Đa Nhĩ Cổn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đa Nhĩ Cổn
多爾袞
Đại Thanh Nhiếp chính vương
Dorgon, the Prince Rui (17th century).jpg
Nhiếp chính vương Đại Thanh
Tại vị 8 tháng 10, 164331 tháng 12, 1650
(7 năm, 84 ngày)
Tiền nhiệm Chức vụ được thành lập
Kế nhiệm Chức vụ bị bãi bỏ
Thông tin chung
Phối ngẫu Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị
Hậu duệ Đổng Ngạch (con gái)
Đa Nhĩ Bác (con nuôi)
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Đa Nhĩ Cổn
(愛新覺羅·多爾袞)
Thụy hiệu Mậu Đức Tu Đạo Quảng Nghiệp Định Công An Dân Lập Chính Thành Kính Nghĩa Hoàng đế
(懋德修道廣業定功安民立政誠敬義皇帝)[1]
Hòa Thạc Duệ Trung thân vương
(和碩睿忠親王)[2]
Miếu hiệu Thành Tông (成宗)
(bị tước bỏ năm 1651)
Hoàng tộc Ái Tân Giác La
Thân phụ Thanh Thái Tổ
Thân mẫu Hiếu Liệt Vũ hoàng hậu
Sinh 17 tháng 11, 1612(1612-11-17)
Hách Đồ A Lạp (nay là Tân Tân, Phủ Thuận, Liêu Ninh)
Mất 31 tháng 12, 1650 (38 tuổi)
Khách Lạt thành (nay là Thừa Đức, Hà Bắc)

Đa Nhĩ Cổn (chữ Hán: 多爾袞; Mãn Châu: Dorgon.png; 17 tháng 11, 161231 tháng 12, 1650), còn gọi Duệ Trung thân vương (睿忠親王), là một chính trị gia, hoàng tử và là một Nhiếp chính vương có ảnh hưởng lớn trong thời kì đầu nhà Thanh.

Ông giữ ngôi vị Đại Thanh Hoàng phụ Nhiếp Chính vương (大清皇父摄政王), toàn quyền nhiếp chính triều chánh dưới thời Thanh Thế Tổ Thuận Trị hoàng đế. Bằng tài năng vượt trội của mình, ông đã giúp quân Thanh thuận lợi vào Sơn Hải quan tấn công quân Lý Tự Thành và đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh, đặt nền móng vững chắc cho triều đại nhà Thanh thống nhất Trung Hoa.

Vì ảnh hưởng quá lớn, sau khi chết ông thậm chí được truy tặng thụy hiệu Nghĩa hoàng đế (義皇帝), khiến Thuận Trị Đế phải lạy 3 lạy trước mộ phần. Nhưng một năm sau, Thuận Trị Đế giữ trong tay cáo trạng tội của ông, khiến ông bị hủy mộ phần và tước đoạt danh hiệu. Mãi đến những năm Khang Hi, ông mới được khôi phục danh dự và được thờ phụng như một hoàng thân trung thành của Đại Thanh.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn sinh ngày 17 tháng 11 năm Vạn Lịch thứ 40 (1612), tại Hách Đồ A Lạp, Mãn Châu (nay là Tân Tân, tỉnh Liêu Ninh). Ông là con trai thứ 14 của thủ lĩnh người Nữ Chân Nỗ Nhĩ Cáp Xích, và là con thứ hai của ông với A Ba Hợi, người bộ tộc Ô Lạp Ná Lạp, một trong những sủng thiếp của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Ông có 2 người anh em ruột là A Tế Cách (anh trai, thứ 12) và Đa Đạc (em trai, thứ 15). Hoàng Thái Cực, người mà sau này trở thành Hoàng đế, là anh trai thứ 8 và là người anh cùng cha khác mẹ của Đa Nhĩ Cổn.

Như những người anh em của mình, Đa Nhĩ Cổn bắt đầu dùng họ Ái Tân Giác La vào khoảng năm 1616, khi cha ông lên ngôi Đại Hãn Hậu Kim. Mẹ ông tuy khởi đầu chỉ là một Trắc phúc tấn, nhưng lại rất được cha ông sủng ái. Năm 1620, Trắc phúc tấn A Ba Hợi được lập lên ngôi vị Đại phúc tấn của Đại Hãn. Cả 3 anh em Đa Nhĩ Cổn đều có được sự ưu ái đặc biệt của Đại Hãn.

Bất lực trong cuộc chiến giành quyền lực lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1627, Nỗ Nhĩ Cáp Xích chết nhưng chưa kịp chỉ định người kế vị. Ông ta chỉ mới kịp giao cho người vợ A Ba Hợi sủng ái của mình quyền lãnh đạo 3 kỳ trực tiếp lãnh đạo để chia cho 3 người con của bà. Bằng những thủ đoạn chính trị, vị hoàng tử thứ 8 Hoàng Thái Cực đã tranh thủ được sự ủng hộ của các thủ lĩnh bộ lạc lên ngôi Đại Hãn.

Tương truyền, ngay sau khi lên ngôi, Hoàng Thái Cực đã hợp cùng với các vị Đại bối lặc lớn tuổi, bức A Ba Hợi phải tự sát với lý do theo di chúc của vua cha muốn tuẫn táng cùng bà. Sau đó, ông phân chia các kỳ cho các con trai của bà như sau: A Tế Cách nắm Chính Lam kỳ, Đa Nhĩ Cổn nắm Chính Hoàng kỳ, Đa Đạc được giao Tương Hoàng Kỳ. Không lâu sau, đến lượt A Tế Cách bị đoạt binh quyền. Đa Nhĩ Cổn lúc này còn quá nhỏ, bất lực trước tình hình, xem như mất hẳn quyền kế vị. Tuy nhiên, ông xác định tạm nén mình ẩn nhẫn, dùng chiến công để xây dựng lại thế lực, chờ thời cơ để đoạt lại ngôi vị Đại Hãn.

Từng bước xây dựng thế lực[sửa | sửa mã nguồn]

Chính thái độ ẩn nhẫn của Đa Nhĩ Cổn đã giúp ông thoát khỏi hàng loạt vụ thanh trừng của anh mình. Tuy vậy, nhằm đề phòng ảnh hưởng của anh em Đa Nhĩ Cổn, sau khi lên ngôi Hoàng đế Đại Thanh, năm 1636, Hoàng Thái Cực thu lại quyền lãnh đạo 2 Hoàng kỳ vốn rất trung thành với vua cha, đang thuộc quyền lãnh đạo của anh em Đa Nhĩ Cổn, với lý do đây là những Kỳ thuộc quyền Hoàng đế. Để xoa dịu, ông ta đổi lại 2 Bạch kỳ vốn trung thành với mình và phong cho Đa Nhĩ Cổn làm Hòa Thạc Duệ Thân vương (和碩睿親王).

Nhận thấy thời cơ vẫn chưa chín muồi, Đa Nhĩ Cổn đành nuốt hận. Ông nhẫn nhịn theo phò Đại Hãn Nam chinh Bắc chiến, thu phục Triều Tiên, chinh phạt Mông Cổ, nhiều lần đem quân đánh nhà Minh. Khi Hoàng Thái Cực chết, hai Kỳ Trắng do anh em ông lãnh đạo đã mở rộng dần từ 50 Niru (tức khoảng 15.000 người) lên đến 65 Niru (khoảng 19.500 người), chiếm hơn 31% quân số của Bát Kỳ.

Cuộc chiến quyền lực lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Với thế lực hùng mạnh, sau khi Hoàng Thái Cực chết vào năm 1643, Đa Nhĩ Cổn lao vào cuộc tranh giành đế vị với Hào Cách, con trưởng của Hoàng Thái Cực. Tuy Hào Cách là người thiếu quyết đoán, thế lực chỉ gồm 61 Niru, nhưng lại có được sự ủng hộ của các Đại bối lặc khác là Đại ThiệnTế Nhĩ Cáp Lãng. Lực lượng của 3 người hợp lại có khoảng 145 Niru (khoảng 43.500 người). Cộng thêm ảnh hưởng do công lao của Hoàng Thái Cực quá lớn, Đa Nhĩ Cổn không thể thực hiện thành công ý định. Ông đành chấp nhận giải pháp thỏa hiệp là phò lập con thứ 9 của Hoàng Thái Cực mới 6 tuổi là Phúc Lâm lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Trị. Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn và Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng phụ chính.

Trên thực tế, Tế Nhĩ Cáp Lãng dù là một tướng lĩnh quân sự tài giỏi nhưng lại không quan tâm nhiều đến chính trị. Quyền hành chính trị nhanh chóng do một mình Đa Nhĩ Cổn quyết định thay mặt cho Thuận Trị Đế và trở thành một Hoàng đế không ngai cho đến khi chết.

Hoàn tất chinh phạt Trung Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1644, Tổng binh Sơn Hải Quan Ngô Tam Quế đề nghị quân Thanh liên minh nhằm đánh lại quân Lý Tự Thành. Nhận thấy đây là một cơ hội ngàn vàng để thâm nhập Trung nguyên, Đa Nhĩ Cổn chỉ huy quân Thanh tiến vào quan ải, hợp binh với Ngô Tam Quế đánh bại Lý Tự Thành. Sau khi chiếm được thành Bắc Kinh, ông cùng các quan lại nhà Thanh làm đại lễ đăng quang cho Thuận Trị tại Tử Cấm Thành.

Bên cạnh đó, với lý do thiên hạ còn chưa yên, ông sai các tướng nhà Minh tiếp tục đi đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh và quân khởi nghĩa chống Thanh, dưới sự kiểm soát của ông. Giao ước liên minh thực chất bị xóa bỏ, không lâu sau, khi các thế lực chống Thanh bị dẹp yên về cơ bản, ông phong các tướng lĩnh nhà Minh đầu hàng chức quan của nhà Thanh, buộc cạo nửa đầu thắt bím, hợp thức hóa quyền thống trị của nhà Thanh trên toàn cõi Trung Hoa. Cũng với biện pháp này, ông buộc tất cả mọi người dân Hán dưới quyền kiểm soát của nhà Thanh đều phải cạo đầu thắt bím, tuần tự đồng hóa với người Mãn Châu. Những nơi chống đối, ông cho thực hiện những biện pháp tàn sát để buộc người dân phải quy phục.

Uy quyền của Đa Nhĩ Cổn trở nên tột đỉnh, khi ông chỉ cần lợi dụng một thế cờ mà dễ dàng lấy được cả giang sơn Trung Hoa về cho nhà Thanh. Năm 1645, ông được phong làm Hoàng Thúc Phụ Nhiếp Chính vương (皇叔父攝政王). Không lâu sau đó, năm 1648, ông được gia phong trở thành Hoàng Phụ Nhiếp Chính vương (皇父攝政王).

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn đột ngột qua đời trong một chuyến đi săn vào ngày 31 tháng 12 năm Thuận Trị thứ 8 (1650) ở tuổi 38 tại Khách Lạt thành (nay là Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc).

Ông được Thuận Trị Đế tôn phong thụy hiệu Hoàng đế, điều mà chỉ duy nhất có ở nhà Thanh. Miếu hiệu của ông là Thành Tông (成宗), thụy hiệu của ông là Mậu Đức Tu Viễn Quảng Nghiệp Định Công An Dân Lập Chính Thành Kính Nghĩa hoàng đế (懋德修遠廣業定功安民立政誠敬義皇帝). Ngay cả Thuận Trị Đế đã phải lạy ba lần trước mộ phần của Đa Nhĩ Cổn.

Bị trừng phạt và phục hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đa Nhĩ Cổn 15 tuổi chứng kiến mẹ ruột bị bức tử, bị tước mất quyền kế vị Đại Hãn. Cả đời ông luôn nhẫn nhịn để tìm cách đoạt lại ngôi vị Hoàng đế nhưng chưa thực hiện được thì đã qua đời. Dù vậy, khi trở thành Nhiếp chính vương và chiếm được Bắc Kinh, ông đã tự cho phép mình sử dụng những nghi vệ long trọng, vốn chỉ danh cho Hoàng đế. Bên cạnh đó, tương truyền ông đã cưới Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu, tuy nhiên giả thuyết này vẫn còn được tranh cãi, trở thành một trong 4 bí ẩn lớn của nhà Thanh. Tất cả những điều này làm cho vị vua trẻ Thuận Trị hết sức không hài lòng.

Vì vậy, chỉ 1 năm sau khi ông qua đời (1651), những thế lực chống lại Đa Nhĩ Cổn, đứng đầu là cựu đồng Nhiếp chính vương, Hòa Thạc Trịnh Thân Vương Tế Nhĩ Cáp Lãng, vốn bị Đa Nhĩ Cổn tước vị Nhiếp chính vào năm 1647, đã trình cho hoàng đế một danh sách dài các tội của Đa Nhĩ Cổn, bao gồm: Bí mật may hoàng bào (tuyệt đối chỉ dùng cho hoàng đế); Bày mưu cướp ngai vàng của Thuận Trị; Tự phong Hoàng phụ; giết Hào Cách và cướp thê thiếp của ông ta cho mình, v..v... Nhiều người tin rằng Đa Nhĩ Cổn đã sắp đặt cuộc chiến giành quyền lực với hoàng đế Thuận Trị khi Hoàng đế đã sang tuổi trưởng thành. Nên khi các thế lực chống Đa Nhĩ Cổn giành được quyền lực, hoàng đế Thuận Trị đã tước mọi danh hiệu của Đa Nhĩ Cổn và còn đánh vào cả quan tài.

Ông được phục hiệu trong thời Khang HiCàn Long, thụy là Hòa Thạc Duệ Trung thân vương (和碩睿忠親王).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thê thiếp:
  1. Đích phúc tấn: Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏; ? - 1650), Mông Cổ Khoa Nhĩ Thấm bộ tộc xuất thân, con gái của Cát Tang A Nhĩ Trại (吉桑阿爾寨). Dã xử xưng gọi Tiểu Ngọc Nhi (小玉儿), chị em họ với Hiếu Trang Văn Hoàng hậu, nhưng không có cứ liệu chứng thực. Bà mất trước Đa Nhĩ Cổn vài tháng, được Đa Nhĩ Cổn ban thụy là Hiếu Kính Trung Cung Nguyên phi (敬孝忠恭元妃). Sau khi Đa Nhĩ Cổn được truy thụy Hoàng đế, bà được cải thụy hiệu thành Hiếu Kính Trung Cung Tĩnh Giản Từ Huệ Trợ Đức Tá Đạo Nghĩa hoàng hậu (敬孝忠恭靜簡慈惠助德佐道義皇后). Khi Đa Nhĩ Cổn bị đoạt thụy hiệu, bà bị biếm làm Thứ nhân.
  2. Kế phúc tấn: Đông Giai thị (佟佳氏), Kiến Châu Nữ Chân bổn bộ xuất thân, con gái Thượng thư Mông Cách Đồ (蒙格圖).
  3. Kế phúc tấn: Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), Mông Cổ Khoa Nhĩ Thấm bộ tộc xuất thân, con gái của Căn Đỗ Nhỉ Thai Cát (根杜爾台吉).
  4. Kế phúc tấn: Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), Mông Cổ Khoa Nhĩ Thấm bộ tộc xuất thân, con gái của Lạp Bố Hi Tây Thai Cát (拉布希西台吉).
  5. Kế phúc tấn: Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), Mông Cổ Khoa Nhĩ Thấm bộ tộc xuất thân, con gái của Tác Nặc Bố Thai Cát (索諾布台吉), tộc muội của Hiếu Trang Văn hoàng hậu. Vốn là thê tử của Hào Cách, sau khi Hào Cách bị tội, bị nạp làm thê tử của Đa Nhĩ Cổn.
  6. Kế phúc tấn: Lý Ái Thục (李愛淑), Công chúa Triều Tiên, hiệu Nghĩa Thuận công chúa (義順公主), con gái của Cẩm Lâm quân Lý Khải Dận (李愷胤) - cháu 4 đời của Triều Tiên Thành Tông.
  7. Trắc phúc tấn: Công Tề Đặc thị (公齊特氏), xuất thân từ bộ tộc Sát Ha Nhĩ (察哈爾).
  8. Trắc phúc tấn: Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), Mông Cổ Khoa Nhĩ Thấm bộ tộc xuất thân.
  9. Trắc phúc tấn: Tế Nhĩ Mạc Đặc thị (濟爾莫特氏), xuất thân không rõ.
  10. Trắc phúc tấn: Lý thị (李氏), Triều Tiên tông thất nữ, con gái của Lý Thế Tự (李世緒).
  • Hậu duệ:
  1. Trưởng nữ: Đông Nga (東莪), do Trắc phúc tấn Lý thị sinh ra, con gái thân sinh độc nhất.
  2. Dưỡng tử: Đa Nhĩ Bác (多爾博), con trai thứ năm của Đa Đạc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thuận Trị năm thứ 7 (1650) truy tặng; Thuận Trị năm thứ 8 (1651) tước bỏ
  2. ^ Tấn phong năm 1778 thời Khang Hi