Tổng binh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tổng binh (giản thể: 总兵; phồn thể: 總兵; bính âm: Zǒng bīng) là danh xưng một chức quan võ vào hai triều MinhThanh tại Trung Quốc, thời gian thực thi từ cuối thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 20. Dưới thời nhà Minh, danh xưng này không có phẩm chế, còn vào thời nhà Thanh thường sẽ mang hàm chính nhị phẩm; gần với chức quân đoàn trưởng hiện nay. Trong lục doanh thời Thanh, quân giai theo thứ tự từ cao xuống thấp là: đề đốc, tổng binh, phó tướng, tham tướng, du kích, đô ti, thủ bị, thiên tổngbả tổng.

Thời kỳ nhà Minh từ thế kỷ 14 đến 17, tổng binh không có phẩm cấp mà chỉ là quan danh của quan võ, thống lĩnh binh sĩ, thông thường kiêm nhiệm công hầu hoặc đô đốc địa phương. Đến thời nhà Thanh, quân quyền quy về các tuần phủ đề đốc của các tỉnh (quan văn), các tổng binh quan võ được mang hàm chính nhị phẩm, tùy thuộc vào cư dân, số lượng binh thống lĩnh có sự khác biệt, thông thường là khoảng 15.000. Tính chung, vào thời nhà Thanh toàn Trung Quốc có khoảng 83 tổng binh, trong đó, tổng binh lục lộ ước tính là 70, tổng binh thủy lộ là 13, thống hạt 18 tỉnh với 514 phòng doanh, tổng binh lực là 63 vạn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]