Trang Thuận hoàng quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trang Thuận Hoàng quý phi)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trang Thuận Hoàng quý phi
莊順皇貴妃
Đạo Quang Đế Hoàng quý phi
庄顺皇贵妃.png
Thông tin chung
Phối ngẫuThanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Hậu duệ
Thụy hiệu
Trang Thuận Hoàng quý phi
(莊順皇貴妃)
Tước hiệu[Lâm Quý nhân; 琳貴人]
[Tú Thường tại; 秀常在]
[Lâm tần; 琳嫔]
[Lâm phi; 琳妃]
[Lâm Quý phi; 琳贵妃]
[Hoàng khảo Lâm Quý Thái phi; 皇考琳貴太妃]
[Hoàng tổ Lâm Hoàng Quý Thái phi; 皇祖琳皇貴太妃]
Thân phụÔ Nhã Linh Thọ
Thân mẫuÔng thị
Sinh(1822-11-29)29 tháng 11, 1822
Mất13 tháng 12, 1866(1866-12-13) (44 tuổi)
An táng15 tháng 10 năm 1867
Mộ Đông lăng (慕东陵)

Trang Thuận Hoàng quý phi (chữ Hán: 莊順皇貴妃; 29 tháng 11 năm 1822 - 13 tháng 12 năm 1866), Ô Nhã thị (烏雅氏), Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế.

Thông qua con trai Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn, thì cháu nội của bà chính là Thanh Đức Tông Quang Tự Đế, và chắt nội của bà là Tuyên Thống Đế Phổ Nghi.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trang Thuận Hoàng quý phi sinh ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 2 (1822), thuộc gia tộc Ô Nhã thị (烏雅氏) của Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Gia tộc của bà, thuộc 3 phái hệ lớn của Ô Nhã thị, xét thứ hệ là cùng tộc với Hiếu Cung Nhân Hoàng hậuThanh Nhân Tông Ân tần. Tuy nhiên, một chi huyết thống của Trang Thuận so với Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu tương đối xa, từ thời Khang Hi Đế đã chia ra 5 hệ. Từ bối phận mà nói, Hiếu Cung Nhân Hoàng hậu là cao tổ phụ tộc cô mẫu, so với Trang Thuận Hoàng quý phi là khoảng 5 đời. Bên cạnh đó, Ân tần thuộc chi hệ gần, cha của Ân tần là anh trưởng của tằng tổ phụ của Trang Thuận Hoàng quý phi, do vậy Ân tần là tổ phụ đường tỷ, cũng chính là quan hệ đường cô tổ mẫu.

Cao tổ phụ chi hệ của Trang Thuận Hoàng quý phi, cũng chính là tổ phụ của Ân tần, tức Quan Bảo (官保). Quan Bảo, tự Dụng Dân (用民), hào Sư Tuyền (师泉), lấy Bút thiếp thức nhập sĩ, nhiều lần đảm nhiệm Chủ sự, Lang trung, Tri phủ, Phó Đô thống, sau thăng nhiệm Hình bộ Thị lang, Đô thống, Lại bộ Thượng thư, Hiệp bạn Đại học sĩ, năm 80 tuổi về hưu, thụy Văn Cần (文勤). Càn Long Đế từng ban "Tam ban cửu lão yến"Hương Sơn, cái gọi Tam ban cửu lão, tức Văn ban - Võ ban - Về hưu chi ban, trong đó Quan Bảo liền ở trong Văn ban cửu lão.

Quan Bảo sinh hai con trai, thứ nhất tên Vạn Ngưng (万凝), tị húy đổi thành Vạn Minh (万明), chính là cha của Nhân Tông Ân tần, sĩ đến Tả Phó Đô ngự sử; con thứ hai là Ngưng Đức (凝德), từ Lam Linh Thị vệ xuất thân, tòng chinh các nơi, lập có chiến công, nhậm vì Cam Túc Ba Lý Khôn Tổng binh, bỏ mình ở cuộc chiến với Bạch Liên giáo, tặng Kỵ đô úy (骑都尉). Con của Ngưng Đức là Tam Đa (三多) kế thừa tập tước Kỵ đô úy, con thứ Bách Lộc (百禄) làm đến Thông phán, một tiểu quan, sinh ra bốn con trai, con thứ 3 tên Linh Thọ (灵寿), làm Bút thiếp thức (chức quan dịch và ghi chép tài liệu), chính là cha sinh của Trang Thuận Hoàng quý phi.

Vợ cả của Linh Thọ là Ngạc Tế Đặc thị (鄂济特氏), không thể sinh con, còn tiểu thiếp Ông thị (翁氏) sinh liền 1 trai 1 gái, nhi tử là Hi Lâm (禧霖), còn con gái chính là Trang Thuận Hoàng quý phi. Nhưng khi Hi Lâm sinh ra, đã đem làm kế tự cho ông bác là Tam Đa, bởi vì ở tông pháp luật lệ, chi hệ của Tam Đa là môn trưởng, lại tập tước đại tông, yêu cầu nam tính hậu duệ tới kế thừa tông pháp thân phận, nhưng Hi LÂm sau khi bị đem đi cũng yểu mệnh mà chết. Sau khi Hi Lâm chết, đại tộc môn tuyệt tự, mà cả chi của Linh Thọ cũng tuyệt tôn, phải lấy con của Khánh Thần (庆辰), em thứ 7 của Bách Lộc làm con thừa tự.

Như vầy có thể xem qua, một chi Trang Thuận Hoàng quý phi phía trước tương đối điêu tàn. Gia tộc cũng bắt đầu lụn bại.

Nhập cung làm Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đạo Quang thứ 15 (1835), ngày 20 tháng 2, nhập cung phong Lâm Quý nhân (琳貴人), ngày 6 tháng 11 hàng làm Tú Thường tại (秀常在)[1]. Năm sau (1836), ngày 23 tháng 7, phục phong Quý nhân, là ở hầu cận Thành Quý nhân danh nghĩa.

Năm Đạo Quang thứ 20 (1840), ngày 25 tháng 7, tấn phong Lâm tần (琳嫔), ngày 21 tháng 9 (âm lịch) hạ sinh Hoàng thất tử Dịch Hoàn, ngày 17 tháng 11, ra chỉ phong lên Lâm phi (琳妃), bỏ qua Tần vị sắc phong lễ.

Năm Đạo Quang thứ 22 (1842), ngày 13 tháng 2, sinh hạ Hoàng cửu nữ của Đạo Quang Đế, là Thọ Trang Cố Luân Công chúa. Ngày 3 tháng 5, lấy Lễ bộ Thượng thư Cung Thủ Chính (龚守正) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Ngọc Minh (玉明) làm Phó sứ, hành Lâm phi sách phong lễ[2].

Năm Đạo Quang thứ 24 (1844), ngày 6 tháng giêng, giờ Dần, sinh hạ Hoàng bát tử Dịch Hỗ. Năm sau (1845), ngày 16 tháng 10, giờ Dần, sinh Hoàng cửu tử Dịch Huệ. Ngày 20 tháng 12, hạ chiếu tấn phong Quý phi. Năm Đạo Quang thứ 26 (1846), ngày 10 tháng 12, lấy Hiệp bạn Đại học sĩ Lại bộ Thượng thư Trần Quan Tuấn (陈官俊) làm Chính sứ, Lễ bộ Tả Thị lang Liền Quý (连贵) làm Phó sứ, sách phong Lâm Quý phi (琳貴妃)[3].

Sách văn viết:

Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), Đạo Quang Đế qua đời, con trai thứ tư của ông là Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế nối ngôi, dâng hiệu cho bà là Hoàng khảo Lâm Quý Thái phi (皇考琳貴太妃), cư Thọ Tây cung (寿西宫)[4]. Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế nối ngôi, sang ngày 10 tháng 10 (âm lịch) thì ra chỉ tấn tôn bà làm Hoàng tổ Lâm Hoàng Quý Thái phi (皇祖琳皇貴太妃), cư Thọ An cung (寿安宫)[5].

Năm Đồng Trị thứ 5 (1866), ngày 7 tháng 11 (âm lịch), Lâm Hoàng Quý Thái phi qua đời, hưởng thọ 45 tuổi. Hoàng đế mệnh các Vương công Đại thần mặc tang phục 1 ngày để tang, thụy hiệuTrang Thuận Hoàng quý phi (莊順皇貴妃). Năm Đồng Trị thứ 6 (1867), ngày 15 tháng 10, bà được táng tại Mộ Đông lăng (慕东陵), Thanh Tây lăng.

Về sau, cháu trai của bà là Thanh Đức Tông ra chỉ: "Trang Thuận Hoàng quý phi mẫu gia ba đời, duẫn nghi đặc kỳ tôn sùng, lấy quang buổi lễ long trọng". Do vậy, Hoàng đế ra chỉ dụ truy phong 3 đời Ô Nhã thị làm Nhất phẩm, lại cho Kỵ đô úy ân phong thế tập.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng thất tử Dịch Hoàn [奕譞; 16 tháng 10, 1840 - 1 tháng 1, 1891], cha đẻ của Thanh Đức Tông Quang Tự Hoàng đế. Thụy là Thuần Hiền Thân vương (醇贤亲王).
  • Thọ Trang Cố Luân Công chúa [壽莊固倫公主; 13 tháng 2, 1842 - 14 tháng 2, 1884], hạ giá lấy Đức Huy (德徽) của dòng họ Bác La Trì, con trai của Dụ Hằng (裕恒), thế tập Thành Dũng công (诚勇公).
  • Hoàng bát tử Dịch Hỗ [奕詥; 14 tháng 3 năm 1844 - 17 tháng 12 năm 1868]. Thuỵ là Chung Đoan Quận vương (鍾端郡王).
  • Hoàng cửu tử Dịch Huệ [奕譓; 15 tháng 11 năm 1845 - 22 tháng 3 năm 1877]. Thuỵ là Phu Kính Quận vương (孚敬郡王).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Một số lại ghi nhập cung sơ phong Thường tại, nhưng Ô Nhã thị gia phả xác nhận sơ phong Quý nhân
  2. ^ 道光帝晋封琳嫔为琳妃册文:册文曰。朕惟升椒佐治。扬庥资四德之贤。衍瓞推恩。备位重六宫之选。既宠膺夫晋秩。爰申锡以裦称。尔琳嫔乌雅氏。赋质金昭。秉心玉粹。勤修嫔则。恩早沛夫龙章。恪守女箴。吉允符乎燕喜。侍慈颜于萱幄。久分褕翟之荣。懋蕃祉于兰宫。克赞睢麟之化。兹仰奉皇太后懿旨、册封尔为琳妃。尔其祗承巽命。膺象服以弥恭。协翊坤仪。迓鸿禧而笃庆。钦哉。
  3. ^ 道光帝晋封琳妃为琳贵妃册文:册文曰。朕惟宣勤珠殿。芝泥分纶綍之荣。职佐璇闱。椒掖表珩璜之德。聿昭令典。用锡徽章。咨尔琳妃乌雅氏、淑慎其仪。柔嘉协度。式芳型于内则。礼教深娴。介蕃祉于春晖。慈恩下逮。兹恭奉皇太后懿旨。晋封尔为琳贵妃。特颁巽命。晋翼坤仪。尔其仰沐鸿休。勉赞肃雍之化。祗膺象服。弥怀谦抑之衷。钦哉。
  4. ^ 咸丰帝尊封道光帝琳贵妃为琳贵太妃册文:册文曰。坤仪翊化。徽音夙播于椒庭。巽命扬庥。宝篆聿辉乎芝检。式稽彝典。敬奉鸿称。皇考琳贵妃。昭德珩璜。禔躬绳矩。位崇九御。佐袆衣而禀职无愆。誉蔼六宫。标彤管而秉心有恪。载惟懿美。宜晋荣褒。谨以册宝尊封为皇考琳贵太妃。于戏。琅函焕采。紫闱之景福弥彰。珠树翔华。朱邸之春晖益永。谨言。
  5. ^ 同治帝尊封道光帝诸妃册文:○又谕、皇祖宣宗成皇帝嫔御。前经皇考大行皇帝加崇位号。兹朕御极之初。宜晋隆称。以申敬礼。琳贵太妃诞育醇郡王、钟郡王、孚郡王、寿禧和硕公主。谨尊封为琳皇贵太妃。彤嫔诞育寿庄和硕公主。尊封为彤妃。佳嫔尊封为佳妃。成嫔尊封为成妃。顺贵人尊封为顺嫔。蔡常在尊封为蔡贵人