Phổ Nghi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tuyên Thống Đế
宣 統 帝
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
Aisin-Gioro Puyi 01.jpg
Phổ Nghi năm 1934
Flag of the Qing dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế thứ 12 của Đại Thanh
Tại vị 2 tháng 12 năm 190812 tháng 2 năm 1912
Tiền nhiệm Thanh Đức Tông
Kế nhiệm Nhà Thanh sụp đổ
Hoàng Đế nhà Thanh
Tại vị 1 tháng 7 năm 191712 tháng 7 năm 1917
Tiền nhiệm Tái lập
Kế nhiệm Nhà Thanh sụp đổ
Flag of Manchukuo.svgQuốc trưởng Mãn Châu quốc
Tại vị 1 tháng 3 năm 193215 tháng 8 năm 1945
Thông tin chung
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Phổ Nghi
Niên hiệu
Thụy hiệu Mẩn Hoàng Đế (愍皇帝)
Miếu hiệu Cung Tông (恭宗)
Triều đại Nhà Thanh
Thân phụ Tải Phong
Thân mẫu Ấu Lan
Sinh 7 tháng 2 năm 1906
Bắc Kinh, Nhà Thanh
Mất 17 tháng 10 năm 1967 (61 tuổi)
Bắc Kinh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
An táng Nghĩa địa Cách mạng Bát Bảo Sơn
Năm 1996 dời về Đông Thanh Lăng.

Phổ Nghi (phồn thể: 溥儀; giản thể: 溥仪; bính âm: Pu Yi; 1906 – 1967) là vua thứ 12 và là hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Thanh nói riêng và của chế độ quân chủ trong lịch sử Trung Quốc nói chung. Ông lên ngôi lúc 2 tuổi, thoái vị năm 1912 khi Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và được Phát xít Nhật đưa lên làm hoàng đế bù nhìn của Đại Mãn Châu Đế quốc ở Đông Bắc Trung Quốc năm 1934. Năm 1945, ông bị Quân đội Xô viết bắt. Từ 1949 đến 1959, ông bị Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quản thúc, giam giữ. Tháng 12 năm 1959, ông được tha và sống ở Bắc Kinh như một thường dân cho đến khi chết.

Gia phả tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bên nội[sửa | sửa mã nguồn]

Cụ nội của Phổ Nghi là vua Đạo Quang (trị vì: 1820–1850). Đạo Quang băng hà, con trai trưởng lên ngôi, tức là vua Hàm Phong (trị vì: 1850–1861).

Ông nội của Phổ Nghi là Thuần Hiền Thân vương Dịch Huyên (奕譞), con trai Đạo Quang và là anh em cùng cha khác mẹ với Hàm Phong. Sau khi Hàm Phong băng hà, con trai duy nhất của ông lên ngôi, trở thành Đồng Trị.

Năm 1875, Đồng Trị qua đời mà không có con trai, em họ là Quang Tự lên thay. Năm 1908, Quang Tự mất cũng không có người kế vị. Phổ Nghi được lập làm hoàng đế.

Phổ Nghi là con trai trưởng của Thuần Thân vương Tải Phong (載灃), con trai của Thuần Hiền Thân vương và người thiếp thứ hai của mình là bà Lưu Giai thị (劉佳氏). Lưu Giai thị vốn là một người hầu trong phủ Thuần Thân vương mang họ Lưu (劉), được đổi thành Thị tộc Mãn Châu là Lưu Giai khi bà trở thành một người thuộc Mãn tộc, một yêu cầu trước khi làm người hầu cho các phủ của thân vương Mãn Châu. Thuần Thân vương do đó là em cùng cha khác mẹ của Quang Tự và là người anh em xếp cùng hàng sau Quang Tự. Phổ Nghi ở trong một nhánh của Hoàng tộc với mối liên hệ gần gũi với Thái hậu Từ Hi, người xuất thân từ Thị tộc Ná Lạp thị (Diệp Hách Na Lạp thị: 叶赫那拉氏) Mãn Châu (Hoàng gia nhà Thanh là thị tộc Ái Tân Giác La). Từ Hi gả con gái của em trai bà cho cháu trai của Quang Tự, người mà sau khi Từ Hi mất đã trở thành Long Dụ thái hậu (1868–1913).

Điều thú vị là người anh họ ít nổi tiếng hơn của Phổ Nghi, Phổ Tuyết Trai (溥雪斋) là một bậc thầy quan trọng về nhạc cụ cổ truyền cổ cầm[1].

Bên ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Mẹ Phổ Nghi, Ấu Lan (幼蘭; 1884-1921), là vợ lẽ của Hàm Thân Vương. Bà là con gái của tướng Mãn Châu Vinh Lộc (榮祿) từ Thị tộc Qua Nhĩ Giai (Guwalgiya). Vinh Lộc là một trong những lãnh đạo của phe bảo thủ trong Triều đình và là một người ủng hộ trung thành của Từ Hi. Từ Hi ban thưởng cho sự trung thành của Vinh Lộc bằng cách gả con gái của Vinh Lộc, người là mẹ của Phổ Nghi, cho gia đình Hoàng tộc.

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tiên của Phổ Nghi trong 3 đời
Phổ Nghi Cha:
Thuần Thân vương Tải Phong
Ông nội:
Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn
Cụ nội:
Đạo Quang
Cụ nội:
Ô Nhã Lâm phi
Bà nội:
Lưu Giai thị
Cụ nội:
Cụ nội:
Mẹ:
Ấu Lan
Ông ngoại:
Vinh Lộc
Cụ ngoại:
Cụ ngoại:
Bà ngoại:
Cụ ngoại:
Cụ ngoại:

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vua nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Phổ Nghi lúc mới lên ngôi

Phổ Nghi được Thái hậu Từ Hi chọn lên ngôi khi bà đang hấp hối. Phổ Nghi đã lên ngôi lúc mới 2 tuổi 10 tháng vào tháng 12 năm 1908 sau khi người bác là Quang Tự băng hà ngày 14 tháng 11.

Các quan chức triều đình đã đến nhà và đưa cậu bé đi. Phổ Nghi đã khóc và chống cự khi các quan triều đình ra lệnh cho các thái giám bế cậu. Bà vú em của Phổ Nghi là Wen-Chao Wang là người duy nhất có thể dỗ được cậu bé và được theo cậu vào Tử Cấm Thành. Phổ Nghi sau đó không được gặp mẹ mình trong 6 năm[2].

Phổ Nghi trên ngai báu

Việc nuôi dưỡng Phổ Nghi rất khó khăn để khiến cậu bé trở thành một đứa trẻ có sức khỏe và biết điều. Ban đêm, cậu bé được cung phụng như ông trời con và cậu bé đã không thể cư xử như một đứa bé bình thường. Ngoài bà vú nuôi họ Vương ra, những người lớn xung quanh cậu bé hoàn toàn xa lạ, giữ khoảng cách và không thể rèn luyện cho cậu bé. Khi cậu đến đâu mọi người đều phái quỳ xuống và khấu đầu. Do đó cậu bé Phổ Nghi đã phát hiện ra quyền lực tuyệt đối được sử dụng đối với các hoạn quan và cậu thường bắt đánh đập họ vì những lỗi nhỏ[3].

Cha Phổ Nghi, Tải Phong, làm Nhiếp chính vương cho đến ngày 6 tháng 12 năm 1911 khi Thái hậu Long Dụ kế tục vị trí này để chống lại Cách mạng Tân Hợi.

Thanh đế thoái vị chiếu thư (1912) chấm dứt chế độ quân chủ ở Trung Quốc

Thái hậu Long Dụ đã ký Thanh đế thoái vị chiếu thư (清帝退位詔書) ngày 12 tháng 2 năm 1912, sau Cách mạng Tân Hợi theo một thỏa thuận do Viên Thế Khải làm môi giới trung gian với Triều đình ở Bắc Kinh và những người Cộng hòa ở Nam Trung Hoa: theo các "điều kiện ưu đãi của Hoàng đế nhà Thanh" (清帝退位優待條件) ký với Trung Hoa Dân Quốc mới, Phổ Nghi được giữ lại tước vị hoàng đế và được chính quyền Cộng hòa đối xử với danh nghĩa như một hoàng đế ngoại quốc. Điều này tương tự như Luật đảm bảo của Ý năm 1870 ban cho Giáo hoàng một số đặc quyền và danh dự nhất định như đối với Vua Ý. Ông và triều đình được phép ở lại trong Tử Cấm Thành, các cung điện riêng như Dưỡng Tâm Điện cũng như được ở lại trong Di Hoà Viên, hằng năm Chính phủ Cộng Hoà sẽ trợ cấp cho hoàng gia 4 triệu lượng bạc và duy trì một vị hoàng đế cũng như một triều đình nhà Thanh chỉ còn lại hư danh trong Tử Cấm Thành và tồn tại song song với chính quyền dân quốc, thời gian này Phổ Nghi vẫn được đối xử như một vị Thiên tử và nhận được mọi sự kính trọng cũng như quyền hành trong triều đình riêng của mình.

Thời kỳ phục hồi đế vị ngắn (1917)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1917, quân phiệt Trương Huân (張勛) đã phục hồi đế vị cho Phổ Nghi trong 12 ngày từ ngày 1 tháng 7 đến 12 tháng 7. Những công dân nam của Bắc Kinh đã phải nhanh chóng đội tóc đuôi sam giả để tránh bị phạt do đã cắt chúng năm 1912. Trong 12 ngày này, một quả bom nhỏ đã được một máy bay của Cộng hòa thả xuống Tử Cấm Thành và gây ra hư hại nhỏ. Sự kiện này được xem như cuộc không kích đầu tiên ở Đông Á. Sự phục hồi đế vị này đã thất bại do làn sóng phản đối khắp Trung Hoa và một sự can thiệp đúng lúc của một quân phiệt khác là Đoàn Kỳ Thụy (段祺瑞). Giữa tháng 7, các đường phố Bắc Kinh đã tràn ngập các đuôi sam giả đã bị các chủ nhân của nó nhanh chóng vứt đi cũng như chúng được vội vã mua để đội lên đầu vậy. Phổ Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành năm 1924 bởi Quân phiệt Phùng Ngọc Tường.

Năm 1928, quân phiệt Tôn Điện Anh đã đem quân vào khu vực lăng tẩm nhà Thanh ở Sơn Đông, quật mộ của Càn LongTừ Hi Thái hậu. Chỉ có lăng của Khang Hy là còn toàn vẹn, vì khi cậy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng khè từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy. Tin các lăng tẩm của Càn Long và Từ Hi bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên hoàng tộc, cựu thần nhà Thanh.

Johnston, thầy dạy tiếng Anh của Phổ Nghi kể lại: Chỉ qua một vài ngày Phổ Nghi đã già đi rất nhiều. Chỉ những ai hiểu lòng tôn thờ tổ tiên của người Trung Hoa và người Mãn Châu mới hiểu nỗi đau đớn của Phổ Nghi. Phổ Nghi gửi một điện văn cho Tưởng Giới Thạch và yêu cầu trừng trị những kẻ xâm phạm các lăng tẩm, kể cả Tôn Điền Dương. Tưởng liền cho mở một cuộc điều tra, nhưng cuối cùng cũng ỉm đi luôn. Chính phủ Cộng hoà cũng không gửi một lời chia buồn đến cho Phổ Nghi. Biến cố này càng khiến Phổ Nghi nung nấu quyết tâm khôi phục ngai vàng nhà Mãn Thanh dù có phải nhờ vào sự trợ giúp của Đế quốc Nhật Bản, kẻ thù của nước Trung Hoa khi đó.

Quốc trưởng Mãn Châu quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 3 năm 1932, Phổ Nghi đã được Nhật Bản dựng lên làm Quốc trưởng Mãn Châu Quốc, một vị trí bị nhiều nhà sử học coi là nhà nước bù nhìn của Đế quốc Nhật Bản, dưới niên hiệu Đại Đồng (大同).

Phổ Nghi khi là Hoàng đế Mãn Châu Quốc
Kangde Emperor of Manchukuo.JPG

Năm 1934, Phổ Nghi đã chính thức đăng quang Hoàng đế Đại Mãn Châu Đế quốc với niên hiệu Khang Đức (康德). Ông vẫn bí mật luôn ở thế xung đột với Nhật Bản nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra phục tùng. Ông không hài lòng khi trở thành Quốc trưởng Mãn Châu Quốc và sau đó là Hoàng đế Đại Mãn Châu Đế quốc thay vì được phục hồi hoàn toàn làm Hoàng đế Đại Thanh. Là một phần của Chính sách thuộc địa Nhật Bản ở Mãn Châu Quốc, Phổ Nghi phải ở Ngụy Hoàng cung trong thời gian này. Trong thời gian trị vì này, ông xung đột với Nhật Bản về y phục, khi người Nhật muốn ông mặc y phục Mãn Châu Quốc, còn ông xem đó là một sự sỉ nhục nếu mặc các y phục khác thay vì mặc y phục truyền thống của triều Thanh. Trong một trường hợp thỏa hiệp tiêu biểu, ông mặc một bộ đồng phục khi ngồi trên ngai và mặc long phục trong lễ tuyên cáo lên ngôi tại Thiên Đàn. Em trai Phổ Nghi là Phổ Kiệt (溥傑) cưới Hiro Saga, một người bà con xa với Nhật Hoàng Hirohito và được phong làm Hoàng tự (người kế vị).

Trong thời kỳ trị vì của Hoàng đế Đại Mãn Châu Đế quốc, toàn bộ gia đình của ông bị người Nhật giám sát chặt chẽ và liên tục thực hiện các bước Nhật hóa Mãn Châu như họ đã thực hiện ở Triều Tiên và những nơi khác. Khi Phổ Nghi đi thăm Tokyo trong một chuyến thăm cấp quốc gia, ông đã tâng bốc một cách ngượng nghịu trước Hoàng gia Nhật Bản. Ông còn cảm tạ Nhật Hoàng Hirohito đã cho bầu trời trong và ánh bình minh cho dịp này. Trong những năm tháng nhạt nhẽo này, ông bắt đầu quan tâm lớn đến Phật giáo, nhưng người Nhật đã sớm ép buộc ông chọn Thần đạo là quốc giáo của Mãn Châu. Những người ủng hộ cũ của ông dần bị loại bỏ và thay bằng những vị quan thân Nhật. Trong thời kỳ này, Phổ Nghi liên tục ký những luật do người Nhật soạn thảo, đọc thuộc lòng những bài kinh cầu nguyện, tham vấn những nhà tiên tri và viếng thăm khắp vương quốc của mình.

Cuộc sống cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Phổ Nghi và Hồng quân Liên Xô năm 1946

Khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Phổ Nghi bị Hồng quân Liên Xô bắt năm 1945, được đưa sang Liên Xô sống ở Siberia ban đầu ở Chita, sau đó được chuyển về Khabarovsk [4] Ông đã làm chứng tại một phiên tòa tội ác chiến tranh tại Tokyo năm 1946. Tại phiên tòa này, ông đã kể lể những ngược đãi của Nhật Bản đối với mình. Khi quân Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông lên nắm quyền năm 1949, Phổ Nghi đã viết thư cho Stalin đề nghị không đưa ông trở lại Trung Quốc. Ông cũng viết ra quan điểm sống của mình đã thay đổi do ảnh hưởng của các tác phẩm của MarxLenin mà ông đã đọc trong tù. Tuy nhiên, do Stalin mong muốn làm ấm lại quan hệ với Mao Trạch Đông nên ông đã cho hồi hương Phổ Nghi vào năm 1950. Phổ Nghi trải qua 10 năm trong Trại cải tạo Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh cho đến khi được tuyên bố là đã được cải tạo xong. Phổ Nghi đến Bắc Kinh năm 1959, với sự cho phép đặc biệt từ Chủ tịch Mao Trạch Đông và đã sống 6 tháng tiếp theo trong một căn hộ bình thường ở Bắc Kinh với em gái của mình trước khi bị chuyển đến một khách sạn do Chính phủ tài trợ. Ông lên tiếng ủng hộ những người Cộng sản và làm việc tại Vườn thực vật Bắc Kinh. Ông đã kết hôn với một y tá tên là Lý Thục Hiền ngày 30 tháng 4 năm 1962 bằng một lễ kết hôn tổ chức tại Phòng Khánh tiết của Đại lễ đường. Sau đó ông làm biên tập cho Vụ Văn học của Hội nghị Hiệp thương chính trị Nhân dân Trung Hoa (Quốc hội), nơi ông được trả lương khoảng 100 tệ[5] trước khi trở thành một thành viên của Hội nghị này từ năm 1964 đến khi mất.

Với sự cổ vũ của Mao và sau đó là Thủ tướng Chu Ân Lai và được Chính phủ công khai tán thành, Phổ Nghi đã viết tự truyện Nửa cuộc đời trước đây của tôi (我的前半生; bản dịch tiếng Anh có tên From Emperor to Citizen - Từ Hoàng đế đến Thường dân) vào thập niên 1960 cùng với Lý Văn Đạt, một biên tập viên của Cục Xuất bản Nhân dân Bắc Kinh.

Mao Trạch Đông bắt đầu tiến hành Cách mạng Văn hóa năm 1966, và các Hồng vệ binh xem Phổ Nghi, một biểu tượng của chế độ phong kiến Trung Hoa là một mục tiêu dễ tấn công. Với sự bảo vệ của phòng công an địa phương, Phổ Nghi được bảo vệ dù khẩu phần ăn, các vật dụng sang trọng như bàn và ghế bành đã bị gạt bỏ. Phổ Nghi đã chịu ảnh hưởng về mặt thể chất và tình cảm. Ông đã qua đời ở Bắc Kinh do biến chứng của ung thư thậnbệnh tim năm 1967 trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Theo luật Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, xác ông được hỏa táng thay vì mai táng như tổ tiên của ông. Tro của ông được chôn tại Nghĩa địa Cách mạng Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất các quan chức của đảng và nhà nước Trung Quốc. Trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, đây là nơi chôn cất các nàng hầu trong các cung phủ và các thái giám. Năm 1995, bà quả phụ Lý Thục Hiền đã di chuyển tro của ông đến một nghĩa địa cách Bắc Kinh 120 km về phía Tây Nam.

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Phổ Nghi có 5 người vợ chính thức:

  • Hoàng hậu Quách Bố La Uyển Dung (婉容): con gái Nội vụ phủ đại thần Vinh Nguyên. Ngày 30/11/1922, bà thành hôn với Phổ Nghi, được lập làm Hoàng hậu. Theo hồi ký Nửa đời trước của tôi, năm 1931, Văn Tú ly hôn Phổ Nghi, tình cảm giữa Uyển Dung và Phổ Nghi cũng ngày càng rạn nứt. Sau khi tới Mãn Châu bà nghiện thuốc phiện, ngoại tình và mang thai với một tài xế. Phổ Nghi khi biết chuyện đã ra lệnh giết chết con của Uyển Dung, rồi ra lệnh giam bà vào lãnh cung. Năm 1945, bà thoát cảnh bị giam cầm nhưng qua đời sau đó 1 năm vì bệnh tật và đói thuốc phiện.
  • Thục phi Ngạch Nhĩ Đức Đặc Văn Tú (文绣), kết hôn với Phổ Nghi ngày 30/11/1922, được lập làm Thục phi. Theo hồi ký Nửa đời trước của tôi, Văn Tú là người được Phổ Nghi lựa chọn làm Hoàng hậu, nhưng dưới ảnh hưởng Thái phi Tha Tha Lạp thị (他他拉氏) và các quan đại thần, Phổ Nghi buộc phải chọn Uyển Dung, do sự việc này nên quan hệ giữa bà và Uyển Dung rất gay gắt. Năm 1931, Văn Tú ly hôn Phổ Nghi, trở thành phi tần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa chủ động ly hôn hoàng đế. Để giữ thể diện, ngay sau ngày ký đơn ly hôn, Phổ Nghi ra một "chỉ dụ" với nội dung phế bỏ Thục phi Văn Tú làm thứ dân. Bà trở thành giáo viên tiểu học rồi tái giá với Lưu Chấn Đông, một thiếu tá trong quân đội Quốc dân đảng vào năm 1947.
  • Tường quý nhân Đàm Ngọc Linh (谭玉龄), nguyên là người Mãn, mang họ Tha Tha Lạp, con gái Bối lặc Dục Lãng (毓朗). Giữa Phổ Nghi và Uyển Dung xảy ra nhiều mâu thuẫn, năm 1937 ông ra lệnh giam Uyển Dung vào lãnh cung. Năm 1937, bà thông minh nhanh nhẹn, biết đối nhân xử thế đã được tuyển làm phi tần cho Phổ Nghi nhằm thế chỗ cho Hoàng hậu Uyển Dung, được sách lập làm Tường quý nhân (祥貴人). Ngày 14/8/1942, Đàm Ngọc Linh lâm bệnh rồi qua đời một cách đột ngột, Phổ Nghi cho rằng bà bị người Nhật sát hại do lo sợ tư tưởng yêu nước của bà sẽ ảnh hưởng tới Phổ Nghi, được truy tặng làm Minh Hiền Quý phi. Theo hồi ký Nửa đời trước của tôi, Đàm Ngọc Linh là người vợ Phổ Nghi yêu thương nhất, sau khi bà mất, Phổ Nghi vẫn luôn giữ bên mình lọn tóc của bà làm kỷ vật.
  • Phúc quý nhân Lý Ngọc Cầm (李玉琴): bà thành hôn với Phổ Nghi năm 1943, được sách lập làm Phúc quý nhân, ly hôn Phổ Nghi năm 1958.
  • Lý Thục Hiền (李淑賢), kết hôn năm 1962.

Trong phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phổ Tuyết Trai (1893—1966), tên thật là Phổ Cân (溥伒), hiệu Tuyết đạo nhân (雪道人), còn có hiệu là Nam Thạch cư sĩ (南石居士), bút danh Nam Thạch, Thuý Viên, Lạc Sơn Đẳng. Xuất thân trong gia đình đại hoàng tộc nhà Thanh, cụ nội là Đạo Quang, là anh em trực hệ với Phổ Nghi. Ông là một danh gia thư họa và là một nghệ nhân diễn tấu cổ cầm.
  2. ^ Edward Behr, The Last Emperor, 1987, p. 63
  3. ^ Edward Behr, ibid, p. 80
  4. ^ In the Last Emperor’s words: Life as a prisoner in the USSR.
  5. ^ CCTV-10 Historical Series:公民溥仪, Episode 10, 17:34