. ^ “红罗炭”. 
  53. ^ 雍正朝的宫廷女装

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thanh sử cảo - 《清史稿·后妃传》(节选):太祖初起,草创阔略,宫闱未有位号,但循国俗称“福晋”。福晋盖“可敦”之转音,史述后妃,后人缘饰名之,非当时本称也。崇德改元,五宫并建,位号既明,等威渐辨。世祖定鼎,循前代旧典。顺治十五年,采礼官之议:乾清宫设夫人一,淑仪一,婉侍六,柔婉、芳婉皆三十;慈宁宫设贞容一、慎容二,勤侍无定数;又置女官。循明六局一司之制,议定而未行。康熙以后,典制大备。皇后居中宫;皇贵妃一,贵妃二,妃四,嫔六,贵人、常在、答应无定数,分居东、西十二宫。东六宫:曰景仁,曰承乾,曰锺粹,曰延禧,曰永和,曰景阳;西六宫:曰永寿,曰翊坤,曰储秀,曰启祥,曰长春,曰咸福。诸宫皆有宫女子供使令。每三岁选八旗秀女,户部主之;每岁选内务府属旗秀女,内务府主之。秀女入宫,妃、嫔、贵人惟上命。选宫女子,贵人以上,得选世家女;贵人以下,但选拜唐阿以下女。宫女子侍上,自常在、答应渐进至妃、嫔,后妃诸姑、姊妹不赴选。帝祖母曰“太皇太后”,母曰“皇太后”,居慈宁、寿康、宁寿诸宫。先朝妃、嫔称太妃、太嫔,随皇太后同居,与嗣皇帝,年皆逾五十,乃始得相见。诸宫殿设太监,秩最高不逾四品,员额有定数,廪给有定量,分领执事有定程。此其大较也。二百数十年,壸化肃雍,诐谒盖寡,内鲜燕溺匹嫡之嫌,外绝权戚蠹国之衅,彬彬盛矣。追尊四代,惟宣皇后著氏族,且有继室,讬始于是。历朝居正号者,谨而次之,并及妃、嫔有子若受后朝尊封者。世祖以汉女为妃,高宗以回女为妃,附书之,以其仅见也。
  • Phần dịch trang phục Triều bào, Triều quan có lấy từ Page Góc Trung Quốc - Văn hóa Nghệ thuật và Lịch sử