Gia Khánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thanh Nhân Tông)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Gia Khánh Đế
嘉慶帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清仁宗嘉庆皇帝朝服像》.jpg
Flag of China (1889–1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Trị vì 9 tháng 2 năm 17962 tháng 9 năm 1820
(&0000000000000024.00000024 năm, &0000000000000206.000000206 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Cao Tông
Kế nhiệm Thanh Tuyên Tông
Thông tin chung
Hoàng hậu Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Vĩnh Diễm
(愛新覺羅永琰)
Húy: Ngung Diễm (顒琰)
Niên hiệu Gia Khánh (嘉慶)
Thụy hiệu Thụ Thiên Hưng Vận Phu Hóa Tuy Du Sùng Văn Kinh Vũ Quang Dụ Hiếu Cung Cần Kiệm Đoan Mẫn Anh Triết Duệ Hoàng đế
(受天興運敷化綏猷崇文經武光裕孝恭勤儉端敏英哲睿皇帝)
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Thân phụ Thanh Cao Tông
Thân mẫu Hiếu Nghi Thuần Hoàng hậu
Sinh (1760-11-13)13 tháng 11, 1760
Nhà ThanhViên Minh Viên, Bắc Kinh
Mất 2 tháng 9, 1820(1820-09-02) (59 tuổi)
Nhà ThanhTị Thử Sơn Trang, Hà Bắc
An táng Xương lăng (昌陵), Tây Thanh Mộ

Thanh Nhân Tông (chữ Hán: 清仁宗, 13 tháng 11, năm 17602 tháng 9, năm 1820), Hãn hiệu Tát Y Thập Nhã Nhĩ Đồ Y Lỗ Cách Nhĩ Đồ hãn (萨伊什雅尔图伊鲁格尔图汗; Сайшаалт ерөөлт хаан), Tây Tạng tôn hiệu Văn Thù Hoàng đế (文殊皇帝), là vị Hoàng đế thứ 7 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc Mãn Châu. Ông cai trị từ năm 1796 đến năm 1820 và chỉ dùng niên hiệu Gia Khánh (嘉慶) nên ông còn được gọi là Gia Khánh Đế (嘉慶帝).

Vào năm Càn Long thứ 60 (1796), Càn Long Đế do không muốn thời gian trị vì của mình lớn hơn Hoàng tổ phụ Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế mà mình ngưỡng mộ, đã thiện nhượng cho Gia Khánh Đế để lên làm Thái Thượng hoàng, nhưng vẫn tiếp tục nắm quyền quyết định các việc lớn, sử gọi là Huấn chính (训政) biện pháp. Trong thời gian trị vì của mình, Gia Khánh đã có những hành động cố gắng khôi phục lại triều Thanh sau một thời gian dài bị lũng đoạn bởi sủng thần Hòa Thân và chống nạn buôn thuốc phiệnTrung Hoa. Gia Khánh Đế đã cho hành quyết Hòa Thân, một quan tham nổi tiếng dưới thời trị vì của Càn Long.

Thời kỳ trị vì của Gia Khánh, mâu thuẫn xã hội gay gắt, nha phiến lưu nhập Trung Quốc, việc chống nạn tham nhũng không khởi sắc, sử gia gọi là Gia Đạo trung suy (嘉道中衰).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Họa đồ Vĩnh Diễm khi còn nhỏ.

Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế nguyên danh Vĩnh Diễm (永琰), sau khi lên ngôi tên ông đổi thành Ngung Diễm (顒琰) và lấy đó là húy kị. Ông là con trai thứ 15 của Thanh Cao Tông Càn Long Đế, sinh vào ngày 6 tháng 10 (âm lịch) năm Càn Long thứ 25 (1760) tại Viên Minh Viên. Mẹ là Lệnh Ý Hoàng Quý phi Ngụy Giai thị, con của Nguỵ Thanh Thái, xuất thân là người Hán trong giai cấp Bao y nô bộc phục vụ hoàng thất Mãn Châu trực thuộc Nội Vụ phủ.

Khi còn nhỏ, Vĩnh Diễm được Khánh Cung Hoàng Quý phi nuôi dưỡng. Sự giáo dục của Vĩnh Diễm được chỉ định cho Binh bộ Thị lang Phụng Khoan (奉宽) cùng Công bộ Thị lang Tạ Dụng (谢墉). Khoảng năm 7 tuổi, Vĩnh Diễm đến Bành Sơn hành điện (盘山行殿) bái kiến Hoàng tổ mẫu Sùng Khánh Hoàng thái hậu, lễ nghi vẹn toàn, được Thái hậu và Càn Long Đế khen ngợi[1]. Năm 13 tuổi, Vĩnh Diễm chăm chỉ học tập, thuộc làu Ngũ kinh[2].

Trước khi Vĩnh Diễm ra đời, Càn Long Đế đã từng 2 lần bí mật lập Trữ quân là Hoàng nhị tử - Đoan Tuệ Hoàng Thái tử Vĩnh Liễn cùng Hoàng thất tử - Triết Thành Thân vương Vĩnh Tông. Cả 2 vị Hoàng đích tử đều do đích thân Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu hạ sinh nhưng bất hạnh qua đời từ sớm.

Đến khi Vĩnh Diễm trưởng thành, ông trở thành lựa chọn duy nhất của Càn Long Đế khi:

  • Hoàng trưởng tử - Định An Thân vương Vĩnh Hoàng và Hoàng tam tử - Tuần Quận vương Vĩnh Chương có thái độ bất kính trong đại tang của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, bị Càn Long Đế trách phạt và truất quyền kế thừa đại thống.
  • Hoàng tứ tử - Lý Đoan Thân vương Vĩnh Thành và Hoàng lục tử - Chất Trang Thân vương Vĩnh Dung đều trở thành con thờ tự của các Thân vương, về cơ bản là mất tư cách kế thừa Đế vị.
  • Hoàng ngũ tử - Vinh Thuần Thân vương Vĩnh Kỳ thông minh xuất chúng, là người con trai Càn Long Đế hãnh diện nhất, cũng là ứng viên xứng đáng cho vị trí Thái tử, tuy nhiên năm 25 tuổi mắc bệnh lao, yểu mệnh và qua đời.
  • Hoàng bát tử - Nghi Thận Thân vương Vĩnh Tuyền đam mê tửu sắc, chân lại có tật. Hoàng thập nhất tử - Thành Triết Thân vương Vĩnh Tinh nhiều lần bị Càn Long Đế khiển trách vì lối sống giản dị tới mức keo kiệt, bủn xỉn. Cả hai đương nhiên đều không xứng lập Trữ quân.
  • Hoàng cửu tử, Hoàng thập tử, Hoàng thập tam tử Vĩnh Cảnh, Hoàng thập tứ tử Vĩnh Lộ và Hoàng thập lục tử đều chết yểu.
  • Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ là Hoàng đích tử còn sống duy nhất tới khi trưởng thành của Càn Long Đế nhưng Vĩnh Cơ đã bạo bệnh quy thiên khi chỉ 23 tuổi đồng thời sinh mẫu Vĩnh CơKế Hoàng hậu bị Càn Long Đế truất quyền quản lý hậu cung, khiến Vĩnh Cơ bị liên lụy, đánh trượt khỏi danh sách có khả năng kế thừa đại thống.
  • Hoàng thập thất tử - Khánh Hy Thân vương Vĩnh Lân thì mỗi ngày đều gây rắc rối trong hoàng cung khiến cho Càn Long Đế chán ghét.

Năm Càn Long thứ 38 (1773), Càn Long Đế bí mật chọn Vĩnh Diễm làm Trữ quân, song vẫn có chút bất an. Tuy Vĩnh Diễm chăm chỉ học hành, nhưng tư chất vẫn không bằng người anh là Hoàng ngũ tử Vĩnh Kỳ, lại không có thân phận đích xuất cao quý như Đoan Tuệ Hoàng Thái tử Vĩnh Liễn, Hoàng thất tử Vĩnh Tông hay Hoàng thập nhị tử Vĩnh Cơ. Sinh mẫu của ông là Lệnh Ý Hoàng Quý phi, xuất thân Bao y cung nữ thấp kém, không bằng các phi tần khác của Càn Long Đế. Vì vậy khi tế cáo thiên địa, Càn Long Đế đã khấn:"Nếu là người hiền thì cho nó được thành đạt, còn nếu không thể kế thừa Đại Thanh thì cho nó yểu mệnh mà chết. Để không lầm lỡ cơ mệnh quốc gia, cũng là để chọn người khác phù hợp"[3].

Năm Càn Long thứ 54 (1789), Vĩnh Diễm được phong làm Gia Thân vương (嘉親王). Năm Càn Long thứ 60 (1795), Càn Long Đế triệu Vương công Hoàng tử vào chầu Cần Chánh điện (勤政殿) tuyên bố lập Trữ quân, tuyên Gia Thân vương Vĩnh Diễm làm Hoàng thái tử. Theo điển lễ, tân nhiệm Hoàng thái tử Vĩnh Diễm theo Càn Long Đế đến Thanh Đông lăngThanh Tây lăng tế cáo tế điện. Đến mộ phần của Đoan Tuệ Hoàng thái tử Vĩnh Liễn, Càn Long Đế bắt Vĩnh Diễm phải hành lễ trước mộ phần, tỏ sự cung kính với lý do: Đoan Tuệ Hoàng Thái tử khi trước đã được bí mật lập làm Trữ quân, đã có danh phận, rất xứng đáng được (Tân đế) hành lễ quỳ khấu, nhưng không được dùng tư cách em trai bái tế anh lớn (端慧皇太子先曾密立。已有名分,应行叩跪之礼,非因以弟拜兄).

Chấp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Khánh Đế mặc Long bào.

Năm sau (1796), ngày mùng 1 tháng giêng, Càn Long Đế tuyên chiếu thiện nhượng cho Thái tử Vĩnh Diễm, lấy niên hiệu là Gia Khánh.

Càn Long Đế lên làm Thái Thượng hoàng, cư ngụ tại Ninh Thọ cung, cung điện mà Khang Hi Đế dành riêng cho Nhân Hiến Mẫu hậu Hoàng thái hậu, nay được Càn Long Đế tu sửa quy mô hơn nhiều, còn Gia Khánh Đế tạm cư Dục Khánh cung (毓庆宫). Trong ba năm sau đó, Gia Khánh Đế chỉ làm Hoàng đế trên danh nghĩa, vì Càn Long Thái Thượng hoàng đế vẫn là người ra quyết định chính; phàm công văn quan trọng, tuyển bổ quan lại đại thần, Gia Khánh Đế phê duyệt xong đều phải đưa cho Thái Thượng hoàng xem xét, sau khi Thượng hoàng đồng ý mới quyết định. Đó gọi là "Huấn chính" biện pháp.

Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Thái Thượng hoàng băng hà, Gia Khánh Đế mới làm lễ lên ngôi, khi ấy đã 40 tuổi.

Sau khi Càn Long Đế băng hà, Gia Khánh Đế nắm triều chính và xử tội Hòa Thân. Với tội danh tham nhũng và lạm dụng chức quyền, Hòa Thân bị tước hết quan tước và ban cho tự sát. Con dâu của Hòa Thân, em gái của Gia Khánh Đế, là Cố Luân Hoà Hiếu Công chúa được miễn tội và ban cho một số tài sản của Hòa Thân.

Vào năm Gia Khánh thứ 8 (1803), phát sinh cuộc nội loạn của Trần Đức xông vào Tử Cấm Thành. Và năm Gia Khánh thứ 18 (1813), lại phát sinh loạn bởi Thiên Lý giáo (天理教) đột nhập vào hoàng cung. Những người trực tiếp tham gia bị xử tử, hàng trăm người khác bị lưu đày sau hai vụ ám sát này.

Triều đại của Gia Khánh Đế, tuy tiễu trừ Hòa Thân, thi hành tiết kiệm, cải tổ bè đảng, song vấn đề tham ô không một khởi sắc mà thậm chí còn nặng nề thêm. Trong suốt thời kì Gia Khánh Đế trị vì, bạo loạn xã hội bởi Bạch Liên giáoThiên Lý giáo đã làm tình hình trở nên nghiêm trọng. Nha phiến lưu nhập Trung Quốc. Bát Kỳ sinh nhai kế gặp vấn đề.

Băng hà[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh thứ 24 (1820), ngày 2 tháng 9, Gia Khánh Đế băng hà tại Hành cung Nhiệt Hà, cách Bắc Kinh 230 km về hướng đông bắc.

Gia Khánh Đế trị vì được 24 năm, miếu hiệuNhân Tông (仁宗), thụy hiệuThụ Thiên Hưng Vận Phu Hóa Tuy Du Sùng Văn Kinh Vũ Quang Dụ Hiếu Cung Cần Kiệm Đoan Mẫn Anh Triết Duệ Hoàng đế (受天興運敷化綏猷崇文經武光裕孝恭勤儉端敏英哲睿皇帝). Thanh Nhân Tông được an táng tại tổ hợp Xương lăng (昌陵) ở Tây Thanh Mộ, cách Bắc Kinh 120 km về hướng tây nam.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Chính cung Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chân dung Sinh mất Cha Ghi chú
Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu
Hỉ Tháp Lạp thị
《孝淑睿皇后朝服像》局部.jpg 2 tháng 10 năm 1760
5 tháng 3 năm 1797
(36 tuổi)
Phó đô thống Nội vụ phủ Tổng quản Hòa Nhĩ Kinh Ngạch (和尔经额) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Đích Phúc tấn. Gia Khánh Đế tức vị, bà được sách phong Hoàng hậu;

Sinh ra Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế, Hoàng nhị nữ và Cố Luân Trang Tĩnh Công chúa.

Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
Nữu Hỗ Lộc thị
《孝和睿皇后朝服像》局部.jpg 10 tháng 10 năm 1776
23 tháng 1, 1850
(73 tuổi)
Lễ bộ Thượng thư Cung A Lạp (恭阿拉) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Trắc Phúc tấn. Gia Khánh Đế tức vị, bà được sách phong Quý phi, sau thăng Hoàng hậu;

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Cung Từ Hoàng thái hậu (恭慈皇太后). Sinh Đôn Khác Thân vương Miên Khải, Thụy Hoài Thân vương Miên Hân và Hoàng thất nữ.

Hậu cung Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Sinh Mất Cha Ghi chú
Hoàng quý phi
Hoà Dụ Hoàng Quý phi
Lưu Giai thị
(和裕皇贵妃刘佳氏)
9 tháng 1 năm 1761 27 tháng 4 năm 1834 Bái đường a Lưu Phúc Minh (拜唐阿) Thành hôn với Gia Khánh Đế khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Cách cách;

Gia Khánh Đế tức vị, bà được sách phong Thành phi (諴妃), sau thăng Thành Quý phi (諴贵妃);

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Hoàng khảo Thành Hi Hoàng Quý phi (皇考諴禧皇贵妃). Sinh Hoàng trưởng tử chết yểu và Hòa Thạc Trang Kính Công chúa.

Cung Thuận Hoàng Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị
(恭顺皇贵妃钮祜禄氏)
1787 23 tháng 4 năm 1860 Chủ bạ Thiện Khánh (善庆) Nhập cung sách phong Như Quý nhân (如贵人), sau thăng Như tần (如嫔), rồi Như phi (如妃);

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Hoàng khảo Như Quý phi (皇考如贵妃), Hoàng khảo Như Hoàng Quý phi (皇考如皇贵妃). Hàm Phong kế vị tôn làm Hoàng tổ Như Hoàng Quý Thái phi (皇祖如皇贵太妃).

Sinh Hoàng bát nữ, Cố Luân Tuệ Mẫn Công chúa và Huệ Đoan Thân vương Miên Du.

Phi tần
Thứ phi Hoàn Nhan thị
(恕妃完颜氏)
Không rõ Không rõ Kinh xa đô úy Ha Phong A (哈丰阿) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Trắc Phúc tấn (侧福晋), mất trước khi Gia Khánh đăng cơ.

Gia Khánh tức vị, truy phong Thứ phi (恕妃).

Hoa phi Hầu Giai thị
(华妃侯佳氏)
Không rõ 28 tháng 6 năm 1804 Thượng tứ viện khanh Thảo Trụ (讨住) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Cách cách.

Gia Khánh tức vị, bà được sách phong Doanh tần (莹嫔), sau thăng Hoa phi (华妃). Sinh Hoàng lục nữ.

Trang phi Vương Giai thị
(莊妃王佳氏)
Không rõ 15 tháng 2 năm 1811 Văn cử nhân Y Lý Bố (伊里布) Thị thiếp của Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương.

Gia Khánh tức vị, sách phong Xuân Thường tại (春常在), sau thăng Xuân Quý nhân (春贵人), Cát tần (吉嫔) rồi Trang phi (莊妃).

Tín phi Lưu Giai thị
(信妃刘佳氏)
Không rõ 13 tháng 10 năm 1822 Tướng quân Bổn Chí (本志) Sách phong Tín Quý nhân (信贵人), sau thăng Tín tần (信嫔).

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Hoàng khảo Tín phi (皇考信妃).

Tốn tần Thẩm Giai thị
(逊嫔沈佳氏)
Không rõ Không rõ Nội vụ Phủ đại thần Vĩnh Hòa (永和) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Cách cách, mất trước khi Gia Khánh đăng cơ.

Gia Khánh tức vị, truy phong Tốn tần (逊嫔).

Giản tần Quan Giai thị
(简嫔关佳氏)
Không rõ Không rõ Bái đường a Đức Thành (德成) Thành hôn với Gia Khánh khi ông còn là Gia Thân vương, được sách lập làm Cách cách, mất trước khi Gia Khánh đăng cơ.

Gia Khánh tức vị, truy phong Giản tần (逊嫔). Sinh Hoàng trưởng nữ.

Thuần tần Đồng Giai thị
(淳嬪董佳氏)
Không rõ 13 tháng 10 năm 1819 Không rõ Sách phong Thuần Quý nhân (淳贵人), sau thăng Thuần tần (淳嫔).
Vinh tần Lương thị
(荣嫔梁氏)
Không rõ 10 tháng 5 năm 1826 Viên ngoại lang Quang Bảo (光保) Thị thiếp của Gia Khánh khi ông còn là Hoàng tử. Gia Khánh tức vị, bà được sách phong Vinh Thường tại (荣常在), sau thăng Vinh Quý nhân (荣贵人).

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Vinh tần (荣嫔).

Ân tần Ô Nhã thị
(恩嫔乌雅氏)
Không rõ Không rõ Không rõ Phong vị Ân Quý nhân (恩贵人);

Thời Đạo Quang, được tấn tôn làm Ân tần (恩嫔).

An tần Tô Hoàn Ni Qua Nhĩ Giai thị
(安嫔苏完尼瓜尔佳氏)
1785 Tháng 6, 1837 Không rõ Phong vị An Thường tại (安常在);

Thời Đạo Quang được tấn tôn làm An tần (安嫔).

Ngự thiếp
Vân Quý nhân

(芸贵人)

Không rõ danh tính, an táng tại Xương Lăng (昌陵) - Phi viên tẩm (妃园寝).
Ngọc Quý nhân

(玉贵人)

Không rõ danh tính, an táng tại Xương Lăng (昌陵) - Phi viên tẩm (妃园寝).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

# Danh hiệu Tên Sinh Mất Mẹ Ghi chú
Hoàng tử
1 Mục Quận vương
(穆亲王)
Miên Di 4 tháng 2 năm 1779 10 tháng 4 năm 1780 Hoà Dụ Hoàng Quý phi Chết yểu
2 Tuyên Tông Thành Hoàng đế Miên Ninh 16 tháng 9 năm 1782 25 tháng 2 năm 1850 Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu Kế vị trở thành Đạo Quang Đế
2 Đôn Khác Thân vương
(惇恪亲王)
Miên Khải 6 tháng 8 năm 1795 18 tháng 1, 1838 Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu
4 Thuỵ Hoài Thân vương
(瑞懷親王)
Miên Hân 9 tháng 3 năm 1805 27 tháng 9 năm 1828 Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu Âm mưu lật đổ Đạo Quang thất bại sau đó tự sát.
5 Huệ Đoan Thân vương
(惠端亲王)
Miên Du 8 tháng 3 năm 1814 9 tháng 1 năm 1865 Cung Thuận Hoàng Quý phi
Hoàng nữ
1 Hoàng trưởng nữ 11 tháng 4 năm 1780 1 tháng 11 năm 1783 Giản tần Chết yểu
2 Hoàng nhị nữ 30 tháng 4 năm 1780 10 tháng 8 năm 1783] Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu Chết yểu
3 Hoà Thạc Trang Kính Công chúa
(和硕莊敬公主)
Hoàng tam nữ 17 tháng 12 năm 1781 12 tháng 3 năm 1811 Hoà Dụ Hoàng Quý phi Hạ giá lấy Tác Đặc Nạp Mộc Đa Bố Tể (索特纳木多布济) của Khoa Nhĩ Thấm Bát Nhĩ Tế Cát đặc bộ.
4 Cố Luân Trang Tĩnh Công chúa
(固伦莊静公主)
Hoàng tứ nữ 7 tháng 9 năm 1784 7 tháng 5 năm 1811 Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu Hạ giá lấy Mã Ni Ba Đạt Lạt (玛尼巴达喇) của Bát Nhĩ Tế Cát đặc bộ.
5 Hoà Thạc Tuệ An Công chúa
(和硕慧安公主)
Hoàng ngũ nữ 11 tháng 11 năm 1786 tháng 5 năm 1795 Tốn tần Qua đời khi lên 10 tuổi.
6 Hoàng lục nữ 12 tháng 6 năm 1789 tháng 5 năm 1790 Hoa phi Chết yểu
7 Hoàng thất nữ 26 tháng 6 năm 1793 tháng 6 năm 1795 Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu Chết yểu
8 Hoàng bát nữ 8 tháng 2 năm 1805 tháng 11 năm 1805 Cung Thuận Hoàng Quý phi Chết yểu
9 Cố Luân Tuệ Mẫn Công chúa
(固伦慧愍公主)
Hoàng cửu nữ 25 tháng 1 năm 1811 tháng 5 năm 1815 Cung Thuận Hoàng Quý phi Qua đời khi lên 5 tuổi

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清实录之嘉庆朝》:七龄时。谒孝圣宪皇后于盘山行殿。渥承饴爱。事高宗纯皇帝孝仪纯皇后寝门问视。婉愉孺慕。典惬欢心。以是冲龄备蒙恩眷。
  2. ^ 王先谦:《十二朝东华录(嘉庆朝)》卷1。
  3. ^ 清实录 : ...朕曾以所定皇子之名。默祷上帝。以所定之子若贤。能承大清基业。则祈昊苍眷估。俾得有成。苦其人弗克负荷。则速夺其算。毋误国家重大之任 。予亦可另行选择。
Gia Khánh
Sinh: 13 tháng 11, 1760 Mất: 2 tháng 9, 1820
Tước hiệu
Tiền vị
Hoàng đế Càn Long
Hoàng đế Trung Quốc
1796 – 1820
Kế vị
Hoàng đế Đạo Quang