Phúc Khang An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phúc Khang An
Fuk'anggan.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 19 tháng 2 năm 1789 – 14 tháng 9 1793
Tiền nhiệm Tôn Sĩ Nghị
Kế nhiệm Trường Lân
Thông tin chung
Sinh 1753
Thuận Thiên phủ, Bắc Kinh
Mất 2 tháng 7, năm 1796 (42–43 tuổi)
Hồ Nam
Gia quyến Phó Hằng (cha)
Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu (cô)
Càn Long Đế (dượng)

Phúc Khang An (Chữ Hán: 福康安; 1753 - 2 tháng 7 năm 1796), biểu tự Dao Lâm (瑤林), Mãn Châu Tương hoàng kỳ, Phú Sát thị, là một vị tướng nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, ông từng làm quan dưới triều Càn LongGia Khánh và từng giữ chức Nội vụ phủ Đại thần và Tổng đốc Lưỡng Quảng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phúc Khang An sinh năm Càn Long thứ 19 (1754), xuất thân trong gia tộc Mãn Châu rất danh giá là Sa Tế Phú Sát thị, là con trai của Đại học sĩ Phó Hằng và là cháu trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu, nguyên phối thê tử của Càn Long Đế.

Năm Càn Long thứ 32 (1767), ông trở được tập phong Vân Kị úy (云骑尉) và phục vụ trong Đại nội thị vệ, hàm Tam đẳng thị vệ (三等侍卫), trực thuộc Càn Thanh môn. Năm thứ 34 (1769), thăng làm Nhị đẳng, trực thuộc Ngự tiền, tức là thân cận với Hoàng đế. Năm thứ 35 (1770), thăng Nhất đẳng Thị vệ. Năm thứ 36 (1771), ông được phong Hộ bộ Thị lang, sau đó được phong Tương lam kỳ Phó đô thống của Mông Cổ quân[1][2]. Năm Càn Long thứ 37 (1772), tháng 5, nhận mệnh đến Quân cơ xứ học tập[3]. Lúc này là lúc loạn Kim-Xuyên lần thứ 2, Thanh triều phái Võ Anh điện Đại học sĩ Ôn Phúc làm Định Biên tướng quân, A Quế làm Phó tướng quân, Phúc Khang An thụ ấn, làm Lĩnh đội đại thần[4]. Năm thứ 38 (1773), Phúc Khang An nhận lệnh đến Tứ Xuyên hỗ trợ Tướng quân A Quế dẹp loạn.

Năm thứ 41 (1776), Tứ Xuyên được bình định, ông được phong tước Tam đẳng Gia Dũng nam (三等嘉勇男), chức Hộ bộ Tả Thị lang, rồi Mông Cổ Tương Bạch kỳ Đô thống.

Trong khoảng thời gian 3 năm (1777 - 1780), Phúc Khang An giữ chức Cát Lâm tướng quân (吉林将军) và Thịnh Kinh tướng quân (盛京将军). Năm thứ 45 (1784), ông cùng tướng quân A Quế đi đánh dẹp cuộc nổi dậy của người Hồi ở Cam Túc, thành công trở về được phong tước Nhất Đẳng Gia Dũng hầu (一等嘉勇侯). Năm thứ 52 (1787), ông nhận lệnh cùng Hải Lan Sát đến Đài Loan bình định Lâm Sảng Văn. Trong năm đó, ông dẫn quân từ Phúc Kiến cứu viện quân Thanh đang bị bao vây trên biển, loạn quân được bình định, ông được phong Nhất đẳng Gia Dũng công (一等嘉勇公).

Năm Càn Long thứ 55 (1790), quân Khuếch Nhĩ Khách tấn công Tây Tạng với ý định cướp bóc các tu viện Mật tông nhưng lui quân nhờ sự thuyết phục của tướng quân Ba Trung. Năm sau, quân Khuếch Nhĩ Khách, Mông Cổ lại tấn công và cướp bóc Tây Tạng mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể từ Tạng binh và quân Thanh. Đạt Lai Lạt Ma trốn sang Nepal và cầu cứu Càn Long thu hồi lãnh thổ bị mất. Càn Long tức giận lệnh cho Phúc Khang An và Hải Lan Sát đem binh thảo phạt.

Năm Càn Long thứ 57 (1792), quân Thanh đến Tây Tạng đánh bại quân Khuếch Nhĩ Khách. Quân khuếch Nhĩ Khách nghị hoà và chấp nhận đề xuất của Phúc Khang An tiến cống cho nhà Thanh 5 năm một lần. Với chiến công này, Phúc Khang An được phong Vũ Anh điện Đại học sĩ kiêm Quân Cơ Đại thần, Nhất đẳng Khinh kỵ Đô uý, con trai ông sẽ được thừa tập; Càn Long Đế còn nói rằng nếu ông đánh bại hoàn toàn quân Khuếch Nhĩ Khách thì sẽ phong ông tước Vương. Năm sau (1793), ông được gia phong Gia Dũng Trung Duệ công (嘉勇忠锐公)[5].

Năm Càn Long thứ 60 (1795), nhà Thanh điều Tổng đốc Vân Quý Phúc Khang An, Tổng đốc Tứ Xuyên Hoà Lâm, Tổng đốc Hồ Quảng Phúc Ninh dẫn quân 7 tỉnh, hơn 10 vạn đi trấn áp nổi loạn ở Cam Túc. Tháng tám năm đó, quân Thanh bao vây Miêu Vương Thạch Liễu Đặng tại Cam Túc.Phúc Khang An và Hoà Lâm vừa trấn áp vừa chiêu dụ; tháng chín, Ngô Bán Sinh bị bắt, tháng mười hai, Ngô Bát Nguyệt bị bắt. Với chiến thắng ban đầu, Càn Long Đế phong cho Phúc Khang An là Bối tử, tước vị chỉ dành cho Hoàng tộc. Do chiến đấu căng thẳng ở xa, Phúc Khang An bệnh nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy quân đội.

Ông qua đời cùng năm 1795, ngày 28 tháng 5 (âm lịch), Càn Long Đế hết sức đau buồn, truy tặng ông tước Gia Dũng Quận vương (嘉勇郡王), tên thuỵ Văn Tương (文襄), cho phối thờ ở Thái Miếu[6]. Đến triều đại của Gia Khánh, ông bị Gia Khánh phê phán là hoang phí trong quân đội do những chiến dịch quân sự của ông nổi tiếng tốn kém. Năm 1808 triều Gia Khánh, con trai ông bị giáng xuống làm Bối tử.

Sự ưu ái của Càn Long Đế dành cho Phúc Khang An được xem là bất thường, dấy lên mối nghi ngờ ông là con riêng của Càn Long. Con đường thăng tiến của ông quá chói lọi, ngay cả ông có nhiều chiến công đi nữa vẫn rất bất thường. Những viên tướng trong triều Thanh công trạng cả đời mới được phong Nhất đẳng công, Nhất đẳng hầu; trong khi đó ông đã là Nhất đẳng hầu rồi Nhất đẳng công khi mới ngoài 30 tuổi; đặc biệt ông còn được phong Bối tử, truy phong Quận vương, những điều chưa từng có trong lịch sử nhà Thanh.

Phúc Khang An cũng là một trong những đại thần trong triều đối đầu với đại thần Hòa Thân. Ông được Càn Long Đế bổ nhiệm Tổng đốc Lưỡng Quảng nhằm chấn chỉnh mối quan hệ giữa nhà Thanh và Tây Sơn sau khi chiến tranh xảy ra giữa hai bên với thất bại nặng nề của nhà Thanh. Sau khi Tôn Sĩ Nghị bại trận bởi nhà Tây Sơn (khi đó Phúc Khang An được giao nhiệm vụ là đặc sứ phụ trách hậu cần), Càn Long Đế đã cử Phúc Khang An sang Đại Việt lãnh đạo quân Thanh đánh Tây Sơn, nhưng lại bị Quang Trung mua chuộc, tìm cách hoà hoãn, Phúc Khang An đã thuyết phục được Càn Long Đế làm hoà với Tây Sơn.

Với chủ trương khá ôn hoà, ông đã có những đóng góp tích cực vào quan hệ ngoại giao giữa nhà Thanh và Đại Việt thời Tây Sơn, đem lại sự hữu hảo trong quan hệ bang giao hai nước, tránh các xung đột hai bên. Ông còn là nhân vật trong các tiểu thuyết lịch sử và võ hiệp mà tiêu biểu là Thanh cung mười ba Hoàng triều của Hứa Tiếu Thiên, Hoàn Châu cách cách của Quỳnh Dao và Phi Hồ ngoại truyện của Kim Dung.

Bang giao với Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại nặng nề của nhà Thanh trong chiến tranh với Tây Sơn, vua Càn Long đã cũng điều Phúc Khang An làm tổng đốc Lưỡng Quảng và điều động thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới nhưng thực chất chỉ để hư trương thanh thế.[7]

Nhận biết được tình thế, Phúc Khang An, đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh, đồng thời ông cũng chỉ thị cho Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Quang Trung gợi ý nên tiến hành chính sách hoà hiếu, tránh binh đao.

Ông chính là người đã nhiều lần giao thiệp thư từ qua lại giữa vua Càn Long và triều đình Tây Sơn, gây dựng mối bang giao giữa hai nước. Nguyên nhân, lợi dụng tâm lý của vua Càn Long muốn bắt Đại Việt quy thuận bằng mọi giá nhằm gỡ lại quốc thể sau chiến trận nên Phúc Khang An đã dốc sức giúp đỡ triều đình Tây Sơn.

Cho nên trong đại lễ Bát tuần khánh thọ của Thanh Cao Tông Phúc Khang An khi đó làm Tổng đốc Lưỡng Quảng đã có công đi sứ giao thiệp với nhà Tây Sơn, chủ trương đẩy nhanh tiến độ xét duyệt biểu cầu phong cho An Nam Quốc vương Nguyễn Quang Bình Từ tuân chỉ hộ tống phái đoàn Tây Sơn có An Nam Quốc Vương Nguyễn Quang Bình và con trai Nguyễn Quang Thùy lên kinh chiêm cận, đến chăm lo tiếp đón, chuẩn bị yến tiệc, phòng ốc ăn ở cho đến xin vua một cân nhân sâm cho quốc mẫu (tức mẹ vua Quang Trung) tẩm bổ, chỉ dẫn phái đoàn Đại Việt cách hành lễ cho đúng điển lệ nhà Thanh. Đặc biệt hướng dẫn vua Quang Trung hành lễ Bão kiến thỉnh an (vốn là nghi lễ đón tiếp tôn quý nhất trong hệ thống điển lễ được quy định của nhà Thanh, người được thi hành lễ này được tiếp đón như quốc khách, các chế độ ưu đãi cũng phải gia tăng. Trong lịch sử Thanh triều đời Càn Long chỉ thi hành lễ này đúng có 3 lần, tính luôn cả Quang Trung). Thậm chí Phúc Khang An còn dốc tiền túi mình ra làm hai thanh như ý bằng vàng (đôi kim như ý) vì thấy trong lễ vật cống phẩm của Đại Việt không có món này. Bởi vì phái đoàn nước ta không biết đến ý nghĩa của thanh như ý nên không dùng làm lễ phẩm nhưng Phúc Khang An đoán biết ý của vùa Càn Long rất thích món quà này nên đặc biệt làm riêng hòng nâng cao thể diện cho quốc vương An Nam.

Trong tiểu thuyết võ hiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, ông là một nhân vật trong bộ tiểu thuyết Phi Hồ ngoại truyện và được mô tả như một người lãng tử đa tình, từng trăng hoa với nhiều phụ nữ. Sau đó ông đã chủ trì thực hiện kế hoạch làm khuynh đảo võ lâm bằng cách dùng lợi ích để họ tàn sát lẫn nhau để tiện bề tiêu diệt các bang phái này, đặc biệt là Hồng Hoa Hội của Trần Gia Lạc.

Theo tiểu thuyết này thì ông được Kim Dung cho xuất hiện tại Thương gia bảo. Phúc Khang An cầm đầu đoàn người tiến vào bảo. Ông được mô tả là một "thanh niên công tử mặt đẹp như ngọc, tướng mạo tuấn tú, trạc ba mươi tuổi, ăn mặc rất hoa lệ, trên mũ gắn hai hạt minh châu lớn".

Khi đó, Mã Xuân Hoa là con gái nhà bảo tiêu, hiểu biết rất rõ về giá trị của các loại minh châu. Thấy hai viên minh châu của gã công tử, cô biết chúng có giá trị liên thành. Cô so sánh Từ Tranh (là người được cha cô hứa hôn) với chàng công tử đẹp trai mới gặp, trước đó Từ Tranh lại có hành động thô bạo khiến lòng Mã Xuân Hoa hướng về gã thanh niên công tử điển trai này. Mã Xuân Hoa vốn là cô gái bị cha ruột buộc phải đính hôn với một người mà mình không tha thiết. Phản ứng với cuộc hôn nhân này, Xuân Hoa muốn thoát khỏi ràng buộc và ngả vào vòng tay của Phúc Khang An - một vị quan trăng hoa.

Trong một dịp, Mã Xuân Hoa chợt nghe tiếng tiêu, "tiếng tiêu uyển chuyển du dương, lại rất tình tứ" khiến cho lòng cô cảm thấy ngây ngất trong buổi chiều xuân. Cô đi về hướng người thổi tiêu trong trạng thái bị mê hoặc rất vô thức. Phúc Khang An ngưng thổi tiêu, dang tay ôm lấy tấm lưng thon của Mã Xuân Hoa, cô không phản đối.

Hôm sau, Mã Xuân Hoa lại chủ động đi tìm Phúc Khang An. Tiếng tiêu của anh đã thu hồn, đoạt phách của cô khiến cô say đắm không còn làm chủ được mình. Cô chỉ biết có chàng công tử đang quấn quýt, má tựa vai kề với cô. Từ Tranh đi tìm sư muội, thấy cả hai đang "mải miết trong cuộc hoan lạc". Anh ta nổi ghen, rượt chém Phúc Khang An. Mã Xuân Hoa chống cự lại sư huynh nhằm giải thoát cho Phúc Khang An và lạc mất anh ta.

Tiểu thuyết cho biết, vị công tử đó là Phúc Khang An, thượng thư bộ Binh của Thanh triều dưới đời vua Càn Long. Ngoài 30 tuổi, nhưng vẫn chưa lấy vợ. Anh ta chỉ coi Mã Xuân Hoa như một thứ hoa lạc, ăn ở với cô như một cách giải trí chứ chẳng có tình ý gì với cô. Anh ta đã tằng tịu với nhiều cô thiếu nữ khác nên quên mất Mã Xuân Hoa sau lần ăn ở tại Thương gia bảo.

Mã Xuân Hoa có thai. Cô vẫn làm đám cưới với Từ Tranh theo lời đính ước của cha ngày trước, vẫn cùng chồng rong ruổi trên đường bảo tiêu nhưng lòng thì chẳng thương yêu chồng. Từ Tranh biết thân biết phận, thấy Mã Xuân Hoa sinh hai đứa con trai đẹp như ngọc, biết rằng không phải là con mình nhưng vẫn thương yêu, đùm bọc chúng. Sau đó Từ Tranh bị Thương Bảo Chấn (một người dưới trướng Phúc Khang An giết chết).

Nghe tin Mã Xuân Hoa sinh ra hai con trai, tính ngày tháng, Phúc Khang An biết đó đúng là con mình. Ông ra lệnh cho bọn hào sĩ giang hồ dưới tay "mời" Mã Xuân Hoa và hai con trẻ vào vương phủ trong thành Bắc Kinh.

Mẹ của Phúc Khang An gặp hai cháu nội rất vui. Bà suy nghĩ Phúc Khang An đã ngoài ba mươi tuổi, chưa chịu lấy vợ mà đã có được hai tiểu công tử quá đẹp nên đã quyết giết Mã Xuân Hoa. Phúc Khang An can lại nhưng bà ta vẫn quyết giết. Mã Xuân Hoa thoát được nạn kiếp nhờ được mọi người cứu thoát.

Sau đó trước khi chết, cô vẫn mong muốn gặp lại Phúc Khang An một lần, thủ lĩnh Hồng Hoa hội có tướng mạo giống y Phúc Khang An, tuổi cũng cỡ Phúc Khang An đã cảm động và đóng giả Phúc Khang An, vào thăm Mã Xuân Hoa cho cô được toại nguyện. Trong cơn mê sảng, Mã Xuân Hoa nhìn Trần Gia Lạc cứ nghĩ là Phúc Khang An về thăm mình thật. Cô chết đi trong sự mãn nguyện.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《清史稿》(卷330):“福康安,字瑤林,富察氏,滿洲鑲黃旗人,大學士傅恆子也。初以雲騎尉世職授三等侍衛。再遷頭等侍衛。擢戶部侍郎、鑲黃旗滿洲副都統。”
  2. ^ 《嘉义县志·列传》:“乾隆三十二年,授三等侍衛,洊擢至一等,命御前行走。三十六年,授戶部侍郎,兼副都統。”
  3. ^ 《清史稿》(卷176):“(乾隆三十七年)福康安五月辛丑,以户部侍郎在军机处学习行走。十二月癸酉,命往四川领队。出。”
  4. ^ 《清史稿》(卷330):“師徵金川,以溫福為定邊將軍,阿桂、豐升額為副將軍,高宗命福康安齎印往授之,即授領隊大臣。”
  5. ^ 《清史稿》(卷330):“福康安初徵金川,與海蘭察合軍討亂回,同為參贊;及徵台灣、定廓爾喀,皆專將,海蘭察為參贊,師有功,受殊賞。上手詔謂:“福康安能克陽布,俘拉特納巴都爾、巴都爾薩,當酬以王爵。今以受降班師,不克副初原。然福康安孝賢皇后侄,大學士傅恆子,進封為王,天下或議朕厚於後族,富察氏亦慮過盛無益。今如此蕆事,較蕩平廓爾喀倍為欣慰。””
  6. ^ 《清史稿》(卷330):“福康安染瘴病作,猶督兵進,五月,卒於軍。仁宗制詩以誄,命加郡王銜,從傅恆配太廟,謚文襄。子德麟,襲貝勒,遞降至未入八分公,世襲罔替。”
  7. ^ “BaoBinhDinh”. Báo Bình Định. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]