Thuận Trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thuận Trị Đế
顺治帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清世祖顺治皇帝朝服像》.jpg
Hoàng đế nhà Thanh
trị vì 4 tháng 4 năm 16447 tháng 1 năm 1661
Tiền nhiệm Thanh Thái Tông
Nhiếp chính Đa Nhĩ Cổn (1643 - 1650)
Tế Nhĩ Cáp Lãng (1643 - 1647)
Kế nhiệm Thanh Thánh Tổ
Thông tin chung
Thê thiếp Phế hậu Bách Nhĩ Tế Cát Đặc thị
Hiếu Huệ Chương hoàng hậu
Hiếu Khang Chương hoàng hậu
Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Phúc Lâm
爱新觉罗福臨
Tước vị Hoàng đế
Niên hiệu Thuận Trị (顺治)
Thụy hiệu Thể Thiên Long Vận Đỉnh Thống Kiến Cực Anh Duệ Khâm Văn Hiến Vũ Đại Đức Hoằng Cung Chí Nhân Sơ Hiếu Chương hoàng đế
体天隆运定统建极英睿欽文顯武大德弘功至仁纯孝章皇帝章皇帝.
Miếu hiệu Thanh Thế Tổ
Hoàng tộc Nhà Thanh
Thân phụ Hoàng Thái Cực
Thân mẫu Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu
Sinh 15 tháng 3, 1638(1638-03-15)
Thịnh Kinh, Mãn Châu
Mất 5 tháng 2, 1661 (22 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đế quốc Thanh
An táng Hiếu Lăng, Đông Thanh mộ, Tuân Hóa

Thanh Thế Tổ (chữ Hán: 清世祖, 15 tháng 3, năm 1638 - 5 tháng 2, năm 1661), là vị Hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh người Mãn Châu, và là hoàng đế nhà Thanh đầu tiên cai trị trên toàn cõi Trung Hoa từ năm 1644 đến 1661.

Ông kế vị Thái Tông hoàng đế Hoàng Thái Cực khi mới 6 tuổi, nên được Đa Nhĩ CổnTế Nhĩ Cáp Lãng (Jirgalang) nhiếp chính. Sau khi băng hà, con trai thứ 3 của ông là Huyền Diệp (玄燁) lên kế vị ngai vàng, tức là Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế.

Vì có niên hiệuThuận Trị (顺治), nên sử sách thường gọi là Thuận Trị Đế (顺治帝). Sau khi mất, ông được truy tôn thụy hiệu đầy đủ là Thể Thiên Long Vận Đỉnh Thống Kiến Cực Anh Duệ Khâm Văn Hiến Vũ Đại Đức Hoằng Cung Chí Nhân Sơ Hiếu Chương Hoàng Đế (体天隆运定统建极英睿欽文顯武大德弘功至仁纯孝章皇帝章皇帝).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Thế Tổ hoàng đế có tên thật là Ái Tân Giác La Phúc Lâm (爱新觉罗福臨), con trai thứ 9 của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, mẹ là Hiếu Trang Văn hoàng hậu Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, xuất thân quý tộc Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ, dòng dõi bộ tộc danh giá Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị. Thành Cát Tư Hãn, người đã thành lập Đế chế Mông Cổ có xuất thân từ dòng họ này.

Ông sinh vào ngày 15 tháng 3, năm 1638, tại Thịnh Kinh, kinh đô của người Mãn Châu lúc bấy giờ. Khi ấy nhà Thanh lấy quốc hiệu là Hậu Kim.

Đăng cơ Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1644, Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực băng hà, trong triều xảy ra tranh chấp để giành ngôi vị. Lúc đó, những người con trai lớn của Hoàng Thái Cực là Hào Cách lo tìm cách thôn tính lẫn nhau để tranh ngôi. Tuy Hào Cách là người thiếu quyết đoán, thế lực chỉ gồm 61 Niru, nhưng lại có được sự ủng hộ của các Đại bối lặc khác là Đại ThiệnTế Nhĩ Cáp Lãng. Lực lượng của 3 người hợp lại có khoảng 145 Niru (khoảng 43.500 người).

Trước tình hình đó, Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn thấy sự tình tranh chấp, tuy biết thế lực của mình không nhỏ, nhưng nếu lên ngôi sợ kẻ khác bất phục, nên lập Thế Tổ hoàng đế lên kế vị, chỉ vừa 6 tuổi, sử gọi là Thuận Trị Đế. Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn và Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng cùng phụ chính. Trên thực tế, Tế Nhĩ Cáp Lãng dù là một tướng lĩnh quân sự tài giỏi nhưng lại không quan tâm nhiều đến chính trị. Quyền hành chính trị nhanh chóng do một mình Đa Nhĩ Cổn quyết định thay mặt cho Thuận Trị Đế.

Bấy giờ thân mẫu của Thuận Trị Đế là Hiếu Trang Thái hậu được cho là có tình cảm riêng tư với Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn, và việc lập Thuận Trị Đế của Đa Nhĩ Cổn được cho là có tác động không nhỏ của Hiếu Trang Thái hậu.

Tiến vào Trung nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ, Lý Tự Thành khởi loạn, chống nhà Minh, vào năm 1642 đã tiến binh về Bắc Kinh, đến năm 1644 thì chiếm được kinh thành Minh Tư Tông tự vẫn tại núi Môi Sơn. Lý Tự Thành nhập kinh, lên ngôi Hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Thuận.

Lý Tự Thành có chiếm và làm nhục người thiếp của Ngô Tam QuếTrần Viên Viên, còn giết cha của Quế. Ngô Tam Quế vốn là tướng nhà Minh trấn phòng quân Thanh, nay thấy Lý Tự Thành như vậy, tức giận, cầu viện nhà Thanh đánh Lý Tự Thành. Khi nhà Thanh hay tin, Đa Nhĩ Cổn bèn đem quân vượt qua Sơn Hải Quan, tiến về kinh đô nhà Minh phối hợp với quân Ngô Tam Quế. Cuối cùng cũng đã diệt được Lý Tự Thành tiến vào trung nguyên.

Quân Thanh còn tiến binh chiếm các tỉnh thành của Trung Hoa, rồi thống nhất Trung Quốc, đưa Thuận Trị Đế đến Bắc Kinh làm Hoàng đế Trung Hoa. Từ đó, người Hán sống dưới sự thống trị của người Mãn Châu. Bên cạnh đó, với lý do thiên hạ còn chưa yên, Đa Nhĩ Cổn sai các tướng nhà Minh tiếp tục đị đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh và quân khởi nghĩa chống Thanh, dưới sự kiểm soát của ông. Giao ước liên minh thực chất bị xóa bỏ, không lâu sau, khi các thế lực chống Thanh bị dẹp yên về cơ bản, Đa Nhĩ Cổn phong các tướng lĩnh nhà Minh đầu hàng chức quan của nhà Thanh, buộc cạo nửa đầu thắt bím, hợp thức hóa quyền thống trị của nhà Thanh trên toàn cõi Trung Hoa.

Cũng với biện pháp này, Đa Nhĩ Cổn buộc tất cả mọi người dân Hán dưới quyền kiểm soát của nhà Thanh đều phải cạo đầu thắt bím, tuần tự đồng hóa với người Mãn Châu. Những nơi chống đối, ông cho thực hiện những biện pháp tàn sát để buộc người dân phải quy phục.

Phế tước hiệu của Đa Nhĩ Cổn[sửa | sửa mã nguồn]

Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn từ khi làm nhiếp chính đã gần như trở thành Hoàng đế của người Mãn Châu, Thuận Trị Đế lớn lên trong sự bao bọc của Duệ thân vương, dần trở nên lu mờ trên chính ngai vàng của mình. Bên cạnh đó, Thuận Trị Đế còn nghe qua lại việc của Hiếu Trang Thái hậu và Đa Nhĩ Cổn, khiến Thuận Trị Đế ngày càng căm ghét Đa Nhĩ Cổn.

Năm 1648, Thuận Trị Đế phong Đa Nhĩ Cổn làm Hoàng Phụ Nhiếp Chính Vương (皇父攝政王), uy quyền ngày một quá lớn, dù khi đó Đa Nhĩ Cổn chỉ vừa 36 tuổi. Đa Nhĩ Cổn cưới em gái của Hiếu Trang Thái hậu là Tiểu Ngọc Nhi làm Phúc tấn, việc này khiến Thuận Trị Đế ngày càng nghi ngờ.

Ngày 31 tháng 12, năm 1650, Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn qua đời ở tuổi 38 tại Kharahotun [nay là Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc]. Ông được Thuận Trị Đế tôn phong thụy hiệu Nghĩa hoàng đế (義皇帝), miếu hiệuThành Tông (成宗), điều mà chỉ duy nhất có ở nhà Thanh. Khi đến viếng tang, Thuận Trị Đế phải lạy ba lần trước mộ phần của Đa Nhĩ Cổn.

Năm 1651, những thế lực chống lại Đa Nhĩ Cổn, đứng đầu là cựu đồng Nhiếp chính vương Hòa Thạc Trịnh Thân Vương Tế Nhĩ Cáp Lãng, vốn bị Đa Nhĩ Cổn tước vị Nhiếp chính vào năm 1647, đã trình cho hoàng đế một danh sách dài các tội của Đa Nhĩ Cổn, bao gồm: Bí mật may hoàng bào (tuyệt đối chỉ dùng cho hoàng đế); Bày mưu cướp ngai vàng của Thuận Trị; Tự phong Hoàng phụ; giết Hào Cách và cướp thê thiếp của ông ta cho mình, v..v.... Nhiều người tin rằng Đa Nhĩ Cổn đã sắp đặt cuộc chiến giành quyền lực với Thuận Trị Đế khi Hoàng đế đã sang tuổi trưởng thành. Nên khi các thế lực chống Đa Nhĩ Cổn giành được quyền lực, Thuận Trị Đế đã tước mọi danh hiệu của Đa Nhĩ Cổn và còn đánh vào cả quan tài.

Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Trị Đế có sủng ái một phi tần là Đổng Ngạc thị (董鄂氏), xuất thân từ Mãn quân Chính Bạch kỳ. Với nhan sắc xinh đẹp và cử chỉ dịu dàng, Đổng Ngạc thị được Thuận Trị Đế sủng ái, dần phong nàng ta làm Hoàng quý phi, chức vị gần như ngang hàng với Hoàng hậu.

Hiếu Huệ Chương hoàng hậu Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, Hoàng hậu của Thuận Trị Đế bấy giờ là xuất thân từ Khoa Nhĩ Thẩm Mông Cổ, họ hàng của Hiếu Trang Hoàng thái hậu. Bên cạnh xuất thân cao quý, Hiếu Huệ hoàng hậu còn là cháu gái của Phế hoàng hậu lúc trước là con gái của Ngô Khắc Thiện (吳克善), cháu ruột của Hiếu Trang Thái hậu. Tuy Hiếu Huệ hoàng hậu hiền huệ, thục đức nhưng Thuận Trị Đế lại không thích bà, có ý phế truất, quyết định họp quần thần bàn chuyện. Song vì gia thế của Hoàng hậu mà việc quyết mãi không được, bèn thôi.

Ngày 12 tháng 11, 1657, Đổng Ngạc Hoàng quý phi hạ sinh một Hoàng tử, nhưng hoàng tử này mất sớm khi chưa tròn một tuổi. Thuận Trị Đế truy phong cho con của Đổng Ngạc phi làm Vinh thân vương (荣亲王). Cái chết sớm của đứa con đã tác động sâu sắc đến Đổng Ngạc Hoàng quý phi, dẫn đến cái chết của bà vào ngày 23 tháng 9, năm 1660 khi chỉ vừa 21 tuổi.

Sau khi Đổng Ngạc Hoàng quý phi mất, Thuận Trị Đế truy phong bà làm Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu (孝獻端敬皇后), dù bà không phải là Hoàng hậu chính thất tại vị, cũng như không phải sinh mẫu của một Hoàng đế. Điều này trái hẳn với điều lệ từ trước đến nay của nhà Thanh. Và bên cạnh đó, Chính cung của Thuận Trị Đế là Hiếu Huệ hoàng hậu vẫn còn sống.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 2, năm 1661, Thuận Trị Đế băng hà, do bệnh đậu mùa. Bấy giờ ông đau buồn quá độ sau cái chết của Đổng Ngạc hoàng quý phi nên sinh bệnh, khi qua đời ông chỉ vừa 24 tuổi. Có thuyết nói rằng, Thuận Trị Đế không hề qua đời mà chỉ bỏ trốn khỏi kinh thành, bỏ đi tu, lấy pháp hiệu là Hành Trí hòa thượng, không quan tâm đến cuộc sống trần thế vinh hoa phú quý nữa.

Sau khi Thuận Trị Đế băng, con ông là Tam hoàng tử Huyền Diệp kế vị, tức là Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Thái Tông Văn Hoàng đế Hoàng Thái Cực.
  • Thân mẫu: Hiếu Trang Văn hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (孝莊文皇后博爾濟吉特氏, 1613 - 1688), phi tần của Hoàng Thái Cực, Thuận Trị Đế tấn tôn làm Chiêu Thánh Từ Thọ Hoàng thái hậu (昭圣慈寿皇太后), Khang Hi Đế tấn tôn làm Thái hoàng thái hậu (太皇太后). Bà có vai trò quan trọng trong thời kì Thuận Trị Đế và Khang Hi Đế tại vị. Đặc biệt người ta cho rằng vì bà là sinh mẫu của Thuận Trị Đế, nên Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn dù có toàn quyền độc bá song vẫn tôn sùng và trung thành với Thuận Trị Đế. Chính việc tình cảm giữa Hiếu Trang Thái hậu và Đa Nhĩ Cổn mà khiến Thuận Trị Đế sau khi Đa Nhĩ Cổn chết đã truất hết phong tặng của Đa Nhĩ Cổn.
  • Hậu phi:
  1. Phế Hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (废后博尔济吉特氏), thuộc dòng họ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị của người Mông Cổ, cháu gái Hiếu Trang Thái hậu, cha là Trác Lễ Khắc Đồ Thân vương Ngô Khắc Thiện (卓礼克图亲王吴克善). Lập năm 1651 và bị phế năm 1653, do Thuận Trị Đế xung khắc với bà. Bà bị phế xuống làm Tĩnh phi (静妃).
  2. Hiếu Huệ Chương hoàng hậu Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (孝惠章皇后博尔济吉特氏, 1641 - 1718), thuộc dòng họ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị của người Mông Cổ. Cha bà là Bối lặc Xước Nhĩ Tế (绰尔济), cháu trai của Hiếu Trang Thái hậu, bản thân bà cũng là cháu họ của cả Thuận Trị Đế và Phế Hoàng hậu. Năm 1654, bà được lập làm Hoàng hậu. Sau khi Thuận Trị Đế băng hà, bà trở thành Nhân Hiến Hoàng thái hậu (仁憲皇太后) dưới thời Khang Hi hoàng đế.
  3. Hiếu Khang Chương hoàng hậu Đông Giai thị (孝康章皇后佟佳氏, 1640 - 1663), sinh mẫu của Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế. Sau trở thành Từ Hoà Hoàng thái hậu (慈和皇太后) dưới thời Khang Hy.
  4. Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu Đổng Ngạc thị (孝獻端敬皇后董鄂氏, 1639 - 1660), phi tần được Thuận Trị sủng ái nhất, con gái Nội đại thần Ngạc Thạc (臣鄂). Năm 1656, bà nhập cung và được sách phong làm Hiền phi (賢妃), cùng năm thăng vị Hoàng quý phi (皇貴妃). Năm 1657, Hoàng quý phi sinh hạ Hoàng tứ tử - Vinh Thân vương (荣亲王), Hoàng tử mất sớm khi chưa tròn 1 tuổi. Sau cái chết của Hoàng tử, bà mất không lâu sau đó, được truy phong làm Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu.
  5. Trinh phi Đổng Ngạc thị (贞妃董鄂氏, ? - 1661), con gái của Nhất đẳng A đạt Ha ha phiên Ba Độ (巴度), em họ của Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu. Bà là phi tần duy nhất tuẫn táng khi Thuận Trị Đế qua đời. Về sau, Khang Hi Đế truy phong làm Hoàng khảo Trinh phi (皇考贞妃).
  6. Thục Huệ phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (淑惠妃博尔济吉特氏, 1640 - 1713), có tên là Vinh Quý (荣贵), em gái của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu. Năm 1654 được sách phong làm Phi (không rõ phong hiệu). Khang Hi Đế lên ngôi, tôn làm Hoàng khảo Thục Huệ phi (皇考淑惠妃).
  7. Cung Tĩnh phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (恭靖妃博尔济吉特氏), có tên là Xuân Nhân (春儿), con gái của Đa La Ngạch Nhĩ Đức Ni quận vương Bác La Đặc (博罗特). Khang Hi Đế tôn phong làm Hoàng khảo Cung Tĩnh phi (皇考恭靖妃).
  8. Đoan Thuận phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (端顺妃博尔济吉特氏), có tên là Ngọc Hoa (玉华), con gái của Nhất đẳng Thai Cát Bố Đạt Hi Bố (布达希布). Khang Hi Đế tôn phong Hoàng khảo Đoan Thuận phi (皇考端顺妃).
  9. Ninh Khác phi Đổng Ngạc thị (宁悫妃董鄂氏), con gái của Trưởng sử Khách Tể Hải (喀济海), sinh Hoàng nhị tử Phúc Toàn. Khang Hi Đế tôn phong Hoàng khảo Ninh Khác phi (皇考宁悫妃).
  10. Khác phi Thạch thị (恪妃石氏, ? - 1666), con gái của Thị lại Bộ Thị lang Thạch Thân (石申).
  11. Điệu phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (悼妃博爾濟吉特氏, ? - 1658), con gái Hòa Thạc Đạt Nhĩ Hãn Thân vương Man Thù Tích Lễ (和碩達爾汗親王曼殊錫禮), bà là cháu gái Hiếu Trang Hoàng thái hậu, chị em họ của Thuận Trị Đế và Phế Hoàng hậu.
  12. Thứ phi Trần thị (庶妃陈氏, ? - 1690), sinh ra Cung thân vương Thường Ninh và Hoàng trưởng nữ. Khi Thuận Trị Đế sủng ái Hiếu Hiến Đoan kính hoàng hậu, Thứ phi âm mưu đố kị hãm hại, bị Hiếu Trang Thái hậu phát hiện và đày vào lãnh cung, Cung thân vương cũng không được vào thăm. Đến thời Khang Hi Đế thì Thứ phi chết, niệm tình xưa mà Khang Hi Đế truy phong làm Hoàng thái phi.
  13. Thứ phi Mục Khắc Đồ thị (庶妃穆克图氏), sinh hạ Hoàng bát tử Vĩnh Cán.
  14. Thứ phi Ba thị (庶妃巴氏), sinh Trưởng hoàng tử Ngưu Nữu và Hoàng ngũ nữ.
  15. Thứ phi Đường thị (庶妃唐氏), sinh Hoàng lục tử Kì Thụ.
  16. Thứ phi Nữu thị (庶妃钮氏), sinh Hoàng thất tử Long Hi.
  17. Thứ phi Dương thị (庶妃杨氏), sinh ra Hòa Thạc Cung Khác Trưởng công chúa.
  18. Thứ phi Ô Tô thị (庶妃乌苏氏), sinh Hoàng tứ nữ.
  19. Thứ phi Nạp Lạt thị (庶妃纳喇氏), sinh Hoàng lục nữ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Trị Đế có tổng cộng 8 hoàng tử, tuy nhiên chỉ có 4 người là còn sống đến tuổi trưởng thành, ngoài ra ông còn có 6 hoàng nữ.

  • Hoàng tử:
  1. Ngưu Nữu [牛钮; 1651 - 1652], mẹ là Thứ phi Ba thị, mất khi lên 1 tuổi.
  2. Phúc Toàn [福全; 1653 - 1703], mẹ là Ninh Khác phi, được phong Dụ Thân vương (裕親王) vào năm 1667.
  3. Huyền Diệp [玄燁], mẹ là Hiếu Khang Chương hoàng hậu, tức Thánh Tổ Nhân hoàng đế.
  4. Hoàng tứ tử [1657 - 1658], mẹ là Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu, chết yểu, truy phong Vinh Thân vương (榮親王).
  5. Thường Ninh (thân vương) [常寧; 1657 - 1703], mẹ là Thứ phi Trần thị, được phong Cung Thân vương (恭親王) vào năm 1771.
  6. Kì Thụ [奇授; 1660 - 1665], mẹ là Thứ phi Đường thị, chết khi lên 5 tuổi.
  7. Long Hi [隆禧; 1660 - 1679], mẹ là Thứ phi Nữu thị, được phong Thuần Thân vương (純親王) vào năm 1774.
  8. Vĩnh Cán [永幹; 1660 - 1667], mẹ là Thứ phi Mục Khắc Đồ thị, mất khi lên 8 tuổi.
  • Hoàng nữ:
  1. Hoàng trưởng nữ [1652 - 1653], mẹ là Thứ phi Trần thị.
  2. Hòa Thạc Cung Khác Trưởng công chúa [和硕恭悫长公主; 1654 - 1685], mẹ là Thứ phi Dương thị.
  3. Hoàng tam nữ [1653 - 1658], mẹ là Thứ phi Ba thị.
  4. Hoàng tứ nữ [1654 - 1661], mẹ là Thứ phi Ô Tô thị.
  5. Hoàng ngũ nữ [1654 - 1660], mẹ là Thứ phi Ba thị.
  6. Hoàng lục nữ [1657 - 1661], mẹ là Thứ phi Na Lạp thị.
  • Nghĩa nữ:
  1. Hòa Thạc Hòa Thuận công chúa [和硕和顺公主; 1648 - 1691], con gái của Thừa Trạch thân vương Thạc Tắc, mẹ là Phúc tấn Na lạp thị. Năm 1660, hạ giá lấy Thượng Chi Long, con trai của Bình Nam vương Thạc Khả Hỉ.
  2. Hòa Thạc Nhu Gia công chúa [和硕柔嘉公主; 1652 - 1673], con gái của An quận vương Nhạc Nhạc. Năm 1663, xuất giá lấy Cảnh Tụ Trung, cháu của Tĩnh Nam vương Cảnh Trọng Minh.
  3. Cố Luân Đoan Mẫn công chúa [固伦端敏公主; 1653 - 1729], con gái của Giản thân vương Tể Độ, mẹ là Phúc tấn Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, người Mông Cổ. Ban đầu phong là Hòa Thạc Đoan Mẫn công chúa (和硕端敏公主). Năm 1670, hạ giá lấy Ban Đệ (班第), một thân vương thuộc Khoa Nhĩ Thẩm bộ Mông Cổ. Thanh Thế Tông Ung Chính tấn tôn làm Cố Luân công chúa vào năm 1723.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]