Sùng Khánh Hoàng thái hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sùng Khánh Hoàng thái hậu
崇慶皇太后
Càn Long Đế sinh mẫu
Portrait of the Xiaosheng Empress Dowager.jpg
Hoàng thái hậu Đại Thanh
Tại vị 23 tháng 8, 1735
- 23 tháng 1, 1777
Đăng quang 13 tháng 12, 1735
Tiền nhiệm Nhân Thọ Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Cung Từ Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thế Tông
Ung Chính Hoàng đế
Hậu duệ
Tước hiệu Sùng Khánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Dụ Thọ Thuần Hi Cung Ý An Kì Ninh Dự Hoàng thái hậu
(崇慶慈宣康惠敦和裕壽純禧恭懿安祺寧豫皇太后)
Thụy hiệu Hiếu Thánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Thành Huy Nhân Mục Kính Thiên Quang Thánh Hiến Hoàng hậu
(孝聖慈宣康惠敦和誠徽仁穆敬天光聖憲皇后)
Thân phụ Lăng Trụ
Sinh (1693-01-01)1 tháng 1, 1693
Mất 2 tháng 3, 1777(1777-03-02) (84 tuổi)
Trường Xuân tiên quán, Viên Minh Viên, Bắc Kinh
An táng Thái Đông lăng (泰東陵), thuộc Tây Thanh Mộ, tỉnh Hà Bắc

Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu (chữ Hán: 孝聖憲皇后, tiếng Mãn: ᡥᡳᠶᠣᠣᡧᡠᠩᡤᠠ
ᡝᠨᡩᡠᡵᡳᠩᡤᡝ
ᡨᡝᠮᡤᡝᡨᡠᠯᡝᡥᡝ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡥᡝᠣ
; tiếng Mãn Châu: hiyoošungga enduringge temgetulehe hūwangheo; 1 tháng 1, năm 1693 - 2 tháng 3, năm 1777), thường gọi là Sùng Khánh Hoàng thái hậu (崇慶皇太后), vốn là Quý phi của Thanh Thế Tông Ung Chính Hoàng đế. Bà là thân mẫu của Thanh Cao Tông Càn Long Hoàng đế và được tôn làm Hoàng thái hậu bởi con trai mình.

Bà là Hoàng thái hậu trải qua thời gian tại vị rất lâu, cũng là người thọ nhất trong số các Thái hậu của nhà Thanh. Không chỉ so sánh phạm vi nhà Thanh, mà nếu so với Hiếu Nguyên Hoàng hậu Vương Chính Quân nhà Tây Hán cũng có phần hơn hẳn. Bà có địa vị tối cao, con cháu đầy đàn, Càn Long Đế thời kỳ này cũng là hưng thịnh tột bậc, mọi vinh hoa đều cung phụng Sùng Khánh Thái hậu. So ra, bà là Thái hậu hưởng hết vinh hoa phú quý, thực hiếm có.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Thánh Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

Sùng Khánh Hoàng thái hậu sinh ngày 25 tháng 11 (âm lịch), năm Khang Hi thứ 31 (1692), là người của dòng tộc Nữu Hỗ Lộc thịNúi Trường Bạch, ngọc phả ghi chép là thuộc Mãn quân Tương Hoàng kỳ. Gia tộc bà là một chi xa của đại gia tộc Nữu Hỗ Lộc của Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô, khai quốc công thần thời đầu Đại Thanh, được xưng là "Danh môn trung danh môn", cực kỳ hiển hách. Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu là cháu nội của Ngạch Diệc Đô.

Tằng tổ phụ của bà là Tát Mục Cáp Đồ (萨穆哈图), đương thời là bá phụ của Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô. Tát Mục Cáp Đồ sinh 2 con: Ngạch Diệc Đằng (额亦腾) và Ngô Nột Hách (吴讷赫). Ngạch Diệc Đằng sinh 3 con: Phật Tôn (佛荪), Ngô Lộc (吴禄) và Sát Mục Đạt (察穆达). Ngô Lộc sinh 2 con: Lăng Thái (凌泰) và Lăng Trụ (凌柱). Bà là con gái của Lăng Trụ, làm chức Điển nghi hàm Tứ phẩm, lúc này gia đình gần như là bình dân, không còn là hệ Bát kỳ cao quý. Ngoài ra, trong nhà bà còn có 4 người anh em khác: Y Thông A (伊通阿), Y Tùng A Hòa (伊松阿和), Y Tam Thái (伊三泰) và Y Thân Thái (伊绅泰).

Tuy thuộc thị tộc Nữu Hỗ Lộc nhưng chi của gia đình bà là một chi họ hàng xa, nên dĩ nhiên không thể hưởng vinh quang vốn có từ Hoằng Nghị công phủ Nữu Hỗ Lộc. Đến đời cha bà, gia đình sa sút đến mức bình dân vô dị, không khác thường dân là mấy, loại khỏi Bát kỳ quý tộc xuất thân. Điều này giải thích vì sao bà mang họ Nữu Hỗ Lộc danh giá nhưng khi nhập Ung Bối lặc phủ vào năm Khang Hi thứ 43 (1704) chỉ với thân phận Cách cách, một danh hiệu lịch sự đối với hạng vợ lẽ trong nhà Hoàng tử. Vào lúc này, bà chỉ mới 13 tuổi.

Năm Khang Hi thứ 48 (1709), phục lại Dận Nhưng làm Thái tử, cùng năm cũng phong Ung Bối lặc làm Ung Thân vương. Năm Khang Hi thứ 50 (1711), Nữu Hỗ Lộc thị sinh hạ đứa con trai thứ 4 tên Hoằng Lịch, là con trai thứ tư của Ung Thân vương. Những năm Khang Hi, có lần Ung Thân vương lâm bệnh, vô cùng nguy kịch, Nữu Hỗ Lộc thị ngày đêm hầu hạ thuốc thang, chăm sóc ân cần chu đáo nên sau khi Ung Thân vương bình phục hết sức sủng ái.

Năm Hoằng Lịch 10 tuổi, bà lần đầu theo Ung Thân vương vào bái kiến Khang Hi Đế trong một buổi yến tiệc tại Mẫu Đơn đài - Viên Minh Viên. Khang Hi Đế thấy Hoàng tôn thông minh hơn người thì thập phần yêu thích, liền đón vào cung cho đọc sách, tự mình nuôi nấng. Cách cách Nữu Hỗ Lộc thị do đó được khen ngợi biết dạy con, trong ngoài đều nức tiếng.

Đại Thanh tần phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Khang Hi thứ 61 (1722), Ung Thân vương lên ngôi Hoàng đế, tức Thanh Thế Tông Ung Chính Hoàng đế.

Năm đầu Ung Chính (1723), ngày 4 tháng 2, Hoàng đế ra chỉ, tấn phong Đích Phúc tấn Ô Lạt Na Lạp thị làm Hoàng hậu, Trắc Phúc tấn Niên thị được lập làm Quý phi, Trắc Phúc tấn Lý thị tấn phong làm Tề phi, còn Cách cách Nữu Hỗ Lộc thị làm Hi phi (熹妃).

Ngày 21 tháng 12 năm đó, mệnh Lễ bộ Tả Thị lang Đăng Đức (登德) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Tắc Lăng Ngạch (塞楞额) làm Phó sứ, hành lễ sách tấn phong Hi phi[1]. Sách văn rằng:

Theo thông lệ, những thiếp thất của vị Hoàng đế mới lên ngôi có danh danh vị Trắc Phúc tấn mới được sách phong lên các bậc Phi (妃), Quý phi (贵妃) hoặc cao hơn là Hoàng quý phi (皇贵妃); các Cách cách chỉ được sách phong cao nhất là lên bậc Tần (嬪). Tuy vậy, Ung Chính Đế vẫn đặc cách sách phong Nữu Hỗ Lộc thị ngôi vị Hi phi, thuộc hàng Chính tam phẩm[2], và ban Cảnh Nhân cung (景仁宫) cho bà[3].

Trong cung, địa vị bà cao thứ 3, sau Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị, Niên Quý phi, ngang hàng với Tề phi.

Tên họ thật sự[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Thanh thực lục đời Ung Chính, do chính Đại học sĩ Trương Đình Ngọc biên soạn. Năm đầu Ung Chính, có chỉ dụ:

Trung Quốc đệ nhất lịch sử hồ sơ quán, tại 《Ung Chính triều hán văn chỉ dụ tổng hợp》, đã công bố chỉ dụ đương trong năm Ung Chính, có một chi tiết khác lạ:

Tại đây trong 2 bộ hồ sơ, “Cách cách Tiền thị phong làm Hi phi”, “Cách cách Nữu Hỗ Lộc thị phong làm Hi phi”, nhưng nhìn ra 2 vị Cách cách là từ cùng do Hoàng thái hậu ý chỉ thụ phong làm Hi phi. Dựa theo Thanh cung quy chế mà nói, sắc phong Hoàng phi không thể có trùng phong hiệu, hơn nữa toàn bộ Thanh cung cũng không có khả năng có hai Hi phi, cho nên sẽ xuất hiện loại này giả thiết: 「Từ Tiền thị biến thành Nữu Hỗ Lộc thị」.

Nhìn qua khảo cứu 《Về Càn Long mẹ đẻ mới nhất khảo chứng cuối cùng kết quả - 关于乾隆生母最新考证的最终结果》, tập hồ sơ này có đưa ra một giải thích khá thú vị: “Đương lúc Ung Chính Đế bí mật lập Trữ, vì tăng địa vị của Hoàng thái tử mẫu thân ở Mãn tộc xã hội, có nhớ rằng Ba đồ lỗ Ngạch Diệc Đô từng trợ giúp Nỗ Nhĩ Cáp Xích khai quốc, liền đem Tiền thị bái ba đồ lỗ Ngạch Diệc Đô hậu nhân là Tứ phẩm điển nghi Lăng Trụ làm cha, sửa họ gọi 『Nữu Hỗ Lộc thị』”. Nhưng này thuyết giải cũng có vấn đề, không bài trừ khả năng ghi chép sai xót, như trên dụ viết Tống thị phong Dụ tần, Cảnh thị phong Mậu tần, trong khi hoàn toàn ngược lại.

Nhưng Ung Chính Đế chỉ dụ vốn là quốc gia đại sự, khả năng ghi lại sai xót rất rất ít, không loại trừ khả năng có người đời sau đã động tay động chân, chỉnh sửa tư lịch.

Nghi vấn Hi Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Về chuyện bà có hay không được phong Hi Quý phi (熹貴妃), đến nay vẫn còn nghi vấn. Tuy sử sách có ghi chép bà đã là Hi Quý phi, song giấy tờ chỉ dụ Nội Vụ phủ không ghi lại.

Phi tần triều Ung Chính có địa vị cao quả thật không nhiều, đa phần là người cũ từ Vương phủ thăng lên, duy chỉ có Khiêm phi Lưu thị sinh Hoàng tử Hoằng Chiêm mà trong năm tấn phong, còn lại chỉ là Quý nhân, Thường tại; mà lễ sách phong Quý phi thuộc đại lễ, do thân phận Quý phi chỉ dưới Hoàng hậu, đáng lẽ không thể không lưu lại, thế nhưng trong Nội Vụ phủ tuyệt không ghi lại chỉ dụ tấn phong Quý phi cho bà. Mà theo ấn lệ, tấn phong Quý phi sẽ chế tác kim sách, cũng sẽ có sách văn nội dung cùng sắc phong lễ ghi lại, Lễ bộ, Nội Vụ phủ hẳn là đều sẽ lưu lại sắc dụ, nhưng đến trước mắt không phát hiện bất luận cái gì về Hi phi Nữu Hỗ Lộc thị tấn phong Quý phi sách văn cùng sắc phong lễ ghi lại. Cho nên bà có được phong Hi Quý phi hay không quả thật đáng hoài nghi. Có lẽ, bà tuy chỉ là Hi phi nhưng sớm có đãi ngộ Quý phi chăng?

Năm Ung Chính thứ 3 (1725), Niên Quý Phi qua đời, đến năm thứ 9 (1731) thì Hoàng Hậu Ô Lạt Na Lạp thị cũng tạ thế. Lúc bấy giờ, bà là phi tần có địa vị cao nhất trong hậu cung. Tề phi Lý thị do có nhi tử là Tam a ca Hoằng Thời hành vi lỗ mãng, không được lòng Hoàng đế nên dần thất sủng, Dụ phi Cảnh thị mẹ của Hoằng Trú địa vị không cao, hơn nữa Hoằng Trú lại là con thứ. Hi phi lại có con trai Hoằng Lịch chỉ sau Hoằng Thời, lại sớm được Ung Chính Đế bí mật định làm Trữ quân.

Vị trí chỉ dưới Hoàng hậu, lại là Đế mẫu tương lai, Hi phi dù chưa chính thức tấn phong Quý phi, nhưng đạt được Quý phi cấp bậc đãi ngộ cũng là phù hợp tình lý.

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ung Chính thứ 13 (1735), ngày 23 tháng 8, Ung Chính Đế băng hà, Bảo Thân vương Hoằng Lịch kế vị, tức Thanh Cao Tông Càn Long Hoàng đế.

Tân đế hiếu dưỡng mẫu thân, ra chỉ tôn bà với địa vị là Hoàng thái hậu, thường xưng Thánh mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后). Sang ngày 13 tháng 12 cùng năm, suất Chư vương, Bối lặc, Văn võ đại thần, cẩn dâng tôn phong hiệu là Sùng Khánh Hoàng thái hậu (崇慶皇太后)[4][5].

Sách tôn viết rằng:

Lúc bấy giờ, Càn Long Đế ở Càn Thanh cung lo liệu tang nghi cho Đại hành Hoàng đế, nên Hoàng thái hậu có một thời gian tạm cư ở Vĩnh Thọ cung (永壽宮) để tiện việc thỉnh an. Sau đó, bà chuyển qua sống ở Thọ Khang cung (壽康宮).

Càn Long Đế cũng truy tôn ngoại tổ phụ Điển nghi quan Lăng Trụ làm Nhất đẳng Thừa Ân công (一等承恩公), thụy Lương Vinh (良荣); ngoại cao tổ phụ Ngạch Diệc Đằng (额亦腾) và ngoại tằng tổ phụ Ngô Lộc (吴禄) cũng đều truy tặng Thừa Ân công, các phu nhân nữ quyến đều tặng Cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân. Các anh em trai của bà cũng được trọng dụng, Y Thông A được nhậm Tán trật đại thần kiêm Tá lĩnh, Y Tùng A HòaY Tam Thái đều nhậm Nhị đẳng Thị vệ, Y Thân Thái nhậm Linh Lam Thị vệ. Ngoài ra, theo Khâm định Bát Kỳ thông chí (钦定八旗通志), lúc này Càn Long Đế muốn khuếch trương mẫu gia, vốn dòng họ bà còn không thuộc kỳ nào, nay nhập Tương Hoàng kỳ, làm một hệ của Hoằng Nghị công Ngạch Diệc Đô.

Hoàng đế Càn Long rất hiếu thảo với mẹ mình và bà thường theo Càn Long du ngoạn khắp nơi, thường là đến Thẩm Dương và vùng đồng bằng sông Dương Tử. Hoàng đế thường hỏi ý kiến bà trong công việc. Khi đã cao tuổi, Thái hậu không còn nhiều sức khỏe để du ngoạn nữa, Hoàng đế Càn Long đã ngừng tất cả các chuyến đi tuần du và chỉ tuần du trở sau khi Thái hậu qua đời. Huy hiệu của bà cũng được Càn Long Đế gia tôn để thể hiện sự vẻ vang, đến cuối đời toàn xưng Sùng Khánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Dụ Thọ Thuần Hi Cung Ý An Kì Ninh Dự Hoàng thái hậu (崇慶慈宣康惠敦和裕壽純禧恭懿安祺寧豫皇太后).

Hoàng đế Càn Long hầu Thái hậu trong yến tiệc.

Lễ mừng đại thọ lục tuần (tức sinh nhật lần thứ 60) của Sùng Khánh Hoàng thái hậu vào năm 1753 đã được tổ chức hết sức quy mô. Càn Long ra chỉ trang trí những con đường được từ Bắc Kinh đến Thanh Y viên hết sức lộng lẫy. Càn Long muốn mẫu hậu được ngắm nhìn phong cảnh phương nam nên đã xây dựng con đường này mang đậm phong cách Tô Châu.

Thái giám và các người hầu đóng giả người bán hàng và cả kẻ cắp vặt, để mô phỏng cuộc sống bình thường làm vừa lòng Thái hậu. Ông còn ra chỉ cho soạn nhiều văn thơ ca ngợi Thái hậu với vô vàn mỹ từ được đọc trước các bá quan văn võ. Khi Thanh Y viên được xây cất, người ta đã đào hồ nơi có một hồ nước rất nhỏ, thành hồ rộng lớn ngày nay, bắt chước Tây HồHàng Châu. Càn Long đặt tên hồ là Côn Minh. Người ta dùng đất đào hồ để đắp thành Vạn Thọ Sơn, một công trình vĩ đại.

Đại thọ lần thứ 80 của bà, Càn Long cho trùng tu Từ Ninh cung (慈宁宫), thỉnh Hoàng thái hậu và Hoàng khảo Dụ Quý Thái phi nhập cư. Suốt triều Thanh, bà là một trong hai chủ nhân duy nhất của Từ Ninh cung, ngoài Hiếu Trang Văn Hoàng hậu[7]. Ngoài ra đây chỉ là nơi tổ chức trọng đại điển lễ, như Hoàng thái hậu mừng thọ, Công chúa cưới hỏi...

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Càn Long thứ 42 (1777), ngày 8 tháng 1, Càn Long Đế phụng Thái hậu đi Viên Minh Viên, Hoàng thái hậu dừng chân tại đó, cơ hồ đều ở Trường Xuân tiên quán (长春仙馆), vì nơi đây rất gần với nơi Hoàng đế xử lý chính sự là Chính Đại Quang Minh điện (正大光明殿), cũng như tẩm điện là Cửu Châu Thanh yến (九洲清宴).

Ngày 9 tháng 1, Càn Long Đế bồi Hoàng thái hậu ở Cửu Châu Thanh Yến một bên dùng cơm, một bên chiêm ngưỡng ngày hội đèn dầu, phi tần cùng Hoàng tử, các Hoàng tôn cũng đều hầu hạ ở bên. Càn Long Đế thấy Hoàng thái hậu “Từ nhan khang dự, không giảm hàng năm”, phi thường cao hứng. Năm đó, Hoàng thái hậu 86 tuổi, Càn Long Đế 67 tuổi. Hoàng đế nghĩ khi Hoàng thái hậu 90 tuổi đại thọ, chính mình cũng là 71 tuổi lão nhân. Khi đó nhất định phải vì Hoàng thái hậu mà tổ chức long trọng lễ mừng.

Ngày 14 tháng 1, Hoàng đế nghe thấy Hoàng thái hậu không khỏe, tức tốc đến Trường Xuân tiên quán hầu hạ, vào buổi tối còn bồi hầu Thái hậu cơm tối, không hề lơi là. Hoàng thái hậu ngay lúc đó bệnh tình cũng không nghiêm trọng, chỉ là ngẫu nhiên không khoẻ. Không quá mấy ngày, bệnh tình lặp lại, hơn nữa so kì trước còn tăng thêm. Hoàng thái hậu không nghĩ đem bệnh tình chuyển biến xấu cho Hoàng đế biết, chỉ làm cho nhi tử phiền lòng, ảnh hưởng lý chính, cho nên khi Hoàng đế vấn, cố ý đàm tiếu như thường.

Đến ngày 22 tháng 1, bệnh tình của Thái hậu đã chuyển biến nghiêm trọng. Ngày này, Càn Long Đế vấn an mẫu thân hai lần. Đêm đó, Hoàng thái hậu đã tiến vào trạng thái hấp hối. Càn Long Đế chờ đợi ở bên. Rồi sang ngày 23 tháng 1 (tức ngày 2 tháng 3 dương lịch), Hoàng thái hậu qua đời ở Trường Xuân tiên quán tại Viên Minh viên, hưởng thọ 85 tuổi. Bà trở thành vị Hoàng thái hậu thọ nhất của nhà Thanh.

Tháng 3, Càn Long Đế đích thân cử hành đại lễ dâng thụy tại Thái Hòa môn, kính cẩn sách tôn thụy hiệu cho Hoàng thái hậu là Hiếu Thánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Kính Thiên Quang Thánh Hiến Hoàng hậu (孝聖慈宣康惠敦和敬天光聖憲皇后)[8].

Sách thụy rằng:

Càn Long Đế từ trước đó đã quyết định xây một ngôi mộ riêng cho mẫu thân, đó là Thái Đông lăng (泰東陵) thuộc Thanh Tây lăng, tỉnh Hà Bắc. Lăng mộ này quy mô hoành tráng, cách Thái lăng (泰陵) của Thế Tông Ung Chính Đế khoảng 1.5 cây số về phía Đông Bắc. Chỉ đợi khi Hoàng thái hậu quy thiên, sẽ đưa về đấy. Bên cạnh đó, ngày 26 tháng 2, Càn Long Đế vẫn muốn vì Thái hậu mà làm nên một bảo tháp bằng vàng, dùng để đựng những cọng tóc rụng trên lược chải của bà mỗi ngày.

Vào mỗi ngày đại lễ tang giá cử hành, Càn Long Đế thân đã gần 70 tuổi, nhưng vẫn rất mực cung kính mẹ đẻ, đều đích thân đến tế tang, tế rượu, tế điện. Các quan viên đều sợ ảnh hưởng thân thể Hoàng đế, nên kiến nghị cử người đi thay, nhưng Càn Long Đế vẫn một mực từ chối.

Ngày 18 tháng 4, Càn Long Đế bồi hầu kim quan của Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu đến Thái Đông lăng, sau đó vào Thái lăng tế bái Thanh Thế Tông. Tháng 5, thần vị Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu nhập phụ Thái miếu. Tháng 10, bảo tháp vàng làm xong. Ngày 3 tháng 11, Càn Long Đế hạ lệnh đem tóc của Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu đặt vào bên trong, rồi đem tháp vàng đặt ở Đông Phật đường ở Thọ Khang cung, tiếp tục vì Hiếu Thánh Hiến Hoàng hậu ở thế giới bên kia mà cầu phúc.

Qua các đời sau, thụy hiệu đầy đủ của bà là: Hiếu Thánh Từ Tuyên Khang Huệ Đôn Hòa Thành Huy Nhân Mục Kính Thiên Quang Thánh Hiến Hoàng hậu (孝聖慈宣康惠敦和誠徽仁穆敬天光聖憲皇后).

Văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim ảnh truyền hình Diễn viên Nhân vật
1980 Đại nội quần anh Trần Tư Dĩnh Nữu Hỗ Lộc thị
1987 Mãn Thanh thập tam hoàng triều Trần Thái Yến Hi phi
1999 Lý Vệ từ quan Tạ Phương Sùng Khánh Hoàng thái hậu
1999,
2003
Hoàn Châu cách cách
phần 2, 3
Triệu Mẫn Phân Hoàng thái hậu
(xưng hô Lão Phật gia)
1999,
2001,
2004
Bản lĩnh Kỷ Hiểu Lam Phần 1:Triệu Mẫn Phân;
Phần 2: Nghiêm Mẫn Cầu;
Phần 3:Vương Lệ Viên
Hoàng thái hậu
2002 Càn Long vương triều Lư Yến Hoàng thái hậu
2004 Hoàng thái tử bí sử Thạch Tiểu Quần Nữu Hỗ Lộc thị
2004 Càn Long và Hương phi Điềm Nữu Hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc thị
2011 Tân Hoàn Châu cách cách Lưu Tuyết Hoa Hoàng thái hậu
(xưng hô Lão Phật gia)
2012 Cung tỏa châu liêm Viên San San Nữu Hỗ Lộc Liên Nhi
2012 Hậu cung Chân Hoàn truyện Tôn Lệ Chân Hoàn/Nữu Hỗ Lộc Chân Hoàn
2018 Hậu cung Như Ý truyện Ô Quân Mai Sùng Khánh Hoàng thái hậu Nữu Hỗ Lộc Chân Hoàn
2018 Diên Hi công lược Tống Xuân Lệ Sùng Khánh Hoàng thái hậu
2018 Thiên Mệnh Lương Thuấn Yến Sùng Khánh Hoàng thái hậu

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 清实录雍正朝实录-雍正实录卷之十四:雍正元年。癸卯。十二月。丙寅。以册立皇后、及册封贵妃、齐妃、熹妃。上亲诣奉先殿、行告祭礼丁卯。上御太和殿。命太保吏部尚书公隆科多、为正使。领侍卫内大臣马武、为副使。持节赍册宝。册立嫡妃那拉氏为皇后。册文曰。朕惟道原天地。乾始必赖乎坤成。化洽家邦。外治恒资乎内职。既应符而作配。宜正位以居尊。咨尔嫡妃那拉氏、祥钟华胄。秀毓名门。温惠秉心。柔嘉表度。六行悉备。久昭淑德于宫中。四教弘宣。允合母仪于天下。曾奉皇太后慈命、以册宝立尔为皇后。尔其承颜思孝。务必敬而必诚。逮下为仁。益克勤而克俭。恪共祀事。聿观福履之成。勉嗣徽音。用赞和平之治。钦哉   ○命文华殿大学士嵩祝、为正使。礼部右侍郎三泰、为副使。持节、册封贵妃。册文曰。朕惟起化璇闱。爰赖赞襄之职。协宣坤教。允推淑慎之贤。聿考彝章。式崇位序。咨尔妃年氏、笃生令族。丕著芳声。赋质温良。持躬端肃。凛箴规于图史。克俭克勤。表仪范于珩璜。有典有则。曾仰承皇太后慈谕、以册宝封尔为贵妃。尔其时怀祇。敬。承庆泽之方新。益懋柔嘉。衍鸿庥于有永。钦哉   ○命保和殿大学士马齐、为正使。都察院左都御史尹泰、为副使。持节、册封齐妃。册文曰。朕惟教始宫闱。端重肃雝之范。礼崇位号。实资翊赞之功。锡以纶言。光兹懿典。咨尔妃李氏、持躬淑慎。秉性安和。纳顺罔愆。合珩璜之矩度。服勤有素。膺褕翟之光荣。曾仰承皇太后慈谕、以册印封尔为齐妃。尔其益懋温恭。尚祗承夫嘉命。弥怀谦抑。庶永集夫繁禧。钦哉   ○命礼部左侍郎登德、为正使。内阁学士塞楞额、为副使。持节、册封熹妃。册文曰。朕惟赞宫庭而衍庆。端赖柔嘉。班位号以分荣。丕昭淑惠。珩璜有则。纶綍用宣。咨尔格格钮祜鲁氏、毓质名门。扬休令问。温恭懋著。夙效顺而无违。礼教克<女间>。益勤修而罔怠。曾仰承皇太后慈谕、以册印封尔为熹妃。尔其祗膺巽命。迓景福以咸绥。翊辅坤仪。荷鸿庥于方永。钦哉   ○命兵部右侍郎牛钮、为正使。礼部右侍郎蒋廷锡、为副使。持节、册封懋嫔。册文曰。朕惟协赞坤仪。用懋珩璜之德。佐宣内治。必资柔顺之贤。爰考彝章。式隆新典。咨尔格格宋氏、臧嘉成性。著淑问于璇宫。敬慎持躬。树芳名于椒掖。曾仰承皇太后慈谕、册封尔为懋嫔。尔其祗承象服。昭勤俭而化翼宫闱。永荷鸿庥。履谦和而诞膺纶綍。钦哉   ○命吏部左侍郎巴泰、为正使。礼部左侍郎王景曾、为副使。持节、册封裕嫔。册文曰。朕惟化理肇自闺闱。令仪是式。功容凛夫图史。礼秩攸崇。爰贲徽章。用昭彝典。咨尔格格耿氏、克叶柔嘉。早推淑慎。允合珩璜之度。宜膺象服之荣。曾仰承皇太后慈谕、册封尔为裕嫔。尔其聿修懿行。迓景福于方来。式佩纶言。荷洪禧于勿替。钦哉
  2. ^ 《清世宗实录》:(雍正元年二月)甲子, 谕礼部: 奉皇太后懿旨: 侧妃年氏封为贵妃, 侧妃李氏封为齐妃, 格格钮祜禄氏封为熹妃, 格格宋氏封为懋嫔, 格格耿氏封为裕嫔。尔部察例具奏。
  3. ^ “景仁宫”. 
  4. ^ 『乾隆實錄』○諭總理事務王大臣。皇考遺命。以朕纘承大統。應行尊奉妃母典禮。著察奏。議上。諭曰、妃母尊稱皇太后、是。至朕之元妃。豈敢遽爾稱後。爾諸王大臣、既援引古禮。面奏再三。著請皇太后懿旨。奏入。尋奉皇太后懿旨。大行皇帝將大任付與皇帝。自應照典禮行。
  5. ^ 清实录乾隆朝实录 - 卷之八:雍正十三年。乙卯。十二月。己卯。以尊上崇庆皇太后尊号。颁诏天下。诏曰、朕惟自古帝王。膺图御宇。溯风化之有基。教由慈壸。展显扬之夙志。礼重隆称。尧母纪美于陶唐。太姒表徽于姬室。彝伦钜典。熙代鸿规。钦惟圣母皇太后。德协乾元。恩侔坤厚。温恭秉性。聿彰蔼吉之音。俭约持躬。并赞肃雝之化。奉庭闱而笃孝。孚鉴天心。居宫掖以宣勤。恪襄内治。佐我皇考重华之盛烈。启予国家奕叶之休嘉。诞育藐躬。备劳抚鞠。恩施覃厚。推仁惠以垂谟。牖迪维周。本诗书而示训。畴昔感深母教。长黾勉于一心。今兹仰答慈徽。共尊亲者万国。矧昇平之永庆。喜福祉之懋膺。亿兆嵩呼。近依殿陛。梯航云集。远贡共球。用抒臣子之诚。敬效尊隆之典。礼仪具肃。咨考佥同。祗告天、地、宗庙、社、稷。于雍正十三年十二月十三日。率诸王、贝勒、大臣、文武群臣。谨奉册宝。恭上皇太后尊号。曰、崇庆皇太后。欢愉并洽于宫庭。膏泽宜均于海宇。所有事宜。开列于后。一、在内亲王之福晋以下。公之妻以上。著加恩赐。一、外藩蒙古诸王之福晋以下。公之妻以上。著加恩赐。一、民公侯伯以下。二品大臣以上命妇。著加恩赐。一、从前尚过公主格格之额驸等、照伊等品级。著加恩赐。一、从前恩诏后。升职加衔补官者。悉照现在职衔。给与封典。一、在京文官四品以上。武官三品以上。著各加一级。一、在京王公文武官员。任内有降级罚俸住俸者、咸与开复。又在京官员。现在议降议罚者、悉与豁免。一、外藩蒙古王公以下。台吉以上。有罚俸住俸者、咸与开复。其现在议罚者、悉与豁免。一、京城巡捕三营兵丁、著加恩赏给一月钱粮。一、除十恶不赦外。犯法妇人、尽行赦免。一、上三旗包衣佐领下拜唐阿及太监等、著赏给一月钱粮。一、上三旗辛者库当差妇人、著酌议赏赐。一、罚赎积谷、原以备赈。冬月严寒、鳏寡孤独贫民、无以为生。著直省各督抚令有司、务将积谷酌量赈济。毋令奸民假冒支领。一、各处效力赎罪人员、向无定限。多致苦累。殊堪矜悯。著该管官、查系已满三年者。声明犯罪缘由、奏请酌量宽免。一、内务府庄头等、所有累年积欠、在雍正十二年前者。著查明请旨豁免。于戏。隆名丕峻。铭苕琬以扬庥。纯嘏弥增。溥夤埏而锡福。布告天下。咸使闻知。
  6. ^ 戊寅。恭上皇太后尊号册宝。上礼服、于太和殿恭阅册宝。毕。奉安于彩亭上。前行。上升舆。随后。由右翼门、至永康左门。上降舆。行至慈宁门外。东旁立。册宝仍设于正中黄案上。皇太后礼服。升慈宁宫座。仪驾全设。中和乐设而不作。上诣正中拜位。跪。左旁大学士捧册宝。依次跪进。上受。恭献。授右旁大学士跪接。置正中黄案上。宣读官捧起、跪宣册文。曰、慈恩垂裕。九重隆尊养之仪。鸿号扬庥。万国仰崇高之福。欢腾宫壸。庆溢寰灜。钦惟母后皇太后、德协坤元。功符地载。宽仁逮下。溥惠爱之宏慈。淑慎持躬。著温恭之令范。承皇考而赞襄内治。俭勤昭浣濯之风。鞠藐躬而备笃母仪。言动示诗书之教。属丕图之肇缵。忻福履之方长。仰荷恩勤。敬稽盛典。合四海以致养。期永奉夫崇徽。总百禄以承欢。冀溥沾夫庆泽。肃循经礼。虔展悃忱。谨告天、地、宗庙、社、稷。率诸王、贝勒、文武群臣。恭奉册宝。上徽号曰。崇庆皇太后。伏愿纯嘏茂膺。寿祺多益。彤廷宝册。鸿名并高厚以无疆。紫极春晖。爱日与升恒而俱永。臣诚欢诚忭、稽首顿首、谨言。上行九拜礼。毕。复原位立。皇太后还宫。上出。升舆。还宫。
  7. ^ “探秘故宫“秘境”:太后们不敢住慈宁宫”. 
  8. ^ 清实录乾隆朝实录 - 卷之一千二十九: 乾隆四十二年。丁酉。三月。壬午。恭上大行皇太后尊谥。上素服。诣太和门。恭阅册、宝。行三拜礼。由别道出神武门豫诣畅春园大宫门外幄次。易缟素、祇俟。册宝至。跪迎。随入。届时。上就拜位。率群臣行九拜礼。兴。跪进册、宝。上行九拜礼。迺行致祭礼。奠帛。读祝。三献爵。均如仪。礼成。
  9. ^ 清实录乾隆朝实录-卷之一千二十九: 乾隆四十二年。丁酉。三月。
  • The Last Emperors "A Social History of Qing Imperial Institutions", Evelyn S. Rawski. ISBN 0-520-22837-5
  • Daily Life in the Forbidden City, Wan Yi, Wang Shuqing, Lu Yanzhen ISBN 0-670-81164-5
  • Splendors of China's Forbidden City "The glorious reign of Emperor Qianlong" ISBN 1-85894-203-9
  • Draft history of the Qing dynasty《清史稿》卷二百十四.列傳一.后妃傳.世宗孝聖憲皇后.
  • China, The Three Emperors 1662–1795. ISBN 1-903973-69-4 (hardback), edited by Evelyn S. Rawski and Jessica Rawson.
  • http://www.royalark.net/China/manchu8.htm, about the Aisin Gioro family tree