Quý tộc nhà Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhà Thanh (1644-1911) của Trung Quốc đã phát triển một hệ thống xếp hạng quý tộc rất phức tạp. Tất cả các tước hiệu đều do con trai trưởng của nhà quý tộc thừa kế, nhưng bị giáng xuống một cấp. Tuy thế, vẫn có ngoại lệ khi hoàng đế phê chuẩn cho một tước hiệu được cha truyền con nối, và đây là một vinh dự rất lớn cho người mang tước hiệu. Các thân vương được phép truyền tước hiệu cho con cháu của mình mà không bị giáng cấp được gọi là các Thiết mạo tử vương (tiếng Trung: 铁帽子王).

Hoàng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tộc nhà Thanh chia thành " tông thất" đeo dây lưng vàng gọi là "hoàng đái tử" bao gồm các con cháu trực hệ của cha của Thanh Thái tổ Nỗ nhĩ cáp xích và "giác la" đeo dây lưng đỏ gọi là "hồng đái tử" gồm con cháu của các anh em thúc bá của ông. Tông thất có địa vị cao hơn giác la và có nhiều ưu đãi hơn trong việc phong tước, bổ nhiệm chức vụ.

Nguyên tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Việc kế thừa về cơ bản dành cho con trưởng nhưng vẫn có những ngoại lệ do hoàng đế quyết định. Các người con khác chỉ có thể nhận được tước vị ngoài "bát phân" tuỳ theo xuất thân và kết quả kỳ khảo phong tức kì thi đánh giá tài năng của hoàng tộc của họ hoặc được đặc biệt ban ân. Thông thường, các tước vị cha truyền con nối sẽ giảm dần qua các thế hệ cho đến khi trở thành vĩnh viễn hoặc truyền thêm 3 đời nữa rồi kết thúc. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp việc kế thừa đời đời không bị giáng gọi là "thiết mạo tử vương"; trong lịch sử nhà Thanh có 12 trường hợp như vậy. Các tước vị thuộc "bát phân" thừa kế giảm xuống 4 lần rồi trở thành vĩnh viễn. Ví dụ như Thân vương giảm đến Phụng ân trấn quốc công, Quận vương giảm đến Phụng ân phụ quốc Công... Các tước vị ngoài bát phân hay " bất nhập bát phân" sẽ giảm đến Phụng ân tướng quân rồi thành vĩnh viễn nếu là "tông thất" hoặc truyền 3 đời nữa rồi kết thúc nếu là "giác la". Nếu như một hoàng tộc không có người thừa kế thì hoàng đế sẽ chỉ định một nam nhân trong hoàng tộc làm người thừa tự.

Nam nhân hoàng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoà Thạc thân vương (Trung văn giản thể: 和硕亲王; Trung văn phồn thể: 和碩親王; bính âm: Héshuò Qīnwáng; tiếng Mãn Châu: Hošoi Cin Wang) thường được gọi tắt là Thân vương. Hoà Thạc (Heshuo, Hošoi) có nghĩa là "người được đặc biệt tôn kính" trong tiếng Mãn Châu.
  • Đa La quận vương (Trung văn giản thể: 多罗郡王; Trung văn phồn thể: 多羅郡王; bính âm: Duōluó Jùnwáng; tiếng Mãn Châu: Doroi Giyūn Wang), thường được gọi tắt là Quận vương, "Đa la" (Duoluo, Doroi) có nghĩa là "bốn phương", "bốn mặt" trong tiếng Mãn châu.
  • Đa La bối lặc (Trung văn giản thể: 多罗贝勒; Trung văn phồn thể: 多羅貝勒; bính âm: Duōluó Bèilè; tiếng Mãn Châu: Doroi Beile), có nghĩa là "chúa tể" trong tiếng Mãn Châu, thường được gọi tắt là Bối lặc. Bối lặc trước khi nhà Thanh thành lập dùng để gọi các vị thủ lĩnh của các bộ lạc người Nữ chân, bản thân Nỗ nhĩ cáp xích khi chưa xưng Đại hãn đã được gọi là bối lặc.
  • Cố Sơn bối tử (Trung văn giản thể: 固山贝子; Trung văn phồn thể: 固山貝子; bính âm: Gùshān Bèizǐ; tiếng Mãn Châu: Gūsai Beise), thường được gọi tắt là Bối tử. Cố Sơn (Gushan, Gūsai) có nghĩa là "cờ" trong tiếng Mãn Châu, để chỉ một trong số Bát Kỳ. Bối tử (Beizi, Beise) là dạng số nhiều của Bối lặc,vốn được dùng để chỉ các vị bối lặc nói chung hoặc những quý tộc bẩm sinh (quý tộc dòng dõi nhà bối lặc) nhưng kể từ năm 1636 cả Bối lặc và Bối tử đều được dùng để chỉ hai cấp độ tước hiệu khác nhau.

Bốn tước vị kể trên chỉ được ban cho "tông thất"; hai tước vị đặc biệt "thế tử" và "trưởng tử" đến đời Càn long bị bãi bỏ; người thừa kế được phong tương ứng bối lặc và bối tử. Một Hoàng tử khi đến tuổi trưởng thành sẽ căn cứ theo thứ tự, địa vị của người mẹ, tài năng, công trạng, sự yêu quý của nhà vua mà sẽ sơ phong (phong tước lần đầu) một trong 4 tước kể trên. Thông thường, các Hoàng tử chỉ được ban lần đầu là bối lặc, bối tử sau đó có thành tích mới được phong vương. Việc một Hoàng tử được phong vương ngay lần phong đầu thường là con lớn hoặc do Hoàng hậu, Quý phi sinh ra; một số trường hợp là do Hoàng đế đặc biệt yêu mến như Vinh thuần thân vương Vĩnh Kỳ.

6 tước vị trên cùng 2 tước vị đặc biệt được gọi chung là "bát phân" có được những đặc ân đặc biệt đứng trên tất cả quý tộc quan viên triều đình.

  • Bất nhập bát phân trấn quốc công (不入八分镇国公; bùrùbāfēn zhènguó gōng)
  • Bất nhập bát phân phụ quốc công (不入八分辅国公; bùrùbāfēn fǔguó gōng)

Các tước vị trên đều là siêu phẩm tước vị (trên nhất phẩm), 4 tước dưới đây tương đương từ chính nhất phẩm đến chính tứ phẩm.

Tông thất không được phong tước gọi chung là "nhàn tản tông thất" được ban cho quan phục mũ mão võ quan tứ phẩm.

Nữ nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các tước hiệu sau được ban cho nữ nhân trong hoàng tộc:

  • Cố Luân công chúa (Trung văn giản thể: 固伦公主; Trung văn phồn thể: 固倫公主; bính âm: Gùlún Gōngzhǔ), tương đương bối tử, thường được ban cho công chúa do Hoàng hậu sinh ra. Cố Luân có nghĩa là "thiên hạ" trong tiếng Mãn Châu. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ, nhiều công chúa là con gái trưởng hoặc con gái được Hoàng đế đặc biệt yêu quý đã được phong tước vị này, Cố luân hòa hiếu công chúa là một ví dụ điển hình.
  • Hoà Thạc công chúa (Trung văn giản thể: 和硕公主; Trung văn phồn thể: 和碩公主; bính âm: Héshuò Gōngzhǔ; tiếng Mãn Châu: Hošoi Gungju), tương đương siêu phẩm công, thường được ban cho công chúa do các phi tần sinh ra. Hoà Thạc (Heshuo, Hošoi) có nghĩa là "người được đặc biệt tôn kính" trong tiếng Mãn Châu. Con gái của một số Thân vương được nhận làm nghĩa nữ cũng được phong tước vị này.

Hai tước vị trên là siêu phẩm tước vị, 5 tước sau đây tương đương từ chính nhất phẩm đến chính ngũ phẩm.

  • Quận chúa (tiếng Trung: 郡主; bính âm: Jùnzhǔ) thường được ban cho con gái của Thân vương do đích phúc tấn sinh ra.
  • Huyện chúa (Trung văn giản thể: 县主; Trung văn phồn thể: 縣主; bính âm: Xiànzhǔ) thường được ban cho con gái của Quận vương hoặc Thế tử do đích phúc tấn sinh ra.
  • Quận quân (tiếng Trung: 郡君; bính âm: Jùnjūn) thường được ban cho con gái của Thân vương do tì thiếp sinh ra, hoặc con gái sinh ra bởi chính thất của Bối lặc.
  • Huyện quân (Trung văn giản thể: 县君; Trung văn phồn thể: 縣君; bính âm: Xiànjūn) thường được ban cho con gái do chính thất sinh ra của Bối tử.
  • Hương quân (乡君; 鄉君; xiãngjũn; gung-ni jui gege) thường được ban cho con gái do chính thất sinh ra của Phụng ân trấn quốc công và Phụng ân phụ quốc công hoặc con gái của Bối lặc do tì thiếp sinh ra.
  • Ngũ phẩm khách khanh là con gái của bối tử do tì thiếp sinh ra không được ban tước nhưng được hưởng ngũ phẩm bổng lộc.
  • Lục phẩm khách khanh là con giá của Phụng ân trấn quốc công do tì thiếp sinh ra không được ban tước nhưng được hưởng lục phẩm bổng lộc.
  • Tông nữ (宗女; zõngnǚ) tên gọi chung cho con gái hoàng tộc không được phong tước, thể hiện sự xuất thân cao quý.

Đầu đời Thanh, từ Hương quân trở lên đều gọi là cách cách. Đến thời Càn long thì con gái của Hoàng đế phải được gọi là Công chúa. Chồng của Cố luân công chúa đến Hương quân đều được gọi là "ngạch phò" (Trung văn giản thể: 额驸; Trung văn phồn thể: 額駙; bính âm: Éfù) có phẩm hàm tuỳ theo tước vị của vợ họ.

Quý tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Có chín bậc quý tộc được ban thưởng tuỳ theo lòng dũng cảm, thành tích hoặc sự xuất chúng. Trừ hai bậc cuối cùng, tất cả các bậc còn lại đều được chia thành nhiều cấp khác nhau.

3 tước trên là siêu phẩm tước vị.

Các tước trên chia thành 4 đẳng: nhất đẳng kiêm vân kị úy, nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng.

Các tước vị quý tộc thường ban cho quan võ nhiều hơn là quan văn. Trong lịch sử nhà Thanh, quan văn có tước vị cao nhất là Tăng Quốc Phiên chỉ là nhất đẳng hầu tước

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]