Sùng Khánh Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sùng Khánh Hoàng thái hậu
崇慶皇太后
Ung Chính Đế Hoàng hậu
Empress XiaoSheng.PNG
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 1735 - 1777
Tiền nhiệm Nhân Thọ hoàng thái hậu
Kế nhiệm Cung Từ Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thế Tông
Ung Chính hoàng đế
Hậu duệ Thanh Cao Tông
Càn Long hoàng đế
Tước hiệu Sùng Đức Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Dụ Thọ Thuần Hi Cung Ý An Kì Ninh Dự hoàng thái hậu
(崇德慈宣康惠敦和裕壽純禧恭懿安祺寧豫皇太后)
Thụy hiệu Hiếu Thánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Thành Huy Nhân Mục Kính Thiên Quang Thánh Hiến Hoàng hậu
(孝聖慈宣康惠敦和誠徽仁穆敬天光聖憲皇后)
Hoàng tộc Nữu Hỗ Lộc
Ái Tân Giác La
Thân phụ Lăng Trụ
Sinh 1 tháng 1, 1693(1693-01-01)
Mất 2 tháng 3, 1777 (84 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc
An táng Thái Đông lăng (泰東陵), thuộc Tây Thanh Mộ, tỉnh Hà Bắc

Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu (chữ Hán: 孝聖憲皇后, Mãn Châu: hiyoošungga enduringge temgetulehe hūwangheo; 1 tháng 1 năm 1693 - 2 tháng 3 năm 1777), thường gọi là Sùng Khánh Hoàng thái hậu (崇慶皇太后), vốn là Quý phi của Thanh Thế Tông Ung Chính hoàng đế. Bà là thân mẫu của Thanh Cao Tông Càn Long hoàng đế và được tôn làm Hoàng thái hậu bởi con trai mình.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thánh hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

Sùng Khánh hoàng thái hậu là người của dòng tộc Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏), thuộc Mãn quân Tương Hoàng Kỳ. Bà là con gái của Nữu Hỗ Lộc Lăng Trụ (凌柱), làm chức Điển nghi hàm Tứ phẩm. Nữu Hỗ Lộc là thị tộc quyền thế bậc nhất, đặc biệt là gia tộc xuất thân của Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu, hoàng hậu thứ hai của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế, nhưng tổ tiên của Sùng Khánh Thái hậu chỉ là một nhánh nhỏ của thị tộc này.

Đến đời cha bà, gia đình sa sút đến mức bình dân vô dị, không khác thường dân là mấy. Điều này giải thích vì sao bà mang họ Nữu Hỗ Lộc danh giá nhưng khi nhập Ung thân vương phủ chỉ với thân phận Cách cách. Những năm Khang Hi tại vị, có lần Ung Thân vương lâm bệnh, vô cùng nguy kịch, Nữu Hỗ Lộc thị ngày đêm hầu hạ thuốc thang, chăm sóc ân cần chu đáo nên sau khi Ung Thân vương bình phục hết sức sủng ái.

Năm Khang Hi thứ 50 (1711), Nữu Hỗ Lộc thị sinh hạ đứa con trai thứ 4 tên Hoằng Lịch, là con trai thứ tư của Ung Thân vương.

Năm Hoằng Lịch 10 tuổi, bà lần đầu theo Ung Thân vương vào bái kiến Khang Hi Đế trong một buổi yến tiệc tại Mẫu Đơn đài - Viên Minh Viên. Khang Hi Đế thấy Hoàng tôn thông minh hơn người thì thập phần yêu thích, liền đón vào cung cho đọc sách, tự mình nuôi nấng, còn không ngớt lời khen ngợi Nữu Hỗ Lộc Cách cách là người có phúc khí. Vì thế, bà được Mẫu bằng tử quý (mẹ quý nhờ con), lại càng được Ung Thân vương ban ân sủng.

Hi quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ung Chính nguyên niên (1723), Ung thân vương lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Ung Chính. Đích phúc tấn Ô Lạt Na Lạp thị được lập làm Hoàng hậu, Trắc phúc tấn Niên thị được lập làm Quý phi, Trắc phúc tấn Lý thị tấn phong làm Tề phi.

Theo thông lệ, những thiếp thất của vị Hoàng đế mới lên ngôi có danh danh vị Trắc phúc tấn mới được sách phong lên các bậc Phi (妃), Quý phi (贵妃) hoặc cao hơn là Hoàng quý phi (皇贵妃); các Cách cách chỉ được sách phong cao nhất là lên bậc Tần (嬪). Tuy vậy, Ung Chính vẫn đặc cách sách phong Nữu Hỗ Lộc thị ngôi vị Hi phi (熹妃) - thuộc hàng Chính tam phẩm. Trong cung, địa vị bà cao thứ 3, sau Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị, Niên Quý phi, ngang hàng với Tề phi. Sau lại thăng Hi quý phi (熹貴妃) - chính nhị phẩm, vào năm 1730.

Năm 1725 Niên Quý Phi qua đời, đến năm 1731 Hoàng Hậu Ô Lạt Na Lạp thị cũng qua đời do bạo bệnh. Lúc bấy giờ, bà là phi tần có địa vị cao nhất trong hậu cung. Tề phi Lý thị do có nhi tử là Tam a ca Hoằng Thời hành vi lỗ mãng, không được lòng Hoàng đế nên dần thất sủng. Hi quý phi nhanh chóng được ban quyền nhiếp quản hậu cung.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Càn Long hầu Thái hậu trong yến tiệc.

Năm Ung Chính thứ 13 (1735), Ung Chính Đế băng hà, Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế vị, niên hiệu Càn Long, tôn bà với địa vị là Thánh mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后), phong hiệu là Sùng Khánh Hoàng thái hậu (崇慶皇太后). Từ Vĩnh Thọ cung (永壽宮) chuyển qua sống ở Thọ Khang cung (壽康宮), sau đó chính thức dời qua Từ Ninh cung (慈宁宫). Càn Long Đế cũng truy tôn ngoại tổ phụ Điển nghi quan Lăng Trụ làm Nhất đẳng Thừa Ân công (一等承恩公), thụy Lương Vinh (良荣); ngoại cao tổ phụ Ngạch Diệc Đằng (额亦腾) và ngoại tằng tổ phụ Ngô Lộc (吴禄) cũng đều truy tặng Thừa Ân công.

Hoàng đế Càn Long rất hiếu thảo với mẹ mình và bà thường theo Càn Long du ngoạn khắp nơi, thường là đến Thẩm Dương và vùng đồng bằng sông Dương Tử. Hoàng đế thường hỏi ý kiến bà trong công việc. Khi đã cao tuổi, Thái hậu không còn nhiều sức khỏe để du ngoạn nữa, Hoàng đế Càn Long đã ngừng tất cả các chuyến đi tuần du và chỉ tuần du trở sau khi Thái hậu qua đời. Huy hiệu của bà cũng được Càn Long Đế gia tôn để thể hiện sự vẻ vang, đến cuối đời toàn xưng Sùng Đức Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Dụ Thọ Thuần Hi Cung Ý An Kì Ninh Dự hoàng thái hậu (崇德慈宣康惠敦和裕壽純禧恭懿安祺寧豫皇太后).

Lễ mừng đại thọ lục tuần (tức sinh nhật lần thứ 60) của Sùng Khánh Hoàng thái hậu vào năm 1753 đã được tổ chức hết sức quy mô. Càn Long ra chỉ trang trí những con đường được từ Bắc Kinh đến Thanh Y viên hết sức lộng lẫy. Càn Long muốn mẫu hậu được ngắm nhìn phong cảnh phương nam nên đã xây dựng con đường này mang đậm phong cách Tô Châu.

Thái giám và các người hầu đóng giả người bán hàng và cả kẻ cắp vặt, để mô phỏng cuộc sống bình thường làm vừa lòng Thái hậu. Ông còn ra chỉ cho soạn nhiều văn thơ ca ngợi Thái hậu với vô vàn mỹ từ được đọc trước các bá quan văn võ. Khi Thanh Y viên được xây cất, người ta đã đào hồ nơi có một hồ nước rất nhỏ, thành hồ rộng lớn ngày nay, bắt chước Tây HồHàng Châu. Càn Long đặt tên hồ là Côn Minh. Người ta dùng đất đào hồ để đắp thành Vạn Thọ Sơn, một công trình vĩ đại.

Năm Càn Long thứ 42 (1777), ngày 2 tháng 3, Hoàng thái hậu qua đời ở Viên Minh viên, hưởng thọ 85 tuổi. Thụy hiệuHiếu Thánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Thành Huy Nhân Mục Kính Thiên Quang Thánh Hiến Hoàng hậu (孝聖慈宣康惠敦和誠徽仁穆敬天光聖憲皇后). Bà được an táng tại Thái Đông lăng (泰東陵) thuộc Thanh Tây lăng, tỉnh Hà Bắc. Lăng của bà riêng biệt, cách Thái lăng (泰陵) của Thế Tông Ung Chính Đế khoảng 1.5 cây số về phía Đông Bắc.

Văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim ảnh truyền hình Diễn viên Nhân vật
1980 Đại nội quần anh Trần Tư Dĩnh Nữu Hỗ Lộc thị
1987 Mãn Thanh thập tam hoàng triều Trần Thái Yến Hi phi
1999 Lý Vệ từ quan Tạ Phương Sùng Khánh hoàng thái hậu
1999,
2003
Hoàn Châu cách cách
phần 2, 3
Triệu Mẫn Phân Sùng Khánh hoàng thái hậu
(xưng hô Lão Phật gia)
1999,
2001,
2004
Bản lĩnh Kỷ Hiểu Lam Phần 1:Triệu Mẫn Phân;
Phần 2: Nghiêm Mẫn Cầu;
Phần 3:Vương Lệ Viên
Sùng Khánh hoàng thái hậu
2002 Càn Long vương triều Lư Yến Sùng Khánh hoàng thái hậu
2004 Hoàng thái tử bí sử Thạch Tiểu Quần Nữu Hỗ Lộc thị
2004 Càn Long và Hương phi Điềm Nữu Sùng Khánh hoàng thái hậu
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Lưu Tuyết Hoa Sùng Khánh hoàng thái hậu
2012 Cung tỏa châu liêm Viên San San Nữu Hỗ Lộc Liên Nhi
2012 Hậu cung Chân Hoàn truyện Tôn Lệ Chân Hoàn / Nữu Hỗ Lộc Chân Hoàn
2017 Hậu cung Như Ý truyện Ô Quân Mai Sùng Khánh hoàng thái hậu

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • The Last Emperors "A Social History of Qing Imperial Institutions", Evelyn S. Rawski. ISBN 0-520-22837-5
  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5
  • Splendors of China's Forbidden City "The glorious reign of Emperor Qianlong" ISBN 1-85894-203-9
  • Draft history of the Qing dynasty《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.世宗孝聖憲皇后.
  • China, The Three Emperors 1662–1795. ISBN 1-903973-69-4 (hardback), edited by Evelyn S. Rawski and Jessica Rawson.
  • http://www.royalark.net/China/manchu8.htm, about the Aisin Gioro family tree

Tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sùng Khánh Hoàng thái hậu
Sinh: , 1 tháng 1 năm 1693 Mất: , 2 tháng 3 năm 1777
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền nhiệm:
Nhân Thọ Hoàng thái hậu
Hoàng thái hậu nhà Thanh
1735–1777
Kế nhiệm:
Cung Từ Hoàng thái hậu