Cung Thuận Hoàng quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cung Thuận Hoàng quý phi
恭顺皇贵妃
Gia Khánh Đế Hoàng quý phi
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Nhân Tông
Gia Khánh Hoàng đế
Hậu duệ
Tước hiệu [Như Quý nhân; 如貴人]
[Như tần; 如嬪]
[Như phi; 如妃]
[Hoàng khảo Như Quý phi; 皇考如貴妃]
[Hoàng khảo Như Hoàng quý phi; 皇考如皇貴妃]
[Hoàng tổ Như Hoàng quý thái phi; 皇祖如皇貴太妃]
Thụy hiệu Cung Thuận Hoàng quý phi
(恭順皇貴妃)
Thân phụ Thiện Khánh
Thân mẫu Dương thị
Sinh 1787
Mất 23 tháng 4, năm 1860 (72–73 tuổi)
Viên Minh Viên, Bắc Kinh
An táng 27 tháng 2, 1861
Xương lăng (昌陵), Thanh Tây lăng

Cung Thuận Hoàng quý phi (chữ Hán: 恭顺皇贵妃; 1787 - 23 tháng 4, năm 1860), Nữu Hỗ Lộc thị, Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là một phi tần của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế trong lịch sử Trung Quốc.

Xuất thân hiển hách, Cung Thuận Hoàng quý phi trải qua 3 triều Gia Khánh, Đạo QuangHàm Phong, trở thành một trong những phi tần sống thọ nhất, và giữ địa vị phi tần cao nhất trong thời của bà.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu thế danh môn[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Thuận Hoàng quý phi sinh ra vào năm Càn Long thứ 52 (1787), xuất thân Tương Hoàng kỳ Mãn Châu, là hậu duệ từ gia tộc Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏) của Hoằng Nghị công phủ Ngạch Diệc Đô, một thế gia hiển hách trong xã hội Mãn Thanh. Tuy không phải xuất thân dòng chính đại tông của Hoằng Nghị công phủ, song cũng là thế gia lưu giữ tước vị truyền đời. Tổ tiên của bà là con trai thứ 8 của Ngạch Diệc Đô, tên Đồ Nhĩ Cách (图尔格).

Đồ Nhĩ Cách là danh thần có tiếng trước cả khi nhập quan, nhiều lần lập chiến công, phong làm Tam đẳng công (三等公), sau lại được xưng là Tam đẳng Quả Nghị Mưu Dũng công (三等果毅谋勇公), tạo ra 1 trong 2 chi đại tông của Quả Nghị công phủ Nữu Hỗ Lộc thế gia. Tước vị của Đồ Nhĩ Cách truyền đến con trai Khoa Phổ Tác (科普索) thì bị cách tước, chuyển cho ấu đệ của Đồ Nhĩ Cách là Át Tất Long, do vậy dòng dõi đại tông Quả Nghị Mưu Dũng công do dòng của Át Tất Long truyền thừa.

Con trưởng của Đồ Nhĩ Cách là Ngũ Nhĩ Cách (伍尔格), vì hi sinh chiến trận mà phong Kỵ đô úy (骑都尉), tước vị từ con cháu Ngũ Nhĩ Cách kế tục. Con cháu Ngũ Nhĩ Cách tuyệt tự, tước vị lại do con cháu của Khoa Phổ Tác là Xa Đặc Hồn (奢特珲) kế tục. Xa Đặc Hồn chính là cao tổ phụ của Cung Thuận Hoàng quý phi. Cụ nội của Cung Thuận Hoàng quý phi tên là Bác Sắc (博色), tập tước Kỵ đô úy, nhậm Nhất đẳng Thị vệ, sinh ra 4 con trai, trong đó con trai thứ 2 là Đạt Phúc (达福) tập tước vị, nhậm Phó Đô thống, con gái gả cho anh của Gia Khánh Đế là Chất Trang Thân vương Vĩnh Dung làm Kế Phúc tấn. Do vậy, tuy xét theo nhà chồng là chị dâu, nhưng xét theo gia tộc lại gọi là đường cô mẫu. Tổ phụ của Cung Thuận Hoàng quý phi là con trai thứ 3 của Bác Sắc, tên Đạt Lộc (达禄).

Thuận tiện nhắc tới, Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu cũng xuất thân một chi Hoằng Nghị công phủ, tuy Hiếu Hòa Hoàng hậu có tôn vị Hoàng hậu, song xét về gia tộc lại thua Cung Thuận Hoàng quý phi một bậc. Xét về thứ bậc gia tộc cả 2 là tộc tỉ muội.

Gia đình vọng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Ông nội Đạt Lộc cưới Bích Lộ thị (碧鲁氏) làm chính thê, sinh duy nhất một con trai, chính là Thiện Khánh (善慶), cha của Cung Thuận Hoàng quý phi. Thiện Khánh ở năm Càn Long thứ 23 (1758), lấy "Bút thiếp thức" nhập sĩ, Gia Khánh năm thứ 2 thăng làm Chủ sự (主事), năm sau lại qua đời. Nguyên phối Phú Sát thị (富察氏), chính là Mãn Châu Tương Hoàng kỳ Sa Tế Phú Sát thị đại gia tộc, là con gái Tri phủ Quan Đăng (官登), cháu gái của Nhị đẳng Đôn Huệ bá Mã Tề (马齐). Kế thất Dương thị thuộc Nội Vụ phủ thế gia, là con gái Hình bộ Thị lang Kiền Lễ Bảo (虔礼保), cả 2 đều sinh cho Thiện Khánh 4 con trai và 3 con gái. Căn cứ theo Nữu Hoằng Nghị công gia phổ (钮弘毅公家谱), Phú Sát thị qua đời năm Càn Long thứ 46 (1781), do vậy chỉ có con trai cả Trường Liêm (长廉) là do Phú Sát thị sinh ra, còn lại đều là con của Dương thị sở sinh.

Con trai đầu của Đạt Lộc là Trường Liêm, sinh năm Càn Long thứ 45 (1780), là anh cả của Cung Thuận Hoàng quý phi, về sau cưới cháu gái trong tộc của mẹ đẻ. Con trai thứ Trường Văn (长文), sinh năm Càn Long thứ 53 (1788), và Trường Hỉ (长喜) sinh năm thứ 55 (1790), đều là hai em trai của Cung Thuận Hoàng quý phi. Con gái cả của Thiện Khánh chính là Cung Thuận Hoàng quý phi, con gái thứ 2 sinh năm Càn Long thứ 58 (1793), kém 6 tuổi so với bà, gả cho Bất nhập bát phân Phụ quốc công, Hiệp bạn Đại học sĩ Kính Chinh (敬征), là con trai của Cung Túc Thân vương Vĩnh Tích (永锡), em gái út sinh năm Gia Khánh thứ 2 (1797), gả làm vợ của Giác La Cảnh Khánh (觉罗景庆).

Em trai bà Trường Hỉ, cưới con gái của Cung Túc Thân vương Vĩnh Tích làm Chính Phu nhân, trong khi đó em gái thứ 2 của bà gả vào làm dâu cho Cung Túc Thân vương Vĩnh Tích, chỉ nhìn thôi cũng đã hình dung ra được gia thế không tầm thường của gia đình Cung Thuận Hoàng quý phi. Trong khi đó, em gái thứ 2 của Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu gả cho Kính Tự (敬叙), con trai của Cung Túc Thân vương. Rõ ràng, Cung Thuận Hoàng quý phi và Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu 2 chi gia tộc khá xa trong Hoằng Nghị công phủ thế gia, nhưng hôn nhân vô hình chung lại rất chặt chẽ. Từ điểm này suy đoán, Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu và Cung Thuận Hoàng quý phi có mối quan hệ không tồi.

Bên cạnh đó, gia tộc của Cung Thuận Hoàng quý phi 2 đời kết thông gia với Sa Tế Phú Sát thị, mà con gái của Quan Đăng là đích tiên mẫu của Cung Thuận Hoàng quý phi, trong khi đó cháu gái của Quan Đăng là tẩu tẩu của Cung Thuận Hoàng quý phi, mà huyền tôn nữ của Quan Đăng, chính là Thục Thận Hoàng quý phi của Thanh Mục Tông.

Đại Thanh tần phi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập cung an bình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh sơ niên (1796), không rõ chính xác thời gian, Nữu Hỗ Lộc thị nhập cung và được phong làm Như Quý nhân (如貴人)[1]. Căn cứ Hồng xưng thông dụng (鸿称通用), phong hiệu Như Mãn văn là 「Dahashūn」, ý là Thuận theo, Vâng theo.

Năm Gia Khánh thứ 10 (1805), ngày 8 tháng 2, giờ Tuất, Như Quý nhân sinh được Hoàng bát nữ. Ngày 4 tháng 6, lấy Lễ bộ Thượng thư Cung A Lạp (恭阿拉) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Hô Tố Thông A (瑚素通阿) làm Phó sứ, sách phong làm Như tần (如嬪).

Sách văn viết:

Năm thứ 15 (1810), tháng 9, bà được phong làm Như phi (如妃), cư Vĩnh Thọ cung (永壽宮). Một năm sau, ngày 25 tháng giêng, bà sinh thêm được Hoàng cửu nữ, tức Cố Luân Tuệ Mẫn Công chúa (固伦慧愍公主), nhưng tới 4 tuổi thì Hoàng nữ cũng qua đời.

Năm Gia Khánh thứ 19 (1814), ngày 27 tháng 2, giờ Sửu, Như phi sinh được Hoàng ngủ tử Miên Du[2].

Cả đời an tĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Gia Khánh thứ 25 (1820), Gia Khánh Đế băng hà, Đạo Quang Đế kế vị. Ngày 23 tháng 8, bà được Đạo Quang Đế tấn phong lên là Hoàng khảo Như Quý phi (皇考如貴妃), ngự tại Thọ An cung (壽安宮). Ngày 20 tháng 12, lấy Lễ bộ Tả Thị lang Thư Minh (书铭) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Mao Mô (毛谟) làm Phó sứ, hành sách phong lễ.

Năm Đạo Quang thứ 26 (1846), ngày 10 tháng 3, bà được tấn phong lên là Hoàng khảo Như Hoàng quý phi (皇考如皇貴妃). Ngày 10 tháng 12, lấy Đại học sĩ Trác Bỉnh Điềm (卓秉恬) làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu Thị lang Uy Thập Nột (倭什讷) làm Phó sứ, hành sách phong lễ.

Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), ngày 22 tháng giêng, Hàm Phong Đế tấn phong bà làm Hoàng tổ Như Hoàng Quý Thái phi (皇祖如皇貴太妃). Ngày 10 tháng 3, lấy Đại học sĩ Trác Bỉnh Điềm làm Chính sứ, Lễ bộ Tả Thị lang Liên Thuận (联顺) làm Phó sứ, hành sách phong lễ.

Sách văn viết:

Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), ngày 3 tháng 3 (âm lịch), bà qua đời tại Viên Minh Viên, hưởng thọ 74 tuổi. Ngày hôm sau, di thể của bà liễm nhập kim quan. Ngày 22 tháng 5, giờ Mẹo, hành lễ dâng tặng thụy hiệu tại Cát An sở, thụy hiệu là Cung Thuận Hoàng quý phi (恭順皇貴妃). Ngày 19 tháng 8, kim quan của bà tạm an ở Sùng Các trang (崇各庄).

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 22 tháng 2, giờ Dần, kim quan của bà phụng di Thanh Tây lăng. Hàm Phong Đế dụ chỉ Nội Vụ phủ Đại thần Minh Thiện (明善) tại Tị Thử sơn trang, mọi việc cần giản lược, đem tùy theo kim quan của Đạo Quang Đế tần phi là Thường tần tùy đến Thanh Tây lăng luôn thể. Kim quan của Cung Thuận Hoàng quý phi để ở gian thứ, đại điện phía đông. Ngày 27 tháng 2, an táng địa cung ở Xương lăng (昌陵).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Thuận Hoàng quý phi sinh hạ 1 Hoàng tử và 2 Hoàng nữ:

  1. Hoàng bát nữ (皇八女), sinh ngày 8 tháng 2 năm Gia Khánh thứ 10 (1805), mất khoảng tháng 11 cùng năm.
  2. Cố Luân Tuệ Mẫn công chúa (固伦慧愍公主; 25 tháng 11, 1811 - tháng 5, 1815), mất khi chỉ mới 5 tuổi. Năm Gia Khánh thứ 20 (1820), tặng làm Cố Luân công chúa, cùng với chị khác mẹ Hòa Thạc Tuệ An công chúa an táng vào mộ của Lương Các trang (梁格庄).
  3. Hoàng ngũ tử Miên Du (绵愉; 8 tháng 3, năm 1814 - 9 tháng 1, năm 1865), thụy Huệ Đoan Thân vương (惠端亲王).

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
2004 Thâm cung nội chiến Đặng Tụy Văn Nữu Hỗ Lộc Như Nguyệt (Như phi)
2013 Thâm cung nội chiến 2 Đặng Tụy Văn Nữu Hỗ Lộc Như Nguyệt (Như phi)
2017 Thiên mệnh Hà Diễm Quyên Như tần

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 嘉庆帝晋封如贵人为如嫔册文:册文曰、朕惟椒庭翊化。教妇学于六宫。兰殿承辉。备内官于九室。鸾章光贲。翟采荣增。咨尔贵人钮祜禄氏、德著柔嘉。心存敬慎。协彤闱之礼秩。绳矩明衷。茂紫掖之声华。珩琚合度。是用晋封尔为如嫔。锡之册命。尔其玉齍赞洁。式膺蕃祉于璇闱。珠佩宣勤。益励芳规于绮观。钦哉。
  2. ^ 《清史稿·列传一·后妃》记载:恭顺皇贵妃,钮祜禄氏。嘉庆初,选入宫,为如贵人。累进如妃。宣宗尊为皇考如贵妃,居寿安宫。文宗尊为皇祖如皇贵太妃。薨,年七十四,谥曰恭顺皇贵妃。子一,绵愉。女二,殇。