Thuận Trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thuận Trị Đế
順治帝
清 佚名 《清世祖顺治皇帝朝服像》.jpg
Flag of the Qing Dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Tại vị 8 tháng 10, 1643 – 5 tháng 2, 1661
Đăng quang 8 tháng 10, 1643
Tiền nhiệm Thanh Thái Tông
Nhiếp chính Đa Nhĩ Cổn (16431650)
Tế Nhĩ Cáp Lãng (16431647)
Kế nhiệm Thanh Thánh Tổ
Thông tin chung
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La·Phúc Lâm
(愛新覺羅·福臨)
Mãn Châu: fulin ᡶᡠᠯᡳᠨ
Niên hiệu Thuận Trị (順治)[1][2]
Thụy hiệu Thể Thiên Long Vận Định Thống Kiến Cực Anh Duệ Khâm Văn Hiển Vũ Đại Đức Hoằng Công Chí Nhân Thuần Hiếu Chương hoàng đế
體天隆運定統建極英睿欽文顯武大德弘功至仁純孝章皇帝[3][4]
Miếu hiệu Thế Tổ (世祖)
Thân phụ Hoàng Thái Cực
Thân mẫu Hiếu Trang Văn hoàng hậu
Sinh 15 tháng 3, 1638(1638-03-15)
Thịnh Kinh, Liêu Đông
Mất 5 tháng 2, 1661 (22 tuổi)
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng Hiếu lăng, Thanh Đông lăng
Tôn giáo Đạo Phật
Thuận Trị
tên tiếng Trung
Phồn thể 順治皇帝
Giản thể 顺治皇帝
Tên tiếng Mông Cổ
tiếng Mông Cổ Эеэр Засагч хаан
Tên tiếng Mãn
Tiếng Mãn ᡳᠵᡳᠰᡥᡡᠨ
ᡩᠠᠰᠠᠨ
ᡥᡡᠸᠠᠩᡩᡳ

Hoàng đế Thuận Trị[nb 1] (15 tháng 3, 1638 – 5 tháng 2, 1661), tức Thanh Thế Tổ (清世祖), họ Ái Tân Giác La, tên Phúc Lâm[5], là hoàng đế thứ ba của nhà Thanh và là hoàng đế Mãn Châu đầu tiên cai trị đất nước Trung Hoa, từ 1644 đến 1661. Một Hội đồng quý tộc Mãn Châu đã đề cử ông lên ngôi đại thống kế vị vua cha, Hoàng Thái Cực (15921643), vào tháng 9 năm 1643, lúc đó ông mới có 6 tuổi. Các đại thần cũng cử ra trong tông thất hai người đồng Nhiếp chính: Đa Nhĩ Cổn (16121650), hoàng tử thứ 14 của hoàng đế khai quốc Nỗ Nhĩ Cáp Xích (15591626), cùng Tế Nhĩ Cáp Lãng (15991655), cháu trong họ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Sau khi Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực qua đời, một Hội đồng quý tộc Mãn Châu đã đề cử ông lên ngôi đại thống kế vị vào tháng 9 năm 1643, lúc đó ông mới có 9 tuổi. Các đại thần cũng cử ra trong tông thất hai người đồng Nhiếp chính: Duệ thân vương Đa Nhĩ Cổn - Hoàng tử thứ 14 của hoàng đế khai quốc Nỗ Nhĩ Cáp Xích, cùng Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng - cháu trong họ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Từ 1643 đến 1650, quyền lực chính trị phần lớn nằm trong tay Đa Nhĩ Cổn. Dưới sự lãnh đạo của ông ta, đế quốc Thanh đã công chiếm phần lớn lãnh thổ của vương triều Đại Minh (13681644) đang trên con đường suy vong, đẩy vua quan nhà Nam Minh chạy sâu xuống các tỉnh phía Nam, thiết lập nền thống trị của người Mãn Châu trên khắp lãnh thổ nước Trung Hoa bằng những chính sách gây mất lòng người như "lệnh cắt tóc" năm 1645, buộc tất cả nam giới Trung Quốc phải cạo nửa đầu và thắt phần tóc còn lại thành đuôi lớn theo phong tục của người Mãn Châu. Sau khi Đa Nhĩ Cổn qua đời vào cuối năm 1650, hoàng đế trẻ đích thân chấp chính. Ông làm việc nỗ lực và gặt hái một vài thành công trong việc chống nạn tham nhũng và hạn chế quyền lực của giới quý tộc Mãn Châu.

Những năm 1650, ông phải đối mặt với sự hồi phục của lực lượng phản Thanh phục Minh, nhưng cuối cùng đến năm 1661 nhà Thanh giành được thắng lợi cuối cùng, đánh bại đội quân cướp biển của Trịnh Thành Công (1624–1662) và Quế vương của Nam Minh (1623–1662), hai người này đều chết vào năm sau. Thuận Trị hoàng đế chết năm 24 tuổi vì bệnh đậu mùa, một bệnh truyền nhiễm không có thuốc chứa vào thời đó. Người kế vị ông, Tam A ca Huyền Diệp, đã sống sót qua căn bệnh đó và cai trị Trung Quốc 60 năm tiếp theo với niên hiệu Khang Hy.

Bởi vì những sử liệu ghi lại về thời Thuận Trị ít hơn những giai đoạn sau, nên 18 năm trị vì của ông tương đối ít được biết đến trong lịch sử nhà Thanh.

Hoàn cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung một người đàn ông Nữ Chân trong một bản khắc gỗ của nhà Minh năm 1609[6][7]

Những năm 1580, khi Trung Quốc đang ở những năm nửa cuối nhà Minh (13681644), một bộ lạc người Nữ Chân sống ở miền đông bắc nước Minh, là Mãn Châu dần phát triển lớn mạnh.[8] Sau một loạt chiến dịch quân sự từ những năm 1580 đến những năm 1610, Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người đứng đầu Kiến Châu Nữ Chân, thống nhất hầu hết các bộ lạc Mãn Châu dưới quyền của mình.[9] Một trong những cải cách lớn của ông là chia quân đội ra làm bốn với các màu cờ khác nhau (vàng, trắng, đỏ, xanh) làm hiệu, sau đó mỗi đội quân lại được chia ra làm hai, Chính kì và Tương kì, tổng cộng là Bát Kì.[10] Nỗ Nhĩ Cáp Xích trao quyền nắm giữ các Kì cho các con cháu của mình.[11]

Khoảng năm 1612, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lấy họ Ái Tân Giác La ("Giác La vàng"), để phân biệt với các nhánh khác trong dòng "Giác La" và tưởng nhớ đến nhà Kim, một triều đại của người Nữ Chân từng cai trị Trung Quốc từ 1115 đến 1234.[12] Năm 1616, Nỗ Nhĩ Cáp Xích li khai khỏi Minh triều, đặt quốc hiệu là Hậu Kim.[13] Trong những năm tiếp theo ông liên tục giành được chiến thắng, đoạt được phần lớn đất Liêu Đông từ tay nhà Minh.[14] Chuỗi chiến thắng đó kết thúc vào tháng 2 năm 1626; trong Trận Ninh Viễn đại tướng của Minh là Viên Sùng Hoán với sự trợ giúp của những khẩu pháo Bồ Đào Nha đã đánh cho quân Hậu Kim thảm bại.[15] Đau đơn vì thua trận, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thổ huyết mà chết chỉ vài ngày sau đó.[16]

Con trai và người kế vị của Nỗ Nhĩ Cáp XíchHoàng Thái Cực, tiếp tục công cuộc của phụ thân: ông ta thu hồi quyền lực về tay mình, cải tổ cơ chế triều đình Hậu Kim theo kiểu Trung Quốc, qua hôn nhân mà lập liên minh với người Mông Cổ và cho sáp nhập các lực lượng người Hán quy thuận vào trong Bát Kì.[17] Năm 1629 ông dẫn quân tiến sát thủ đô Bắc Kinh, bắt được những thợ thủ công của Trung Quốc biết cách chế tạo những khẩu pháp kiểu Âu châu.[18] Năm 1635, Hoàng Thái Cực đổi tên "Mãn Châu", và năm 1636 đổi quốc hiệu "Hậu Kim" sang "Thanh".[19] Sau khi chiếm hết toàn bộ những vùng đất còn lại của nhà MinhLiêu Đông, năm 1643 chuẩn bị tiến công nhà Minh ở phía nam, khi đó đang phải đối mặt với nợ nần, dịch bệnh, các cuộc nổi dậy nông dân trong nước và nạn đói lan rộng.[20]

Trở thành hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung toàn mặt of a corpulent man with a thin mustachio đội một chiếc mũ đỏ và khoác bào phục màu vàng có hình rồng, ngồi trên ngai vàng.
Hoàng Thái Cực, phụ thân của hoàng tử Phúc Lâm, qua đời vào năm 1643

Hoàng Thái Cực qua đời vào ngày 21 tháng 9 năm 1643 mà chưa kịp định ra người kế vị, khiến cho đế quốc Thanh đối mặt với một cuộc khủng hoảng.[21] Rất nhiều người muốn tranh ngôi báu, bao gồm con trai thứ hai và là người lớn tuổi nhất còn sống của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, tức Đại Thiện, con trai thứ 14 và 15 của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, Đa Nhĩ CổnĐa Đạc (đều là phu nhân A Ba Hợi sinh ra), và trưởng tử của Hoàng Thái CựcHào Cách.[22] Được sự ủng hộ từ hai em trai là Đa ĐạcA Tế Cách, Đa Nhĩ Cổn (31 tuổi) nắm trong tay hai kì Chính Bạch, Tương Bạch; Đại Thiện (60) quản lí hai kì Chánh Hồng, Tương Hồng, trong khi Hào Cách (34) nắm giữ hai kì Chánh Hoàng, Tương Hoàng của cha để lại.[23]

Cuộc tranh luận để tìm ra người sẽ trở thành tân hoàng đế của Đại Thanh diễn ra quyết liệt trong Hội nghị Nghị chánh Vương đại thần, cơ quan quyết định các chính sách quan trọng của nước Thanh trước khi Quân cơ xứ được lập ra những năm 1720.[24] Nhiều vương thân Mãn Châu cho rằng Đa Nhĩ Cổn, một nhà lãnh đạo quân sự tài giỏi đã được rèn giữa qua chiến trận, nên được cử làm tân hoàng đế, nhưng Đa Nhĩ Cổn từ chối và đề nghị lập trong số các con của Hoàng Thái Cực một người lên kế vị.[25] Để vừa công nhận uy quyền của Đa Nhĩ Cổn mà cũng giữ cho ngai vàng vẫn thuộc về dòng dõi Hoàng Thái Cực, các vương công đại thần đã lập con trai thứ chín của tiên hoàng, Hoàng tử Phúc Lân, làm tân hoàng đế, nhưng để cho Đa Nhĩ CổnTế Nhĩ Cáp Lãng (cháu trong họ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích và là người nắm giữ Tương Lam kì) làm nhiếp chính cho vị hoàng đế mới lên 5.[25] Phúc Lâm được trao vương miện hoàng đế của Thanh vào ngày 8 tháng 10 năm 1643, và đặt niên hiệu là "Thuận Trị."[26] Bởi vì sử liệu viết về giai đoạn này không nhiều, nên những năm trị vì của Thuận Trị là thời kì ít được biết đến trong lịch sử nhà Thanh.[27]

Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính (1643–1650)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung một người đàn ông râu rậm đội một chiếc mũ màu đỏ trang trí bằng lông chim, mặc áo dài màu đen có in hình rồng . Theo chiều kim đồng hồ từ phía dưới bên trái đến phía dưới bên phải, ông được vây quanh bởi một thanh gươm gắn trên sàn gỗ, chữ viết Mãn Châu trên tường, một con rồng ba móng và một con rồng năm móng (cũng được in trên tường), và một cái bàn gỗ với một hương án và một cuốn sách đặt trên đó.
Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn trong bộ quan phục hoàng triều. Ông trị vì như hoàng đế thực sự từ năm 1643 cho đến khi qua đời năm 1650, thời kì này nhà Thanh tiến hành chinh phạt Trung Quốc.

Trước khi nhập quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 2 năm 1644, Tế Nhĩ Cáp Lãng, một vị tướng có tài cầm quân nhưng không quan tâm đến các vấn đề chính sự, đã giao hầu hết mọi thực quyền cho Đa Nhĩ Cổn.[28] Sau khi âm mưu lật đổ các nhiếp chính của Hào Cách bị phát giác vào ngày 6 tháng 5 năm đó, Hào Cách bị tước danh hiệu Thân vương và những người cộng sự của ổng bị xử tử.[29] Đa Nhĩ Cổn nhanh chóng thay thế những người ủng hộ Hào Cách (phần lớn đến từ Hoàng kì) bằng người của mình, và do đó nắm lấy quyền kiểm soát thêm hai kì màu vàng.[30] Đầu tháng 6 năm 1644, gần như mọi quyền lực trong triều đình và quân đội rơi vào tay Đa Nhĩ Cổn.[31]

Đầu năm 1644, Đa Nhĩ Cổn và các cộng sự bàn kế xâm lược nước Minh, giữa lúc cuộc khởi nghĩa nông dân sắp đánh vào Bắc Kinh. Ngày 24 tháng 4 năm đó, thủ lĩnh khởi nghĩa Lý Tự Thành chiếm được kinh thành, Sùng Trinh hoàng đế lên núi Môi Sơn mà tự tận.[32] Nhận được tin tức, cố vấn người Tàu của Đa Nhĩ CổnHồng Thừa TrùPhạm Văn Trình (范文程; 1597–1666) khuyên ông ta nên chớp cơ hội để tiến vào Trung Quốc và đoạt lấy Thiên Mệnh về cho nhà Thanh.[33] Trở ngại cuối cùng trên đường đến cửa thành Bắc Kinh của Đa Nhĩ Cổn chính là Tổng binh Sơn Hải Quan (nằm ở phía đông Trường Thành) Ngô Tam Quế.[34] Bị kẹt giữa hai thế lực là Mãn ChâuLý Tự Thành, Ngô Tam Quế đã yêu cầu Đa Nhĩ Cổn giúp đỡ ông ta đánh bại nghĩa quân, phục dựng Minh đình.[35] Đa Nhĩ Cổn không chịu và đòi họ Ngô phải thần phục nhà Thanh, Tam Quế không có nhiều lựa chọn, nên phải đồng ý.[36] Đa Nhĩ Cổn quyết định đưa quân đến can thiệp giữa lúc họ Ngô và họ Lý đang kịch chiến, và giành chiến thắng lớn trước Lý Tự Thành tại Trận Sơn Hải quan ngày 27 tháng 5.[37] Quân của Lý Tự Thành vội vã chạy về Bắc Kinh, ra sức vơ vét cướp bóc cho đến khi Lý quyết định rút khỏi kinh thành vào ngày 4 tháng 6, mang theo tất cả của cải cướp được.[38]

Tiến vào Bắc Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Color photograph of a three-level stone structure with railings on each level, viewed from the outside, facing a staircase that leads to the top level.
Đền Thiên Đàn, nơi Thuận Trị hoàng đế tế lễ vào ngày 30 tháng 10 năm 1644, mười ngày trước khi ông chính thức xưng là Hoàng đế Trung Quppcs. Buổi lễ này đánh dấu sự kiện nhà Thanh chiếm lấy Thiên Mệnh.

Sau sáu tuần bị ngược đãi trong tay quân phiến loạn, phụ lão Bắc Kinh hồ hởi mở tiệc lớn chào đón những người giải phóng vào ngày 5 tháng 6.[39] Họ giật mình, khi thấy trước mắt không phải là Ngô Tam Quế và thái tử Đại Minh, mà là Đa Nhĩ Cổn, một người Mãn Châu cưỡi ngựa mang mũ trùm đầu, tự xưng là Nhiếp chính vương.[40] Giữa lúc hỗn loạn, Đa Nhĩ Cổn cùng quân của mình tiến vào điện Vũ Anh (武英殿), cung điện duy nhất còn nguyên vẹn sau sự kiện Lý Tự Thành phóng hỏa đốt hết Tử Cấm Thành vào ngày 3 tháng 6.[41] Quân đội Thanh được lệnh không được cướp bóc; nhằm đảm bảo cho việc chuyển giao chính quyền sang cho nhà Thanh diễn ra "một cách trơn tru."[42] Tuy tuyên bố rằng mình đến đây để trả thù cho nhà Minh, nhưng Đa Nhĩ Cổn lại hạ lệnh giết hết những người họ Chu có khả năng tuyên bố chủ quyền ngai vàng (bao gồm con cháu của hoàng đế Sùng Trinh) cùng với những người ủng hộ.[43]

Ngày 7 tháng 6, chỉ hai ngày sau khi nhập thành, Đa Nhĩ Cổn thông báo với các quan chức xung quanh kinh thành, rằng nếu dân chúng chấp nhận đầu hàng, thay đổi trang phục và cạo tóc, thì các quan chức vẫn sẽ được giữ nguyên chức.[44] Ông đã phải bãi bỏ lệnh này ba tuần sau đó khi một số cuộc nổi dậy nông dân bùng nổ xung quanh Bắc Kinh, đe doạ sự kiểm soát của nhà Thanh đối với vùng thủ đô.[45]

Đa Nhĩ Cổn đón Thuận Trị hoàng đế vào thành Bắc Kinh ngày 19 tháng 10 năm 1644.[46] Ngày 30 tháng 10, vị hoàng đế 6 tuổi làm lễ tế trời đất tại Đàn Tế trời (Thiên Đàn).[47] Nhánh hậu duệ Khổng Tử ở phía nam giữ chức Ngũ kinh Bác sĩ (五經博士) và hậu duệ đời thứ 65 của Khổng Tử ở phía bắc đang giữ tước Diễn Thánh công đều công nhận vào ngày 31 tháng 10.[47] Một nghi lễ chính thức được cử hành cho Phúc Lâm vào ngày 8 tháng 11, tại đây hoàng đế trẻ so sánh những công lao của Đa Nhĩ Cổn như Chu Công nhiếp chính ngày xưa.[48] Cũng trong hôm đó, phong hiệu của Đa Nhĩ Cổn được thăng từ "Nhiếp chính vương" thành "Thúc phụ Nhiếp chính vương" (叔父攝政王), mà theo phong tục Mãn Châu thì "Thúc phụ" (ecike) có địa vị cao hơn Thân vương bình thường một cấp.[49] Ba ngày sau, đồng Nhiếp chính Tế Nhĩ Cáp Lãng bị giáng hiệu là "Nhiếp chính vương" thành "Phụ chánh Thúc vương" (輔政叔王).[50] Tháng 6 năm 1645, Đa Nhĩ Cổn tuyên bố rằng về sau tất cả công văn phải gọi ông là "Hoàng thúc phụ Nhiếp chánh vương" (皇叔父攝政王), khiến ông ta chỉ còn cách ngai vàng một bước nhỏ.[50]

A black-and-white picture of a stone-paved alley going from bottom right to top left leading to a three-roofed gate and bordered on the right by a line up of small roofed cubicles open on one side.
Khung cảnh trường thi ở Bắc Kinh. Để tăng cường tính chính thống đối với giới tinh hoa Trung Quốc, nhà Thanh liền tổ chức khảo thí ngay sau khi tiến vào Bắc Kinh năm 1644.

Một trong những hành động đầu tiên của Đa Nhĩ Cổn tại thủ đô mới là sáp nhập tất cả những vùng phía bắc kinh đô vào Bát kì, bao gồm cả Hán quân kì.[51] Hai kì màu vàng được trao các cung điện phía bắc, hai kì màu trắng ở phía đông, hai kì màu đỏ ở phía tây, và hai kì màu Lam ở phía nam.[52] Sự phân bố này phù hợp với bố cục trước đây của người Mãn trước khi chinh phạt Trung Nguyên.[53] Mặc dù Thanh đình dùng chính sách miễn giảm thuế và xây dựng các công trình thổ mộc để thuận lợi cho việc chuyển giao, đến năm 1648, nhiều người Trung Quốc vẫn mang ý chống đối với những kẻ xâm lược dị tộc.[54] Những đất trồng trọt ở ngoài kinh thành bị nhà Thanh đánh dấu và thu giữ trao cho quân đội.[55] Những chủ đất trước đây bây giờ trở thành người ở thuê và phải trả thuế cho chủ đất người Mãn Châu.[55] Sự chuyển biến này đã gây ra "phá hoại và khổ nạn suốt nhiều thập kỉ sau đó."[55]

Năm 1646, Đa Nhĩ Cổn tổ chức khảo thí để tuyển chọn quan viên cho chính phủ mới. Từ đó cứ mỗi ba năm lại có một khoa thi, giống như chế độ thời nhà Minh. Khoa thi năm 1646, các sĩ tử, chủ yếu đến từ miền bắc Trung Quốc, bình luận về cách làm thế nào để người Hán và người Mãn có thể chung sống với nhau với cùng mục đích chung.[56] Đề của khoa thi năm 1649 là "làm sao để người Mãn và người Hán trở thành một, cùng chí hướng và nhất tâm làm việc với nhau."[57] Dưới thời Thuận Trị hoàng đế, số người đỗ trung bình trong mỗi khoa thi là cao nhất trong các đời vua Thanh ("trong ý đồ giành lấy sự ủng hộ từ giới văn nhân Trung Quốc"), cho đến 1660 thì triều đình mới hạn chế số người lấy đỗ.[58]

Để thúc đẩy sự hòa hợp giữa hai dân tộc, năm 1648, Đa Nhĩ Cổn ban hành sắc lệnh cho phép dân thường Hán có thể kết hôn với phụ nữ Mãn châu, nếu có sự chấp thuận của Bộ Hộ nếu người phụ nữ đó là con gái của quan lại hoặc thường dân, hoặc sự cho phép của trưởng tộc hai bên nếu họ là dân thường không có hộ khẩu. Chỉ sau này triều đình mới ban hành chính sách cho phép việc li hôn.[51][59][60]

Chinh phạt Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

A black-and-white print of an outdoor scene depicting a broken city wall and two destroyed houses, with several corpses lying on the ground (some beheaded), and two men with swords killing unarmed men.
Một bản khắc gỗ hậu kì nhà Thanh tái hiện vụ thảm sát Dương châu thập nhật năm 1645. Em trai của Đa Nhĩ Cổn, Dự thân vương Đa Đạc là người ra lệnh tiến hành đồ sát khiến cho dân chúng miền nam Trung Quốc sợ hãi. Đến cuối thế kỉ XIX cuộc thảm sát được những người cách mạng sử dụng để khơi dậy lòng căm hận của người Hán đối với người Mãn Châu.[61]

Dưới sự lãnh đạo của Đa Nhĩ Cỏn— người được các sử gia gọi là "chủ mưu cuộc chinh phạt" và "người có công lớn nhất tạo nên đế chế Mãn Châu"—nhaf Thanh đã đánh dẹp hầu hết các cuộc nổi loạn của người Hán và đẩy lùi chính quyền "Nam Minh" lưu vong xuống sâu hơn về phía nam nước Tàu. Sau khi đàn áp nghĩa quân ở Hà BắcSơn Đông vào hè-thu năm 1644, Đã Nhĩ Cổn cử quân đến thảo phạt Lý Tự Thành ở thành trì quan trọng Tây An (tỉnh Sơn Tây), nơi Tự Thành lập căn cứ sau khi mất Bắc Kinh đầu tháng 6 năm 1644.[62] Dưới áp lực của người Thanh, Sấm quan rút khỏi Tây An vào tháng 2 năm 1645, sau đó Tự Thành chết-có thể ông ta tự sát hoặc bị thôn dân tưởng là đạo tắc nên giết chết-vào tháng 9 năm 1645 sau khi trốn chạy lần lượt qua rất nhiều tỉnh.[63]

Sau khi chiếm được Tây An, vào đầu tháng 4 năm 1645 quân Thanh mở chiến dịch thu phục vùng đồng bằng trù phú Giang Nam (phía nam sông Dương Tử); tại đây vào tháng 6 năm 1644, các tướng lĩnh cũ của nhà Minh đã tôn lập một hoàng thân là Phúc vương Chu Do Tùng làm hoàng đế, gọi là nhà Nam Minh.[64] Những tranh chấp, mâu thuẫn và đào ngũ trong nội bộ chính quyền Nam Minh khiến họ liên tục thất bại.[65] Quân đội Thanh tiến về phía nam, đoạt lấy thành Từ Châu ở phía bắc sông Hoài vào tháng 5 năm 1645 và nhanh chóng tập trung về Dương Châu, cửa ngõ phòng thủ trọng yếu nhất của triều Minh.[66] Thành Dương Châu do Sử Khả Pháp trấn thủ từ chối đầu hàng, và thất thủ sau đó một tuần (ngày 20 tháng 5) trước sức công phá của đại pháo Mãn Thanh.[67] Nguyên soát nước Thanh là Đa Đạc (em ruột của Đa Nhĩ Cổn) hạ lệnh đồ sát toàn bộ dân chúng trong thành Dương Châu.[68] Đúng như dự định, cuộc thảm sát này đã khiến các thành trì khác ở Giang Nam sợ chết mà dâng đất hàng Thanh.[69] Thành Nam Kinh đầu hàng không kháng cự vào ngày 16 tháng 6 sau khi Đa Đạc tuyên thệ sẽ không tàn sát bá tánh.[70] Quân Thanh bắt sống được hoàng đế triều Minh (ông này chết ở Bắc Kinh vào năm sau) và thu phục các thành phố lớn ở Giang Nam, bao gồm Tô ChâuHàng Châu; trước đầu tháng 7 năm 1645, biên giới giữa nhà Thanhnhà Minh bị đẩy xuống phía nam sông Tiền Đường.[71]

A black-and-white photograph from three-quarter back view of a man wearing a round cap and a long braided queue that reaches to the back of his right knee. His left foot is posed on the first step of a four-step wooden staircase. Bending forward to touch a cylindrical container from which smoke is rising, he is resting his left elbow on his folded left knee.
Một người đàn ông ở Chinatown thuộc San Francisco những năm1900. Phong tục cạo đầu của người Trung Quốc bắt đầu từ sắc lệnh của Đa Đạc vào tháng 7 năm 1645 buộc tất cả đàn ông cắt hết phần tóc phía trước và tết phần còn lại thành bím theo kiểu của người Mãn.

Ngày 21 tháng 7 năm 1645, sau khi chinh phạt hầu hết đất Giang Nam, Đa Đạc ban lệnh cho tất cả đàn ông Trung Quốc phải cạo nửa đầu và thắt phần tóc còn lại thành hình đuôi lợn theo như phong tục của người Mãn Châu.[72] Hình phạt dành cho những kẻ không tuân theo là cái chết.[73] Chính sách này này giúp người Mãn châu kết bạn với kẻ thù.[74] Tuy nhiên đối với các quan chức và học giả người Hán, kiểu tóc mới này đáng xấu hổ và luồn cúi (vì nó vi phạm một nguyên tắc của đạo Nho là giữ gìn thân thể), trong khi với những người dân thường thì việc cắt tóc cũng giống như là đánh mất sự nam tính của họ.[75] Bởi vì phong tục để tóc của người Trung Quốc có thể khiến các lựa lượng kháng Thanh dễ dàng tập hợp lực lượng, ngăn cản cuộc chinh phạt của nhà Thanh.[76] Nhiều người dân ở Gia ĐịnhTùng Giang bị thảm sát bởi tướng cũ của Minh là Lý Thành Đông (mất 1649), tương ứng vào các ngày 24 tháng 822 tháng 9.[77] Thành Giang Âm cũng kiên thủ chống lại 10.000 quân Thanh trong 83 ngày. Khi tường thành bị công phá vào ngày 9 tháng 10 năm 1645, quân Thanh dưới quyền của phản tướng Minh là Lưu Lương Tá (mất 1667) đã đồ sát gần như toàn bộ dân số, khoảng 74.000 đến 100.000 người bị giết trong lần này.[78] Những cuộc thảm sát này đã đàn áp phong trào kháng Thanh ở hạ lưu sông Dương Tử.[79] Một vài người nhân vật còn trung thành với nhà Minh chọn cách trở thành ẩn sĩ, với ý nghĩ rằng khi những hành động quân sự không thành công, thì việc buông bỏ sự đời ít nhất sẽ tiếp tục thể hiện sự chống đối của họ đối với thế lực ngoại tộc.[79]

Sau khi Nam Kinh thất thủ, hai thành viên trong hoàng tộc nhà Minh lại nổi dậy lập ra hai chính quyền mới: một thế lực ở vùng Phúc Kiến là Long Vũ hoàng đế Chu Duật Kiện, tức Đường vương, hậu duệ đời thứ chín của hoàng đế khai quốc nhà Minh (Chu Nguyễn Chương)—chinhs quyền còn lại đóng tại Chiết Giang, cầm đầu là "Nhiếp chính" Lỗ vương Chu Dĩ Hải.[80] Nhưng cả haichanhs quyền này không chịu hợp tác với nhau, khiến cho cơ hội thành công của họ thậm chí còn thấp hơn so với Phúc vương trước kia.[81] Tháng 7 năm 1646, chiến dịch Nam phạt do Bác Lạc cầm đầu đã khiến chính quyền Lỗ vương lâm vào tình thế nguy ngập và đánh thẳng vào căn cứ của Đường vương ở Phúc Kiến.[82] Chu Duật Kiện bị vắt và hành quyết ở Đinh Châu (phía tây Phúc Kiến) vào ngày 6 tháng 10.[83] Con nuôi của ông ta là Quốc Tính Gia chạy thoát ra đảo Đài Loan.[83] Cuối cùng vào tháng 11, các trung tâm kháng chiến của nhà MinhGiang Tây đều rơi vào tay nhà Thanh.[84]

Black-and-white print of a man with small eyes and a thin mustache wearing a robe, a fur hat, and a necklace made with round beads, sitting cross-legged on a three-level platform covered with a rug. Behind him and much smaller are eight men (four on each side) sitting in the same position wearing robes and round caps, as well as four standing men with similar garb (on the left).
Chân dung của họa sĩ Johan Nieuhof. Nhân vật trong tranh là Thượng Khả Hỷ, người đã chiếm lại Quảng Châu từ lực lượng trung thành với triều Minh năm 1650. Ông ta cũng là một trong những vị tướng người Hán trong được nhà Thanh dùng để chinh phạt và quản lý miền nam Trung Quốc. Là một thế lực cát cứ ở miền nam, ông cuối cùng tham gia cuộc khởi nghĩa kháng Thanh của Ba phiên vào năm 1673.

Đến cuối năm 1646, hai vị hoàng đế khác của họ Chu được lập lên ở Quảng Châu, lấy niên hiệu là Thiệu Vũ và Vĩnh Lịch.[84] Vì không có đủ tiền mua quân trang, chính quyền Thiệu Vũ phải thuê quần áo từ các gánh hát địa phương.[84] Hai chính quyền này lại đánh nhau đến ngày 20 tháng 1 năm 1647, khi một đội uqana nhỏ của nhà Thanh do Lý Thành Đông dẫn đầu chiếm Quảng châu, giết Thiệu Vũ Đế, và buộc triều đình Vĩnh Lịch chạy trốn đến Nam Minh, Quảng Tây.[85] Tuy nhiên, vào tháng 5 năm 1648, Lý Thành Đông phản lại nhà Thanh, và một nổi dậy của một vị tướng khác ở Giang Tây đã giúp triều đình Vĩnh Lịch chiếm lại hầu hết miền nam Trung Quốc.[86] Nhưng sự trỗi dậy này không kéo dài được lâu. Quân Thanh lại tiến xuống khu vực trung tâm Hồ Quảng (nay là Hà BắcHà Nam), Giang TâyQuảng Đông trong các năm 16491650.[87] Hoàng đế Vĩnh Lịch lại phải bôn đào một lần nữa.[87] Cuối cùng vào ngày 24 tháng 11 năm 1650, quân Thanh do Thượng Khả Hỉ chỉ huy tiến chiếm Quảng Châu và đồ sát 70.000 người dân trong thành.[88]

Trong khi đó, vào tháng 10 năm 1646, quân Thanh do Hào Cách (con trai của Hoàng Thái Cực, mất quyền nối ngôi sau khủng hoảng kế vị năm 1643) tiến vào Tứ Xuyên, để tiêu diệt thế lực của loạn binh nông dân Trương Hiến Trung.[89] Trương Hiến Trung bị giết trong trận chiến với quân nhà Thanh ở gần Tây Sung trung tâm Tứ Xuyên vào ngày 1 tháng 2 năm 1647.[90] Cũng vào cuối năm 1646 ở phía bắc, lực lượng phản quân của thủ lĩnh Hồi giáo mà sử sách Trung Quốc gọi là Mã Lạt Ấn nổi lên chống lại nhà Thanh tại Cam Túc. Ông ta nhanh chóng hội quân với một người khác là Đinh Quốc Đống.[91] Họ tuyên bố mục tiêu khôi phục Minh đình, và tiến chiếm nhiều nơi ở Cam Túc, bao gồm cả thủ phủ Lan Châu.[91] Những cuộc nổi dậy này còn có sự tham gia của các những người không theo đạo, cho thấy họ không phải đứng lên vì mục đích tôn giáo.[91] Cả Mã Lạt ẤnĐinh Quốc Đống đều bị quân Thanh của Mạnh Kiều Phương (15951654) bắt và giết năm 1648, vào trước năm 1650 các cuộc nổi dậy của người Hồi giáo bị nghiền nát trong vũng máu.[92]

Thời kì thân chính (1651–1661)[sửa | sửa mã nguồn]

Truy tội Đa Nhĩ Cổn[sửa | sửa mã nguồn]

A painted image of the head and chest of a black-haired man with droopy eyes wearing a white-edged two-tiered red cap and a bright yellow garment whose lapels are decorated with five-clawed yellow dragons against a blue background with clouds and vegetation.
Chân dung hoàng đế Thuận Trị lúc trưởng thành

Cái chết bất ngờ của Đa Nhĩ Cổn trong một chuyến đi săn vào ngày 31 tháng 12 năm 1650 đã khơi mào cho một cuộc tranh chấp gây gắt giữa các phe phái trong triều và mở đường cho những cải cách chính trị sâu sắc về sau.[93] Bởi vì thế lực của những người ủng hộ Đa Nhĩ Cổn trong triều vẫn còn rất nhiều, Thuận Trị buộc phải tiến hành tang lễ ông ta theo nghi thức trang trọng nhất tại triều, và sau đó còn truy phong, là Thành Tông Nghĩa hoàng đế.[94] Trong những ngày đầu tháng 1 năm 1651, nhiều đại thần Bạch Kỳ, đứng đầu là đồng minh cũ của Đa Nhĩ Cổn, Ngô Bái, tiến hành bắt giữ anh ruột của Đa Nhĩ CổnA Tế Cách vì lo ngại ông ta sẽ dùng vũ lực đoạt chức Nhiếp chính; Ngô Bái và các cộng sự sau đó tự xưng là các chức quan đứng đầu trong các bộ, chuẩn bị đoạt quyền hành chính phủ.[95]

Trong khi đó, Tế Nhĩ Cáp Lãng, người bị phế trừ quyền Nhiếp chính năm 1647, tập hợp các quan chức Bát kỳ bất mãn với sự nắm quyền của Đa Nhĩ Cổn.[96] Để củng cố sự ủng hộ của dành cho hoàng đế ở hai kì Vàng (vốn trực tiếp nhập vào quyền quản lý của Đại Hãn (Hoàng đế) từ thời Hoàng Thái Cực) và khống chế những người trong Chánh Bạch Kỳ của Đa Nhĩ Cổn, Tế Nhĩ Cáp Lãng gọi đó là "Thượng tam kỳ" (phiên âm Mãn Châu: dergi ilan gūsa), trực tiếp nằm dưới quyền điều hành của hoàng đế.[97] Ngao BáiTô Khắc Cáp Táp, những người về sau làm Nhiếp chính cho hoàng đế Khang Hy từ 1661, là những người tích cực ủng hộ Tế Nhĩ Cáp Lãng, và Tế Nhĩ Cáp Lãng bổ nhiệm họ vào Nghị chính Vương đại thần để tưởng thưởng.[96]

Ngày 1 tháng 2, Tế Nhĩ Cáp Lãng tuyên bố hoàng đế Thuận Trị, năm đó 14 tuổi, trực tiếp nắm toàn quyền điều hành đế quốc.[96] Chế độ Nhiếp chính bị bãi bỏ. Tế Nhĩ Cáp Lãng đi nước cờ tiếp theo. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1651, ông ta kể tội Đa Nhĩ Cổn lấn lướt hoàng quyền: Dorgon bị kết tội và tước đi toàn bộ danh hiệu đã được trao tặng.[96] Tế Nhĩ Cáp Lãng tiếp tục trừng phạt những người ủng hộ Đa Nhĩ Cổn và trao các chức vụ quan trọng cho các thành viên trong Thượng Tam Kỳ, cho nên đến trước năm 1652 tất cả những người trong phe cánh của Nhiếp chính Vương bị giết hoặc đuổi khỏi chính phủ.[98]

Các phe phái tranh giành và cuộc chiến chống tham nhũng[sửa | sửa mã nguồn]

Painting of a bearded man dressed in dark robes (on the left), with two much smaller young men, one wearing his hair in a top-knot and carrying something rolled in red piece of cloth. The background is a winter scene.
Trang phục dành cho quan viên là một trong những vấn đề tranh luận nổi cộm dười thời Thuận Trị. Đại thần Trần Danh Hạ bị xử tử năm 1654 vì có ý khôi phục lại lối ăn mặc như dưới triều nhà Minh. Một ví dụ cho điều này được thể hiện trong bức tranh họa chân dung của Nghê Nguyên Lộ vẽ vào thế kỉ XVII.

Ngày 7 tháng 4 năm 1651, chỉ hai tháng sau khi trực tiếp nắm quyền, hoàng đế Thuận Trị ban chiếu nói rõ ý định của ông là thanh trừng tất cả những quan chức tham nhũng.[99] Lệnh này ngay sau đó đã khơi mào cho những chấp mới và khiến ông phải ân hận cho đến tận lúc chết.[100] Một trong những hành động đầu tiên của ông là cách chức Đại học sĩ Phùng Thuyên (馮銓; 1595–1672), một viên quan người Hoa Bắc bị kết tội năm 1645 nhưng rồi được tha và trọng dụng theo lệnh của Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn.[101] Thuận Trị hoàng đế dùng Trần Danh Hạ (16011654), một học giả người Hoa Nam có mối quan hệ khá tốt trong giới văn sĩ Giang Nam.[102] Mặc dù cuối năm 1651, Trần bị cách chức nhưng sớm được khởi phục năm 1653 và trở thành một cố vấn thân tín của nhà vua.[103] Ông còn được ban quyền hạn soạn thảo chiếu lệnh cho hoàng gia như một Đại học sĩ dưới triều Minh.[104] Rồi đến năm 1653, Thuận Trị hoàng đế gọi lại Phùng Thuyên về triều, mục đích của ông làm nhằm cân bắng ảnh hưởng giữa quan viên hai phe miền bắc với miền nam, nhưng sự trở lại này không đạt được như mong muốn của Thuận Trị, mà chỉ làm tăng mâu thuẫn trong nội bộ.[105] Trong nhiều cuộc tranh cãi tại triều năm 16531654, những quan chức miền nam đã hình thành một phe phái đối lập với người miền bắc và Mãn Châu.[106] Tháng 4 năm 1654, khi Trần Danh Hạ bàn với viên quan Hoa Bắc là Minh Hoàn Ngã (寧完我; chết năm 1665) về việc khôi phục lại lối trang phục như thời nhà Minh, Minh lập tức tố cáo Trần trước mặt hoàng đế về nhiều tội, như tham nhũng, lạm quyền, kết bè kết đảng...[107] Trần bị xử giảo vào ngày 27 tháng 4 năm 1654 1654.[108]

Tháng 11 năm 1757, một vụ bê bối thi cử diễn ra ở trường thi Thuận Thiên, Bắc Kinh.[109] Tám sĩ tử Giang Nam có quan hệ bà con với các quan ở Bắc Kinh đã hối lộ cho các giám thị để mong đạt kết quả cao trong kì đại khoa.[110] Bảy viên quan chấm thi bị kết tội ăn hối lộ và bị xử tử, và hàng trăm người khác bị lưu đày và tịch biên gia sản.[111] Những vụ bê bối như thế này, trước đó đã lan rộng ở Giang Nam, đến khi người ta điều tra ra những hành vi hối lộ và gian lận của các quan chức trong bộ máy chánh quyền, và nhiều quan chức miền bắc chỉ trích giới văn sĩ Giang Nam đã làm suy mòn các giá trị truyền thống.[112]

Chính sách với người Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian trị vì ngắn ngủi của mình, Thuận Trị hoàng đế khuyến khích người Hán tham gia vào các công việc của triều đình và khôi phục lại nhiều thể chế kiểu Trung Quốc đã bị bác bỏ trong thời kì nhiếp chính của Đa Nhĩ Cổn. Ông hăng hái bàn luận về lịch sử, kinh điển và chính trị với các học giả lớn như Trần Danh Hạ (xem phần trước) và cũng dùng những người trẻ tuổi mới nổi như Vương Hi (王熙; 1628–1703), một người Hán ở miền bắc, thông thạo tiếng Mãn Châu.[113] "Sáu sắc lệnh" (Lục dụ) mà Thuận Trị hoàng đế ban ra năm 1652 là tiền đề cho "Thánh dụ" (1670) của Khang Hy hoàng đế: "Chánh thống Nho gia tư tưởng đích ngạnh khái" tức là khuyến dụ trăm họ giữ gìn đạo hiếu và tuân thủ pháp luật.[114] Trong một động thái khác để lấy lòng người Hán, hoàng đế cho lập lại Viện Hàn lâmNội các năm 1658. Hai thể chế mô phỏng theo cơ cấu nhà Minh này đã phần nào làm xói mòn quyền lực của giới quý tộc Mãn Châu và có thể sẽ dẫn đến những đảng tranh giữa các phe phái như cuối thời Minh.[115]

Để hạn bớt đi quyền lực của Phủ Nội vụ và giới quý tộc Mãn Châu, vào tháng 7 năm 1653, Thuận Trị hoàng đế thành lập 13 nha môn, tuy trên danh nghĩa do người Mãn đứng đầu, nhưng thực chất là do các thái giám người HánBao y người Mãn khống chế, which were supervised by Manchus, but manned by Chinese eunuchs rather than Manchu bondservants.[116] Các hoạn quan bị kềm kẹp chặt chẽ dưới thời chấp chính của Đã Nhĩ Cổn, nhưng tiểu hoàng đế dùng họ để ngăn chặn những trung tâm quyền lực khác như Hoàng Thái hậu mẹ của ông và quan cựu Nhiếp chính Tế Nhĩ Cáp Lãng.[117] Cuối những năm 1650, quyền lực của thái giám trở nên lớn mạnh: họ xử lý các vấn đề chính trị và tài chính, đưa ra lời khuyên cho vua về các vấn đề chánh dự, và thậm chí ban hành cả các sắc chiếu chỉ.[118] Bởi vì hoạn quan làm ngăn cách hoàng đế với bộ máy quan liêu, nên các đại thần Mãn và Hán lo sợ vấn nạn hoạn quan lộng quyền gây hậu quả lớn như đã từng xảy ra với triều Minh sẽ lập lại.[119] Mặc dù hoàng đế cũng có những nỗ lực nhằm áp đặt các biện pháp quản lý các hoạt động của hoạn quan, thái giám cận thần của Thuận Trị là Ngô Lương Phụ, người từng giúp ông đánh bại phe phái của Đa Nhĩ Cổn đầu những năm 1650, bị bắt vì tội hối lộ năm 1658.[120] Nhưng sau đó Ngô chỉ bị khiển trách, cho thấy hoàng đế đã không biết cách trấn an phe quý tộc Mãn Châu, khiến phe quý tộc nhận ra rằng các thái giám trỗi dậy là uy hiếp đối với quyền họ của họ.[121] Mười ba nha môn bị bãi bỏ (và Ngô Lương Phụ bị xử tử) bởi Ngao Báicác viên phụ chánh vào tháng 3 năm 1661, không lâu sau khi Thuận Trị hoàng đế bỏ đi tu.[122]

Biên giới và ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

A black-and-white print depicting three standing men wearing turbans, a long robe with a sash, and shoes with rising pointed tips, against an architectural background of buildings with roofs that point upwards. The man on the left, slightly in the background, is carrying a long folded umbrella on his left shoulder. The one in the center, who faces the viewer, is resting on a cane. The man on the right, seen in profile view, faces the center man.
"Sứ thần Moghul" (sứ giả do hoàng thân nhà Mogul (Ấn Độ), đang cai trị Thổ Lỗ Phồn, cử tới Trung Quốc, được mô tả trong bức họa năm 1656 của các du khách người Hà Lan đến Bắc Kinh dưới thời Thuận Trị hoàng đế.[123]

Năm 1646, quân nhà Thanh dưới sự chỉ huy của Ngô Bái chiếm được Phúc châu, và bắt được sứ thần của các nước Lưu Cầu, An Nam, và sứ thần Tây Ban Nha đến từ thuộc địa Manila giải về Bắc Kinh.[124] Những sứ thần này được vua của họ cử đến để bái kiến Đường vương Nam Minh (Long Vũ hoàng đế). Sau đó triều đình nhà Thanh trao trả họ về nước và gửi kèm theo đó các bức thư yêu cầu vua của các nước trên phải thần phục nhà Thanh.[124] Sau đó các nước bắt đầu gửi sứ thần đến bái kiến và triều cống: Lưu Cầu năm 1649, Xiêm La năm 1652, và An Nam năm 1661, sau khi những tàn dư cuối cùng của triều Minh bị đuổi khỏi Vân Nam, vùng đất giáp với nước An Nam.[124]

Cũng năm 1646, Sultan Abu al-Muhammad Haiji Khan, hoàng thân nhà Mogul đang cai trị Thổ Lỗ Phồn, cử sứ giả đến yêu cầu nối lại giao thương với Trung Quốc vốn bị trì trệ vì chiến loạn cuối thời nhà Minh.[125] Tuy bức thư dùng lời lẽ không nhún nhường, nhưng nhà Thanh đã đồng ý nhận nó, và hai bên tiến hành đàm phánBắc KinhLan Châu (Cam Túc).[126] Nhưng thỏa thuận này bị phá vỡ bởi cuộc nổi loạn của người Hồi giáo ở miền tây bắc Trung Quốc năm 1646 (xem đoạn cuối của phần "Chinh phạt Trung Hoa" bên trên). Việc cống nạp và buôn bán với Cáp MậtThổ Lỗ Phồn, vốn bị gián đoạn bởi cuộc nổi dậy, được nối lại vào năm 1656.[127] Tuy nhiên, năm 1655, Thanh đình tuyên bố rằng người Thổ Lỗ Phồn chỉ phải cống nạp năm năm một lần.[128]

Color photograph of a white, bell-shaped building composed (from bottom to top) of a square base, three round disks of increasingly smaller diameter, a cut reverse cone, and a thinner tapering column with horizontal flutings crowned by the golden statue of a sitting figure. It appears to emerge from a forested area, against the background of a slightly cloudy blue sky.
Bạch tháp hình chuông, hiện nay vẫn còn có thể nhìn thấy tại Công viên Bắc HảiBắc Kinh, được ủy quyền xây dựng bởi hoàng đế Thuận Trị trong mục đích tôn vinh Phật giáo Tây Tạng.

Năm 1651, hoàng đế trẻ mời Lạt ma thứ 5, lãnh đạo Phái Hoàng mạo của Phật giáo Tây Tạng, người mà, với sự giúp đỡ quân sự từ Khoshot Gushri Khan của Mông Cổ, vừa mới thống nhất tôn giáo và các luật thế tục ở Tây Tạng.[129] Thanh hoàng vốn thường xuyên tiếp xúc Phật giáo Tây Tạng ít nhất từ năm 1621 dưới thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích, nhưng cuộc gặp gỡ này cũng có những lý do chánh trị của nó.[130] Cụ thể, Tây Tạng là một thế lực to ở phía tây đế quốc Thanh, và tiếng nói của Đại Lạt ma rất có ảnh hưởng tới các bộ lạc Mông Cổ, nhiều người trong số các lãnh chúa Mông chưa chịu quy phục Thanh.[131] Để chuẩn bị chào đón vị "Phật sống," Thuận Trị hoàng đế ra lệnh xây dựng Bạch Tháp ở đảo Quỳnh Hoa phía tây bắc Tử Cấm Thành, nơi mà trước đó là cung điện cũ của Đại Hãn Hốt Tất Liệt.[132] Sau nhiều lời mời cùng các cuộc trao đổi sứ thần, cuối cùng phía Tây Tạng đã đồng ý, và Đạt Lạt mà đến Bắc Kinh vào tháng 1 năm 1653.[133] Đại Lạt ma sau đó có chuyến thăm đến Cung điện PotalaLhasa, nơi mà ông bắt đầu xây dựng năm 1645.[134]

Trong khi đó, ở phía bắc Mãn Châu, các nhà thám hiểm Vassili Poyarkov (16431646) và Yerofei Khabarov (16491653) bắt đầu chuyến thám hiểu thung lũng sông Amur theo lệnh của Nga vương. Năm 1653 Khabarov được triệu hồi trở về Moskva và thay vào vị trí đó là Onufriy Stepanov, người nắm quyền chỉ huy lực lượng Cossack của Khabarov.[135] Stepanov đi về phía nam đến lưu vực sông Sungari, ở đó ông đòi những người dân bản địa như người DaurDurchers phải dâng nộp "yasak" (lông thú), nhưng những nhóm này từ chối vì họ chỉ cống nạp cho hoàng đế Thuận Trị ("Shamshakan" theo các nguồn tiếng Nga).[136] Năm 1654 Stepanov đánh bại một lực lượng nhỏ người Mãn Châu được cử đến từ Ningguta để thăm dò tình hình phía Nga.[135] Năm 1655, một tướng lĩnh khác của nhà Thanh, Minh An Đạt Lễ (chết 1669), đánh bại lực lượng của Stepanovtaij pháo đài Kumarsk trước bờ sông Amur, nhưng những điều này không khiến người Nga lùi bước.[137] Năm 1658, tuy nhiên, tướng người Mãn là Sa Nhĩ Hổ Đạt (15991659) tấn công Stepanov bằng hạm đội 40 chiến thuyền (hoặc nhiều hơn), toàn bộ quân Nga bị bắt hoặc giết.[135] Chiến thắng này giúp người Thanh đẩy lùi quân giặc khỏi thung lũng Amur thuộc Cossack band, nhưng Xung đột biên giới Nga-Thanh vẫn tiếp tục cho đến khi kí kết Hiệp ước Nerchinsk phân định biên giới Nga và Thanh dưới thời Khang Hy hoàng đế.[135]

Tiếp tục chiến dịch tiêu diệt Nam Minh[sửa | sửa mã nguồn]

A map of southern China showing provincial boundaries in black, with a blue line running between several cities marked with a red dot.
Hành trình tháo chạy của Hoàng đế Vĩnh Lịch-vua cuối triều Nam Minh từ 1647 đến 1661. Ranh giới tỉnh và quốc gia trên bản đồ trùng với ranh giới ngày nay của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Mặc dù quân Thanh dưới thời Đa Nhĩ Cổn đã đẩy chính quyền Nam Minh tháo chạy xa về cực nam Trung Quốc, nhưng lực lượng trung thành với nhà Minh vẫn còn âm ỉ hoạt động. Đầu tháng 8 năm 1652, Lý Định Quốc, người từng phục vụ dưới quyền tên cướp Trương Hiến Trung (chết 1647) ở Tứ Xuyên đã về hàng Quế vương của Nam Minh, đoạt lại Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây) từ tay nhà Thanh.[138] Trong chưa tới một tháng, hầu hết các viên tướng của nhà ThanhQuảng Tây trở về với nhà Minh.[139] Mặc dù giành được một số thắng lợi quân sự ở Hồ QuảngQuảng Đông trong vòng hai năm tiếp theo, Lý lại không thể chiếm lại được các trọng trấn.[138] Năm 1653, Thanh đình phái Hồng Thừa Trù đến phụ trách việc tái chiếm miền tây nam.[140] Hồng Thừa Trù đóng quân tại Trường Sa (nay thuộc tỉnh Hồ Nam), và dần xây dựng lực lượng; chỉ đến cuối năm 1658 quân đội Thanh đã được trang bị đầy đủ và sẵn sàng tái chiếm Quý ChâuVân Nam.[140] Cuối tháng 1 năm 1659, quân Thanh do Đạc Ni lãnh đạo chiếm kinh thành Vân Nam, buộc Quế vương (Vĩnh Lịch) chạy trốn đến biên giới Miến Điện, khi đó nằm quyền cai trị của Vua Pindale Min của Vương triều Toungoo.[140] Vị vua cuối cùng của Nam Minh ở đây cho đến năm 1662, khi ông bị bắt và hành quyết bởi Ngô Tam Quế, tướng cũ của nhà Minh đã về hàng người Mãn Châu vào tháng 4 năm 1644 khi Đa Nhĩ Cổn khởi động cuộc chinh phạt Trung Nguyên.[141]

Trịnh Thành Công ("Quốc Tính gia"), người đã xưng thần với Đường vương năm 1646 và sau đó là Quế vương năm 1655, tiếp tục nâng cờ nghĩa khôi phục Minh đình.[142] Năm 1659, khi Thuận Trị hoàng đế chuẩn bị tổ chức kì đại khoa để tôn vinh triều đại của ông và những thành tích quân sự ở miền tây nam, thì Quốc tính gia cùng quân đội được trang bị kĩ lưỡng đi thuyền đến lưu vực sông Dương Tử đang thuộc quyền kiểm soát của Thanh, và sau đó đe dọa đến Nam Kinh.[143] Khi hoàng đế nghe tin về cuộc tấn công bất ngờ này, ông được cho là đã dùng kiếm chém vào ngai vàng trong sự tức giận.[143] Nhưng cuộc bao vây Nam Kinh bị đánh bại và Trịnh Thành Công phải rút lui về vùng duyên hải phía đông nam Phúc Kiến.[144] Bị áp lực bởi thủy quân Thanh, Quốc Tính gia tháo chạy về Đài Loan vào tháng 4 năm 1661 nhưng qua đời vào cùng năm.[145] Hậu duệ của ông vẫn tiếp tục chống Thanh đến năm 1683, năm mà Khang Hy hoàng đế chinh phục thành công đảo Đài Loan.[146]

Tính cách và quan hệ cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Color print of a man with a long white beard wearing a double-edged round cap and dressed in a long robe, who is pointing a compass to a celestial globe that is sitting on a table on the left.
Johann Adam Schall von Bell, một nhà truyền giáo [dòng Tên] được Thuận Trị hoàng đế gọi là mafa ("ông trong" tiếng Mãn).

Sau khi Phúc Lâm lên thân chinh năm 1651, mẫu thân ông, Thái hậu Hiếu Trang xếp đặt hôn sự cho ông với cháu gái của bà, nhưng vị vua trẻ nhanh chóng phế bỏ vị hoàng hậu này năm 1653.[147] Năm sau Hiếu Trang lại sắp xếp một hôn sự khác cho hoàng đế với nhà mẹ của mình là tộc Khoa Nhĩ Thẩm, Mông Cổ.[147] Dù Phúc Lâm cũng chẳng ưa gì hoàng hậu thứ hai (Hiếu Huệ Chương hoàng hậu), nhưng ông dường như không được phép phế bỏ bà ta. Hoàng hậu không sinh được bất kì đứa con nào.[148] Từ năm 1656, Thuận Trị hoàng đế sủng ái một vị quý phi họ Đổng Ngạc, một người được cho là giáo đồ dòng Tên, và từng là vợ của một quý tộc Mãn Châu.[149] Đổng Ngạc phi hạ sinh cho Thuận Trị một người con trai (Tứ A ca) vào tháng 11 năm 1657. Hoàng đế dự định tấn phong Tứ A ca làm Trừ quân, nhưng vị hoàng tử này chết yểu vào đầu năm 1658 khi vẫn chưa được đặt tên.[150]

Thuận Trị hoàng đế là một người cởi mở, ông lắng nghe lời tư vấn từ Johann Adam Schall von Bell, một nhà truyền giáo dòng Tên từ Cologne thuộc Đức, Thánh chế La Mã, người đã giảng giải cho ông các vấn đề về thiên văn học, kĩ thuật liên quan đến tôn giáochính phủ.[151] Cuối năm 1644, Đa Nhĩ Cổn giao cho Schall chuẩn bị chế ra một loại lịch mới vì những dự báo của ông về nhật thực chính xác hơn nhiều so với các nhà âm dương Trung Quốc.[152] Sau Đa Nhĩ Cổn chết, Schall vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với hoàng đế trẻ, và hoàng đế gọi ông là "ông" (mafa tiếng Mãn Châu).[153] Khi ở đỉnh cao quyền lực giai đoạn 1656 đến 1657, Schall báo cáo rằng Thuận Trị hoàng đế thường đến nhà của ông và đàm luận với ông đến tận khuya.[151] Ông được hoàng đế ban lệnh miễn tội, được ban đất để xây một nhà thờBắc Kinh, và được quyền nhận con nuôi (vì Phúc Lâm lo lắng cho Schall không có người thừa kế), nhưng hy vọng của dòng Tên về việc cải đạo cho quân vương nhà Thanh sang đạo Thiên Chúa bị thất bại khi Thuận Trị hoàng đế trở thành một Phật tử mộ đạo từ năm 1657.[154]

Hoàng đế tỏ ra là một nhà lãnh đạo tốt, quản lý thành công các vấn đề nhà nước, và ông đánh giá cao các nghệ thuật truyền thống của người Hán như thư phápkịch.[155] Một trong số những tác phẩm mà ông yêu chuộng là Vạn sầu khúc của Quy Trang (16131673), vốn là bạn thân của những học giả chống Thanh như Cố Viêm VũVạn Thọ Kỳ (16031652).[156] "Khá nhiệt tình và đánh giá cao tình yêu," ông cũng có thể đọc thuộc lòng những đoạn dài của những tác phẩm Văn học lãng mạn phương Tây.[155]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 2, năm 1661, Thuận Trị Đế băng hà, do bệnh đậu mùa. Bấy giờ ông đau buồn quá độ sau cái chết của Đổng Ngạc hoàng quý phi nên sinh bệnh, khi qua đời ông chỉ vừa 22 tuổi. Có thuyết nói rằng, Thuận Trị Đế không hề qua đời mà chỉ bỏ trốn khỏi kinh thành, bỏ đi tu, lấy pháp hiệu là Hành Trí hòa thượng, không quan tâm đến cuộc sống trần thế vinh hoa phú quý nữa.

Sau khi Thuận Trị Đế băng hà, con ông là Tam hoàng tử Huyền Diệp kế vị, tức là Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế. Ông được truy thụy hiệu là Thể Thiên Long Vận Đỉnh Thống Kiến Cực Anh Duệ Khâm Văn Hiến Vũ Đại Đức Hoằng Cung Chí Nhân Sơ Hiếu Chương hoàng đế (體天隆運定統建極英睿欽文顯武大德弘功至仁純孝章皇帝), miếu hiệuThế Tổ (世祖), an táng tại Hiếu Lăng (孝陵) thuộc Thanh Đông Lăng, Tuân Hóa.

Qua đời và người kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Grainy photograph of twelve slightly elongated round lumps clustered together.
Vi-rút đậu mùa nhìn qua kính hiển vi điện tử. Người Mãn không có khả năng miễn dịch với chủng vi-rut này. Hoàng đế Thuận Trị đã chết vì bệnh đậu mùa, trong khi người kế vị ông, Huyền Diệp, đã sống sót qua đợt dịch bệnh.

Phát bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1660, Đổng Ngạc phi, người mà Thuận Trị hoàng đế thương yêu nhất trong số phi thiếp, bất ngờ qua đời, có lẽ do đau buồn quá độ sau khi mất con.[143] Hoàng đế đắm chìm trong sự đau buồn và bỏ bê triều chánh trong nhiều tháng, đến khi ông mắc bệnh đậu mùa vào ngày 2 tháng 2 năm 1661.[143] Ngày 4 tháng 2 năm 1661, Thị lang Lễ bộ Vương Hy (16281703; tâm phúc của hoàng đế) và Nội các học sĩ Ma Lặc Cát được triệu tới giường bệnh nghe di chỉ của hoàng đế.[157] Cùng ngày hôm đó, người con trai thứ ba mới 7 tuổi của ông, Huyền Diệp được chọn làm người kế vị, có thể là vì cậu bé là người đã sống sót qua căn bệnh đậu mùa.[158] Hoàng đế qua đời vào ngày 5 tháng 2 năm 1661 ở Tử Cấm Thành, năm đó chỉ mới 22 tuổi.[143]

Người Mãn rất lo sợ bệnh đậu mùa hơn bất kì căn bệnh nào khác vì họ hoàn toàn không có khả năng miễn dịch và gần như chắc chắn sẽ chết nếu nhiễm bệnh.[159] Vào năm 1622 họ đã thành lập một cơ quan để điều tra các trường hợp bệnh đậu mùa và cách ly những người bị bệnh để tránh lây nhiễm.[160] Trong thời gian có dịch bệnh, các thành viên hoàng tộc thường được gửi tới Tị đậu sở để tránh lây nhiễm.[161] Thuận Trị hoàng đế rất sợ hãi căn bệnh này, vì ông còn trẻ và sống ở một thành phố lớn, gần nguồn lây bệnh.[161] Thật vậy, dưới thời của ông đã có chín lần Bắc Kinh phát dịch đậu mùa, mỗi lần như vậy hoàng đế thường bị gửi tới những nơi an toàn như Nam Uyển, một trường săn bắn ở Bắc Kinh được Đa Nhĩ Cổn xây dựng thành Tị đậu sở những năm 1640.[162] Dù cho những biện pháp phòng ngừa như vậy-cũng như nhiều lần ra lệnh buộc người bệnh phải dời khỏi thành-vị hoàng đế trẻ vẫn không thoát khỏi việc phát bệnh.[163]

Di chiếu giả[sửa | sửa mã nguồn]

Full-face painted portrait of a severe-looking sitting man wearing a black-and-red round cap adorned with a peacock feather and dressed in dark blue robes decorated with four-clawed golden dragons.
Chân dung Ngao Bái mặc quan phục. Ông này là một trong bốn viên quan được cử làm Phụ chánh cho hoàng đế Khang Hy mới lên 8 tuổi.

Theo di chỉ cuối cùng của hoàng đế, được thông cáo vào ngày 5 tháng 2, bốn đại quan được cử làm phụ chánh cho Huyền Diệp: Ngao Bái, Sách Ni, Át Tất Long, và Tô Khắc Táp Cáp, những đồng minh của Tế Nhĩ Cáp Lãng thời kì sau khi Đa Nhĩ Cổn chết (cuối năm 1650).[164] Có vẻ khó khăn để xác định liệu có phải Thuận Trị hoàng đế đã trao quyền chấp chánh cho bốn người kia hay không, bởi vì họ và Thái hậu Hiếu Trang rõ ràng đã thay đổi di chỉ trước khi công bố, thậm chí là ngụy tạo nó.[165] Trong di chúc, hoàng đế bày tỏ sự hối lỗi của mình về việc cải cách chế độ theo kiểu người Hán (phụ thuộc vào các hoạn quan và trọng dụng các quan chức người Hán), xa lánh các quý tộc Mãn Châu, và quá sủng ái Đổng Ngạc phi mà bỏ bê thân mẫu.[166] Tờ di chiếu đã đưa bốn vị phụ chánh trở thành những người nắm quyền lực thực tế, và họ cho phục hồi nhiều chánh sách cũ, tình hình này kéo dài tám năm, từ 1661 đến 1669.[167]

Sau khi qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi vì triều đình không hay biết gì về tình hình lúc hoàng đế băng hà, người ta rộ lên tin đồn rằng ông không chết mà bỏ lên núi và cạo đầu trở thành một nhà sư, bởi ông quá chán nản sau cái chết của người sủng phi mà ông thương yêu, và bằng một cuộc đảo chính nào đó mà các quý tộc Mãn Châu giả di mệnh của ông để đã đoạt lấy, quyền nhiếp chính.[168] Những tin đồn này không phải là vô căn cứ vì hoàng đế trở nên rất mộ đạo Phật từ cuối những năm 1650, thậm chí ông còn cho phép các nhà sư ra vào cung điện.[169] Các sử gia Trung xếp cái chết không rõ ràng của hoàng đế Thuận Trị là một trong ba bí ẩn lớn đầu đời nhà Thanh.[170] Nhưng nhiều bằng chứng liên quan - bao gồm cả một ghi chép của một nhà sư đều ghi rằng sức khỏe của hoàng đế đã xấu đi rất nhiều vào đầu tháng 2 năm 1661 vì bệnh đậu mùa, và một vị phi tử (Trinh phi) và một thị vệ đã tự sát để cùng hoàng đế về thế giới bên kia.[171]

Sau 27 ngày quàn trong Tử Cầm Thành, đến ngày 3 tháng 3 năm 1661, quan tài của hoàng đế được chuyển đến Cảnh Sơn (một ngọn đồi ngay phía bắc thành Tử Cấm) với một đám rước long trọng, và nhiều món đồ quý giá bị đốt đi trong ngày tang lễ.[172] Chỉ hai năm sau, năm 1663, linh cữu của Phúc Lâm được đưa đến nơi yên nghỉ cuối cùng.[173] Trái ngược với phong tục hỏa táng theo truyền thống của người Mãn Châu, di hài của Thuận Trị không bị đốt đi mà được chôn xuống lòng đất.[174] Nơi yên nghỉ của ông về sau gọi là lăng Thanh Đông, cách kinh thành Bắc Kinh 125 ki-lô-mét (75 dặm) về phía đông bắc, đâu là một trong hai lăng tẩm lớn của nhà Thanh.[175] Ngôi mộ của ông là lăng mộ đầu tiên được xây dựng trong quần thể Hiếu lăng (trong tiếng Mãn Châu là Hiyoošungga Munggan), nơi được xây dựng để táng cho Thuận Trị cùng các phi tử của ông.[175]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

A painting in which a yellowish river flows diagonally from the bottom left to the top right, with one road on each side. On the side of both roads are gray-roofed houses. Those on the other side of the river have counters that open directly on the river. There are dozens of people dressed mostly in blue on both roads and crossing a bridge in the foreground. Several barges with canopies are on the water.
Khang Hy hoàng đế ba lần tuần du Giang Nam vào các năm 1684, 1689 (mô tả trong bức tranh), và 1699 — nhằm khảng định uy tín và quyền lực của triều đại nhà Thanh sau khi họ vừa đánh bại loạn Tam phiên.[176]

Tờ di chiếu giả ghi rằng hoàng đế Thuận Trị đã hối hận sâu sắc trước việc từ bỏ phong tục truyền thống của Mãn Châu, và bốn phụ chánh dùng việc đó để đưa triều đình trở lại với chính sách thời Hậu Kim.[177] Dùng những lời trong di chiếu, Ngao Bái và các phụ chánh khác nhanh chóng giải tán 13 nha môn.[178] Trong mấy năm tiếp theo, họ chiếm quyền hành trong Phủ Nội vụ, vốn được điều hành bởi người Mãn Châu và các hoạn quan, loại bỏ Viện Hàn lâm, và giới hạn thành viên của Nghị chánh Vương đại thần chỉ trong nội bộ người Mãn Châu và người Mông Cổ.[179] Các nhiếp chính cũng áp dụng những biện pháp ứng rắn đối với các thần dân Trung Quốc: họ xử tử hàng chục người và trừng phạt hàng ngàn người khác ở Giang Namvụ án viết Minh sử và tội trốn thuế, và buộc người dân miền đông nam di dời vào sâu trông nội địa nhằm cô lập Đảo Đài Loan - tức Vương quốc Đông Ninh do con trai của Quốc tính gia là Diên Bình quận vương đang nắm quyền.[180]

Sau khi Khang Hy hoàng đế bắt giam Ngao Bái năm 1669, ông khôi phục nhiều cải cách của Thuận Trị hoàng đế.[181] Nhiều cơ quan, chức quan được khôi phục lại, bao gồm Đại học sĩ, nhờ vào đó mà người Hán có được nhiều tiếng nói hơn trong chánh phủ.[182] Ông cũng tiêu diệt thành công loạn Tam phiên, do ba viên tướng người Hán đã về hàng và góp công lớn trong cuộc chinh phạt của người Mãn, được phong phiên vương và nắm giữ các vùng đất quan trọng ở miền nam Trung Quốc.[183] Loạn Tam phiên (16731681) cho thấy vẫn còn sự chống đối mạnh mẽ với chính quyền mới, song quân Thanh cuối cùng đàn áp được.[184] Khi sắp giành được thắng lợi, nhà Thanh tổ chức khoa Bác học hồng nho năm 1679 để thu hút giới văn sĩ Trung Quốc còn ẩn dật đến phục vụ cho triều đại mới.[185] Những người trúng tuyển được giao nhiệm vụ biên soạn Minh sử.[183] Cuộc nổi loạn bị đánh bại năm 1681, cùng năm đó Khang Hy hoàng đế chuẩn cho dùng vắc-xin phòng ngừa đậu mùa cho các trẻ em trong hoàng thất.[186] Sau khi đánh bại Vương quốc Đông Ninh vào năm 1683, thì xem như cuộc chinh phạt Trung Quốc của người Mãn đã hoàn thành.[183] Nền tảng do Đa Nhĩ Cổn, Thuận Trị hoàng đế và Khang Hy hoàng đế dựng lên giúp cho nhà Thanh trở thành một thể chế hùng mạnh, "một trong những đế quốc thành công nhất trên thế giới."[187] Tuy nhiên, trớ trêu thay, nền hòa bình lâu dài sau đó đã khiến nhà Thanh không có sự chuẩn bị thỏa đáng cho cuộc đương đầu với các cường quốc Tây phương vào thế kỉ XIX.[188]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù trong sổ sách phủ tôn nhơn của nhà Ái Tân Giác La chỉ ghi nhận 19 người thê thiếp của Thuận Trị, các nguồn khác cho thấy ông có ít nhất 32 hậu cung.[189] 12 người trong số họ sinh được con. Cả hai hoàng hậu của ông, đều là thân tộc của thái hậu Hiếu Trang. Sau cuộc chinh phạt năm 1644, những phi tần hậu cung thường được gọi bằng phong hiệu và tên gia tộc của họ, thay vì dùng tên.[190]

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Sinh Mất Cha Ghi chú
Phế hậu
Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị
? Trác Lễ Khắc Đồ Thân vương Ngô Khắc Thiện (吴克善) Thuộc dòng họ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị của người Mông Cổ, cháu gái Hiếu Trang Thái hậu.

Lập năm 1651 và bị phế năm 1653, do Thuận Trị Đế xung khắc với bà. Bà bị phế xuống làm Tĩnh phi (静妃). Không rõ kết cục ra sao.

Hiếu Huệ Chương hoàng hậu
Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị
5 tháng 11, năm 1641
7 tháng 1, năm 1718
(77 tuổi)
Bối lặc Xước Nhĩ Tế (绰尔济) Thuộc dòng họ Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị của người Mông Cổ. Cha bà là cháu trai của Hiếu Trang Thái hậu, bản thân bà cũng là cháu họ của cả Thuận Trị Đế và Phế Hoàng hậu. Năm 1654 bà được lập làm Hoàng hậu. Bị Thuận Trị Đế ghẻ lạnh, không con.

Sau khi Thuận Trị Đế băng hà, bà trở thành Nhân Hiến Hoàng thái hậu (仁憲皇太后) dưới thời Khang Hi hoàng đế.

Hiếu Khang Chương hoàng hậu
Đông Giai thị
1640
20 tháng 3, năm 1663
(23 tuổi)
Đô thống Đông Đồ Lại (佟圖賴) Người Hán, nhập cung vị Thứ phi, sau ban thành Khang phi (康妃). Sinh duy nhất 1 đứa con là Thanh Thánh Tổ Khang Hi hoàng đế.

Sau trở thành Từ Hoà Hoàng thái hậu (慈和皇太后) dưới thời Khang Hi hoàng đế.

Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu
Đổng Ngạc phi
1639
23 tháng 9, năm 1660
(21 tuổi)
Nội thị đại thần Ngạc Thạc (鄂碩) Phi tần được Thuận Trị sủng ái nhất, tương truyền trước đó từng là vợ của Tương thân vương Bác Mục Bác Quả Nhĩ (博穆博果尔), con trai út của Thanh Thái Tông và là em trai khác mẹ của Thuận Trị Đế.

Năm 1656, bà nhập cung và được sách phong làm Hiền phi (賢妃), cùng năm thăng vị Hoàng quý phi. Năm 1657, Hoàng quý phi sinh hạ Hoàng tứ tử - Vinh Thân vương (荣亲王), Hoàng tử mất sớm khi chưa tròn 1 tuổi. Sau cái chết của Hoàng tử, bà mất không lâu sau đó, được truy phong làm Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu.

Phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trinh phi Đổng Ngạc thị (贞妃董鄂氏, ? - 1661), con gái của Nhất đẳng đạt Ha ha phiên Ba Độ (巴度), em họ của Đổng Ngạc phi. Bà là phi tần duy nhất tuẫn táng khi Thuận Trị Đế qua đời. Về sau, Khang Hi Đế truy phong làm Hoàng khảo Trinh phi (皇考贞妃).
  2. Thục Huệ phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (淑惠妃博尔济吉特氏, 1640 - 1713), có tên là Vinh Quý (荣贵), em gái của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu. Năm 1654 được sách phong làm Phi (không rõ phong hiệu). Khang Hi Đế lên ngôi, tôn làm Hoàng khảo Thục Huệ phi (皇考淑惠妃).
  3. Cung Tĩnh phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (恭靖妃博尔济吉特氏), có tên là Xuân Nhi (春儿), con gái của Đa La Ngạch Nhĩ Đức Ni quận vương Bác La Đặc (博罗特). Khang Hi Đế tôn phong làm Hoàng khảo Cung Tĩnh phi (皇考恭靖妃).
  4. Đoan Thuận phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (端顺妃博尔济吉特氏), có tên là Ngọc Hoa (玉华), con gái của Nhất đẳng Thai Cát Bố Đạt Hi Bố (布达希布). Khang Hi Đế tôn phong Hoàng khảo Đoan Thuận phi (皇考端顺妃).
  5. Ninh Khác phi Đổng Ngạc thị (宁悫妃董鄂氏), con gái của Trưởng sử Khách Tể Hải (喀济海), sinh Hoàng nhị tử Phúc Toàn. Khang Hi Đế tôn phong Hoàng khảo Ninh Khác phi (皇考宁悫妃).
  6. Khác phi Thạch thị (恪妃石氏, ? - 1666), con gái của Thị lại Bộ Thị lang Thạch Thân (石申).
  7. Điệu phi Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (悼妃博爾濟吉特氏, ? - 1658), con gái Hòa Thạc Đạt Nhĩ Hãn Thân vương Man Thù Tích Lễ (和碩達爾汗親王曼殊錫禮), bà là cháu gái Hiếu Trang Hoàng thái hậu, chị em họ của Thuận Trị Đế và Phế Hoàng hậu[191][192].

Thứ phi[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thứ phi Trần thị (庶妃陈氏, ? - 1690), sinh ra Cung Thân vương Thường Ninh và Hoàng trưởng nữ. Khi Thuận Trị Đế sủng ái Hiếu Hiến Đoan kính hoàng hậu, Thứ phi âm mưu đố kị hãm hại, bị Hiếu Trang Thái hậu phát hiện và đày vào lãnh cung, Cung Thân vương cũng không được vào thăm. Đến thời Khang Hi Đế thì Thứ phi chết, niệm tình xưa mà Khang Hi Đế truy phong làm Hoàng thái phi.
  2. Thứ phi Mục Khắc Đồ thị (庶妃穆克图氏)[193], sinh hạ Hoàng bát tử Vĩnh Cán[194].
  3. Thứ phi Ba thị (庶妃巴氏), sinh Trưởng hoàng tử Ngưu Nữu và Hoàng tam nữ.
  4. Thứ phi Đường thị (庶妃唐氏), sinh Hoàng lục tử Kì Thụ.
  5. Thứ phi Nữu thị (庶妃钮氏), sinh Hoàng thất tử Long Hi.
  6. Thứ phi Dương thị (庶妃杨氏), sinh ra Hòa Thạc Cung Khác Trưởng công chúa.
  7. Thứ phi Ô Tô thị (庶妃乌苏氏), sinh Hoàng tứ nữ.
  8. Thứ phi Vương thị (庶妃王氏), sinh Hoàng ngũ nữ.
  9. Thứ phi Nạp Lạt thị (庶妃纳喇氏), sinh Hoàng lục nữ.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

11/32 phi tần của Thuận Trị sinh cho ông tổng cộng 14 người con,[195] nhưng chỉ có 4 con trai (Phước Toàn, Huyền Diệp, Thường Ninh, và Long Hy) và một con gái (Cung Khác trưởng công chúa) sống đến tuổi kết hôn. Không như những hoàng đế Thanh về sau, tên các con trai của Thuận Trị không có lệ đặt cùng một tên lót.[196]

Chân dung màu toàn mặt, đầu và vai của một người trẻ tuổi mặc đeo dây chuyền màu đỏ, khoác hoàng bào màu vàng có hình rồng và hoa văn màu xanh dương, xanh lá và đỏ.
Con trai thứ ba của Thuận Trị, Huyền Diệp, kế vị ông và trở thành hoàng đế Khang Hi (1661–1722).

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

# Danh hiệu Tên Sinh Mất Mẹ Ghi chú
1 Ngưu Nữu[197]

(牛钮)

13 tháng 12 năm 1651 9 tháng 3 năm 1652  Thứ phi Ba thị
2 Dụ Thân vương
(裕親王)[198]
Phúc Toàn

(福全)

8 tháng 9 năm 1653 10 tháng 8 năm 1703 Ninh Khác phi Đổng Ngạc thị Sau khi qua đời được ban thuỵ là Dụ Hiến Thân vương (裕憲親王)
3 Thánh Tổ Nhân hoàng đế Huyền Diệp

(玄燁)

4 tháng 5 năm 1654 20 tháng 12 năm 1722 Hiếu Khang Chương Hoàng hậu
4 Vinh Thân vương
(榮親王)
Hoàng tứ tử 12 tháng 11 năm 1657 25 tháng 2 năm 1658  Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu Chết yểu; 

Sau khi chết được truy thụy Vinh Thân vương (榮親王)

5 Cung thân vương Thường Ninh

(常寧)

8 tháng 12 năm 1657 20 tháng 7 năm 1703  Thứ phi Trần thị Ban đầu phong làm Cung Thân vương[199]. Chết không có ban thụy, con cháu không có quyền thế tập tước vị
6 Kỳ Thụ[200]

(奇授)

3 tháng 1 năm 1659 6 tháng 11 năm 1665 Thứ phi Đường thị
7 Thuần Thân vương
(恭親王)[201]
Long Hy

(隆禧)

30 tháng 5 năm 1660 20 tháng 8 năm 1679  Thứ phi Nữu thị Được Khang Hy phong tước vào năm 1674

Có một người con trai tên Phú Nhĩ Hỗ Luân (富爾祜倫; 1679 - 1681) nhưng yểu mệnh; thừa tước Thuần Thân vương

Không có thừa tự

8 Vĩnh Cán

(永幹)

23 tháng 1 năm 1660 2 tháng 12 năm 1667 Thứ phi Mục Khắc Đồ thị

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi triều đình Mãn Thanh đến đóng ở Bắc Kinh năm 1644, phụ nữ Mãn Châu thường sử dụng tên thật, nhưng sau năm 1644, nhwungx cái tên này "biến mất khỏi các hồ sơ lưu trữ và phả hệ."[190] Chỉ sau khi những cô gái hoàng tộc này đến tuổi trưởng thành và kết hôn thì họ mới được trao phong hiệu và về sau thường được biết đến với phong hiệu này.[190] Mặc dù 5/6 hoàng nữ của Thuận Trị hoàng đế chết khi còn nhỏ, nhưng tất cả họ đều xuất hiện trong phả hệ gia đình Ái Tân Giác La.[190]

# Danh hiệu Sinh Mất Mẹ Hôn phu Ghi chú
1 Trưởng Cách cách 22 tháng 4, 1652 22 tháng 11, 1653  Thứ phi Trần thị
2 Hòa Thạc Cung Khác Trưởng Công chúa (和碩恭愨長公主) 19 tháng 1, 1654 26 tháng 11, 1685[202] Thứ phi Dương thị Nạp Nhĩ Đỗ (纳尔杜) của Khoa Nhĩ Thẩm[203]. kết hôn năm 1667 
3 Cách cách thứ ba[204] 30 tháng 1, 1654 khoảng 3 tháng 4 đến 1 tháng 5, 1658 Thứ phi Ba thị
4 Cách cách thứ tư[205] 9 tháng 1, 1655 khoảng 20 tháng 1 đến 17 tháng 2, 1662 Thứ phi Ô Tô thị
5 Cách cách thứ năm 6 tháng 2, 1655 khoảng 1 tháng 1 đến 29 tháng 1, 1661  Thứ phi Vương thị
6 Cách cách thứ sáu 11 tháng 11 năm 1657 1662  Thứ phi Nạp Lạt thị

Con gái nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Sinh Mất Cha Hôn phu Ghi chú
Hòa Thạc Hòa Thuận Công chúa (和硕和顺公主) 1648 1691 Thừa Trạch Thân vương Thạc Tắc (硕塞; 1629 - 1655) Thượng Chi Long (尚之隆), con trai của Bình Nam vương Thạc Khả Hỉ kết hôn năm 1660 
Hòa Thạc Nhu Gia Công chúa (和碩柔嘉公主) 1652 1673 An Quận vương Nhạc Thác (濟度; 1633 - 1660) Cảnh Tụ Trung (耿聚忠), cháu của Tĩnh Nam vương Cảnh Trọng Minh[206] kết hôn năm 1663 
Cố Luân Đoan Mẫn Công chúa (固倫端敏公主) 1653 1729 Giản thân vương Tể Độ (岳樂; 1625 - 1689) Ban Đệ (班第), thân vương của Khoa Nhĩ Thẩm kết hôn năm 1670, ban đầu phong Hòa Thạc Đoan Mẫn công chúa (和硕端敏公主), sau Ung Chính tấn tôn Cố Luân công chúa năm 1723

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ tiếng Trung: 順治帝; bính âm: Shùnzhìdì; Wade–Giles: Shun4-chih4 Ti4; Mãn Châu: 35px ijishūn dasan hūwangdi; tiếng Mông Cổ: ᠡᠶ ᠡ ᠪᠡᠷ ᠵᠠᠰᠠᠭᠴᠢ ey-e-ber ǰasagči 'harmonious administrator'

Ghi chú nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mãn Châu: ᡳᠵᡳᠰᡥᡡᠨ ᡩᠠᠰᠠᠨIjishūn dasan
  2. ^ Mông Cổ: ᠡᠶᠡᠪᠡᠷᠭᠦᠦ ᠵᠠᠰᠠᠭᠴᠢ
    Эеэр засагч
  3. ^ Thanh sử cảo, quyển 5, tr. 163.
  4. ^ Mãn Châu: Eldembuhe hūwangdi (ᡝᠯᡩᡝᠮᠪᡠᡥᡝ
    ᡥᡡᠸᠠᠩᡩᡳ
    )
  5. ^ Trong tiếng Mãn Châu có nghĩa là Thiên mệnh, bỉnh thụ. Theo Đại từ điển Mãn Hán, An Song Thành Biên, Nhà xuất bản Liêu Ninh, 1993, trang 1065
  6. ^ Chú thích ghi rằng người Nữ Chân sống gần núi Trường Bạch và "mang giày da dê và áo vảy ca."
  7. ^ Wakeman 1985.
  8. ^ Roth Li 2002, tr. 25–26.
  9. ^ Roth Li 2002, tr. 29–30 (Chiến dịch thống nhất Nữ Chân) và 40 bộ tộc bị đàn áp.
  10. ^ Roth Li 2002, tr. 34.
  11. ^ Roth Li 2002, tr. 36.
  12. ^ Roth Li 2002, tr. 28.
  13. ^ Roth Li 2002, tr. 37.
  14. ^ Roth Li 2002, tr. 42.
  15. ^ Roth Li 2002, tr. 46.
  16. ^ Roth Li 2002, tr. 51.
  17. ^ Elliott 2001, tr. 63.
  18. ^ Roth Li 2002, tr. 29–30.
  19. ^ Roth Li 2002, tr. 63.
  20. ^ Elliott 2001, tr. 64 (preparing to attack the Ming); Spence 1999, tr. 21–24 (late Ming cries).
  21. ^ Oxnam 1975 (tr. 38), Wakeman 1985 (tr. 297), và Gong 2010 (tr. 51) đều ghi nhận Hoàng Thái Cực chết vào ngày 21 tháng 9 (Chongde 崇德 8.8.9). Dennerline 2002 (tr. 74) cho là ngày 9 tháng 9.
  22. ^ Rawski 1998, tr. 98.
  23. ^ Rawski 1998, tr. 99Dennerline 2002, tr. 79 (bảng về tuổi của các hoàng thân và các kì mà họ nắm giữ).
  24. ^ Dennerline 2002, tr. 77 (Hội nghị Nghị chính Vương đại thần được triệu tập để đề cử người kế vị Hoàng Thái Cực); Hucker 1985, tr. 266 (Hội nghị Nghị chánh Vương đại thần là "nơi đưa ra các quyết sách chính trị quan trọng trong những năm đầu Thanh"; Bartlett 1991, tr. 1 (Hội nghị Nghị chánh Vương đại thần "có quyền quyết định hầu hết các chính sách của chính phủ đế quốc Trung Hoa" những năm 1720 và 1730).
  25. ^ a ă Dennerline 2002, tr. 78.
  26. ^ Fang 1943a, tr. 255.
  27. ^ Dennerline 2002, tr. 73.
  28. ^ Wakeman 1985, tr. 299.
  29. ^ Wakeman 1985, tr. 300, chú 231.
  30. ^ Dennerline 2002, tr. 79.
  31. ^ Roth Li 2002, tr. 71.
  32. ^ Mote 1999, tr. 809.
  33. ^ Wakeman 1985, tr. 304; Dennerline 2002, tr. 81.
  34. ^ Wakeman 1985, tr. 290.
  35. ^ Wakeman 1985, tr. 304.
  36. ^ Wakeman 1985, tr. 308.
  37. ^ Wakeman 1985, tr. 311–12.
  38. ^ Wakeman 1985, tr. 313; Mote 1999, tr. 817.
  39. ^ Wakeman 1985, tr. 313.
  40. ^ Wakeman 1985, tr. 314 (về sự không xuất hiện của Ngô Tam Quế và thái tử) và 315 (về sự xuất hiện của Đa Nhĩ Cổn).
  41. ^ Wakeman 1985, tr. 315.
  42. ^ Naquin 2000, tr. 289.
  43. ^ Mote 1999, tr. 818.
  44. ^ Wakeman 1985, tr. 416; Mote 1999, tr. 828.
  45. ^ Wakeman 1985, tr. 420–22 (giải thích về những vấn đề và tuyên bố bãi bỏ lệnh vào ngày 25 tháng 6). Gong 2010, tr. 84 ghi rằng mệnh lệnh bị bãi bỏ ngày 28 tháng 6.
  46. ^ Wakeman 1985, tr. 857.
  47. ^ a ă Wakeman 1985, tr. 858.
  48. ^ Wakeman 1985, tr. 858 và 860 ("Theo như thư kí của hoàng đế, có thể là Phạm Văn Trình, công lao Đa Nhĩ Cổn thậm chí còn hơn cả Chu Công.
  49. ^ Wakeman 1985, tr. 860–61, và tr. 861, chú 31.
  50. ^ a ă Wakeman 1985, tr. 861.
  51. ^ a ă Frederic E. Wakeman (1985). The Great Enterprise: The Manchu Reconstruction of Imperial Order in Seventeenth-century China. University of California Press. tr. 478–. ISBN 978-0-520-04804-1. 
  52. ^ Xem bản đồ trong Naquin 2000, tr. 356 và Elliott 2001, tr. 103.
  53. ^ Oxnam 1975, tr. 170.
  54. ^ Wakeman 1985, tr. 477 và Naquin 2000, tr. 289–91.
  55. ^ a ă â Naquin 2000, tr. 291.
  56. ^ Elman 2002, tr. 389.
  57. ^ Trích dẫn trong Elman 2002, tr. 389–90.
  58. ^ Man-Cheong 2004, tr. 7, Bảng 1.1 (số người thi đỗ trong mỗi khoa thi dưới triều Thanh); Wakeman 1985, tr. 954 (lý do việc tăng số người lấy đỗ); Elman 2001, tr. 169 (hạn chế số người lấy đỗ năm 1660).
  59. ^ Wang 2004, pp. 215–216 & 219–221.
  60. ^ Walthall, Anne (1 tháng 1 năm 2008). “Servants of the Dynasty: Palace Women in World History”. University of California Press – qua Google Books. 
  61. ^ Zarrow 2004a, ngẫu nhiên.
  62. ^ Wakeman 1985, tr. 483 (Lý lập thủ phủ tại Tây An) và 501 (khởi nghĩa ở Hà Bắc và Sơn Đông, các chiến dịch mới chống lại Lý).
  63. ^ Wakeman 1985, tr. 501–7.
  64. ^ Đệ đệ ruột của Đã Nhĩ CổnĐa Đạc nhận lệnh chỉ huy cuộc nam chinh vào ngày 1 tháng 4 (Wakeman 1985, tr. 521). Ông ta hành quân từ Tây An ngay ngày hôm đó (Struve 1988, tr. 657). Phúc vương của nhà Minh lên ngôi hoàng đế vào ngày 19 tháng 6 năm 1644 (Wakeman 1985, tr. 346; Struve 1988, tr. 644).
  65. ^ Ví dụ về những xung đột trong nội bộ chánh quyền Hoằng Quang, xem Wakeman 1985, tr. 523–43. Một số hành vi đào ngũ được giải thích ở Wakeman 1985, tr. 543–45.
  66. ^ Wakeman 1985, tr. 522 (chiếm Từ châu; Struve 1988, tr. 657 (hội quân ở Dương Châu).
  67. ^ Struve 1988, tr. 657.
  68. ^ Finnane 1993, tr. 131.
  69. ^ Struve 1988, tr. 657 (mục đích của vụ thảm sát là khủng bố tinh thần người Giang Nam); Zarrow 2004a, (vụ này cuối triều Thanh người ta gọi là Mười ngày Dương Châu).
  70. ^ Struve 1988, tr. 660.
  71. ^ Struve 1988, tr. 660 (chiếm Tô Châu và Hàng Châu trước đầu tháng 7 năm 1645, biên giới mới); Wakeman 1985, tr. 580 (bắt giữ hoàng đế Nam Minh khoảng ngày 17 tháng 6, và cái chết ở Bắc Kinh ).
  72. ^ Wakeman 1985, tr. 647; Struve 1988, tr. 662; Dennerline 2002, tr. 87 (gọi lệnh này là "quyết sách không hợp thời nhất trong sự nghiệp [của Đa Đạc]."
  73. ^ Kuhn 1990, tr. 12.
  74. ^ Wakeman 1985, tr. 647 ("Theo góc nhìn của người Mãn, lệnh cắt tóc hay mất đầu không chỉ tỏ rõ quyền lực của họ, mà còn để kiểm chứng về lòng trung thành và sợ hãi của người Hán đối với tân chính quyền").
  75. ^ Wakeman 1985, tr. 648–49 (quan chức và học giả) và 650 (dân thường). Trong Hiếu Kinh, Khổng Tử nhấn mạnh rằng "thân thể và mái tóc của con người, là do phụ mẫu ban cho, nên không thể làm tổn hại: việc hiếu đạo khởi đầu chính là ở đó" (Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã). Trước thời nhà Thanh, đàn ông Trung Quốc thường không cắt tóc, nhưng thay vào dùng nơ buộc nó lại.
  76. ^ Struve 1988, tr. 662–63 ("phá vỡ kế hoạch chinh phạt của nhà Thanh"); Wakeman 1975, tr. 56 ("lệnh cắt tóc, cũng như nhiều sắc lệnh khác, dẫn đến sự chống đối của người Giang Nam năm 1645"); Wakeman 1985, tr. 650 (nỗ lực của những "người cai trị' để khiến cho 'than thể' của người Mãn và Hán giống nhau ban đầu có tác dụng thống nhất các tầng lớp thượng lưu và hạ lưu ở miền Trung và Nam Trung Quốc chống lại những người ngoại lai").
  77. ^ Wakeman 1975, tr. 78.
  78. ^ Wakeman 1975.
  79. ^ a ă Wakeman 1985, tr. 674.
  80. ^ Struve 1988, tr. 665 (về Đường vương) và 666 (về Lỗ vương).
  81. ^ Struve 1988, tr. 667–69 (về việc bất hợp tác giữa họ), 669-74 (về những khó khăn tài chính và phương thức tác chiến đối với cả hai chính quyền).
  82. ^ Struve 1988, tr. 675.
  83. ^ a ă Struve 1988, tr. 676.
  84. ^ a ă â Wakeman 1985, tr. 737.
  85. ^ Wakeman 1985, tr. 738.
  86. ^ Wakeman 1985, tr. 765–66.
  87. ^ a ă Wakeman 1985, tr. 767.
  88. ^ Wakeman 1985, tr. 767–68.
  89. ^ Dai 2009, tr. 17.
  90. ^ Dai 2009, tr. 17–18.
  91. ^ a ă â Rossabi 1979, tr. 191.
  92. ^ Larsen & Numata 1943, tr. 572 (Mạnh Kiều Phương, cái chết của các lãnh đạo khởi nghĩa); Rossabi 1979, tr. 192.
  93. ^ Oxnam 1975, tr. 47 ("một cuộc tranh chấp gây gắt giữa các phe phái trong triều," "về những tranh chấp ác liệt và phức tạp đầu triều Thanh"); Wakeman 1985, tr. 892–93 (ngày và nguyên nhân qua đời của Đa Nhĩ Cổn) và 907 ("cuộc cải cách lớn của đế chế Thanh" lần thứ 2 từ 1652 đến 1665).
  94. ^ Oxnam 1975, tr. 47–48.
  95. ^ Oxnam 1975, tr. 47.
  96. ^ a ă â b Oxnam 1975, tr. 48.
  97. ^ Elliott 2001, tr. 79 (tên Mãn Châu; "trực tiếp nằm dưới quyền điều hành của hoàng đế"); Oxnam 1975, tr. 48 (thời gian và mục đích của hành động trên của Tế Nhĩ Cáp Lãng).
  98. ^ Oxnam 1975, tr. 49.
  99. ^ Dennerline 2002, tr. 106.
  100. ^ Dennerline 2002, tr. 107.
  101. ^ Dennerline 2002, tr. 106 (việc sa thải Phùng Thuyên năm 1651); Wakeman 1985, tr. 865–72 (câu chuyện về vụ Phùng Thuyên năm 1645).
  102. ^ Dennerline 2002, tr. 107 ("coalition of literary societies"); Wakeman 1985, tr. 865.
  103. ^ Dennerline 2002, tr. 108–9.
  104. ^ Dennerline 2002, tr. 109.
  105. ^ Wakeman 1985, tr. 958.
  106. ^ Wakeman 1985, tr. 959–74 (những cuộc tranh cãi).
  107. ^ Wakeman 1985, tr. 976 (Tháng 4, 1654, Minh Hoàn Ngã) và 977–81 (cuộc thảo luận dài về "tội" của Trần Danh Hạ).
  108. ^ Wakeman 1985, tr. 985–86.
  109. ^ Gong 2010, tr. 295 cho là ngày 30 tháng 11 năm 1657.
  110. ^ Wakeman 1985, tr. 1004, chú 38.
  111. ^ Ho 1962, tr. 191–92.
  112. ^ Wakeman 1985, tr. 1004–5.
  113. ^ Dennerline 2002, tr. 109 (những đề tài thảo luận với Trần Danh Hạ) và 112 (về Vương Hi).
  114. ^ Mair 1985, tr. 326 ("Chánh thống"); Oxnam 1975, tr. 115–16.
  115. ^ Dennerline 2002, tr. 113.
  116. ^ Wakeman 1985, tr. 931 ("Thirteen Offices"); Rawski 1998, tr. 163 ("Thirteen Eunuch Bureaus," supervised by Manchus).
  117. ^ Dennerline 2002, tr. 113; Oxnam 1975, tr. 52–53.
  118. ^ Wakeman 1985, tr. 931 (ban hành chiếu chỉ); Oxnam 1975, tr. 52.
  119. ^ Oxnam 1975, tr. 52 (ngăn cách hoàng đế với bộ máy quan liêu); Kessler 1976, tr. 27.
  120. ^ Wakeman 1985, tr. 1016; Kessler 1976, tr. 27; Oxnam 1975, tr. 54.
  121. ^ Oxnam 1975, tr. 52–53.
  122. ^ Kessler 1976, tr. 27; Rawski 1998, tr. 163 (ngày cụ thể).
  123. ^ Năm 1951 học giả người Ý Luciano Petech là người đầu tiên cho rằng các sứ thần này đến từ Thổ Lỗ Phồn, chứ không phải là Ấn Độ(Petech 1951, trích dẫn trong Lach & van Kley 1994, bản 315). Kim 2008, tr. 109 dẫn ra một số lý lẽ cho rằng họ là người Thổ Phồn.
  124. ^ a ă â Wills 1984, tr. 40.
  125. ^ Kim 2008, tr. 109.
  126. ^ Kim 2008, tr. 109 ("lời lẽ không nhún nhường"; nối lại giao thương); Rossabi 1979, tr. 190 (về tình hình giao thương dưới thời kì trước).
  127. ^ Rossabi 1979, tr. 192.
  128. ^ Kim 2008, tr. 111.
  129. ^ Rawski 1998, tr. 250 (thống nhất tôn giáo và các luật thế tục).
  130. ^ Rawski 1998, tr. 251 (sự khởi đầu mối quan hệ của nhà Thanh với Phật giáo Tây Tạng).
  131. ^ Zarrow 2004b, tr. 187, chú 5 (lý do chính trị cho việc mời Đại Lạt ma đến).
  132. ^ Wakeman 1985, tr. 929, chú 81 (vị trí của đảo Quỳnh Hoa và cung điện cũ của Hốt Tất Liệt); Naquin 2000, tr. 309 (chuẩn bị cho chuyến thăm của Lạt ma, "Bạch tháp").
  133. ^ Các sử gia phương Tây dường như không thống nhất về ngày tháng Đại Lạt ma tới thăm: xemWakeman 1985, tr. 929, chú 81 ("1651"); Crossley 1999, tr. 239 ("1651"); Naquin 2000, tr. 311 và 473 ("1652"); Benard 2004, tr. 134, chú 23 ("1652"); Zarrow 2004b, tr. 187, chú 5 ("giữa 1652 và 1653"); Rawski 1998, tr. 252 ("1653"); Berger 2003, tr. 57. Thực lục của nhà Thanh trích ở trang 476 củaLi 2003, tuy nhiên, rõ ràng là Đại Lạt ma đến Bắc Kinh ngày 14 tháng 1 năm 1653 (ngày 15 tháng Chạp năm thứ 9 Thuận Trị) và rời kinh thành vào một ngày thuộc tháng 2 năm thứ 10 Thuận Trị (tháng 3 năm 1653).
  134. ^ Naquin 2000, tr. 473; Chayet 2004, tr. 40 (thời điểm bắt đầu tiến hành xây dựng Potala).
  135. ^ a ă â b Fang 1943b, tr. 632.
  136. ^ Turayev 1995.
  137. ^ Kennedy 1943, tr. 576 (Mongol); Fang 1943b, tr. 632 (chiến thắng, nhưng "không mang lại thành công vĩnh viễn").
  138. ^ a ă Struve 1988, tr. 704.
  139. ^ Wakeman 1985, tr. 973, chú 194.
  140. ^ a ă â Dennerline 2002, tr. 117.
  141. ^ Struve 1988, tr. 710.
  142. ^ Spence 2002, tr. 136.
  143. ^ a ă â b c Dennerline 2002, tr. 118.
  144. ^ Wakeman 1985, tr. 1048–49.
  145. ^ Spence 2002, tr. 136–37.
  146. ^ Spence 2002, tr. 146.
  147. ^ a ă Gates & Fang 1943, tr. 300.
  148. ^ Wu 1979, tr. 36.
  149. ^ Wu 1979, tr. 15–16.
  150. ^ Wu 1979, tr. 16.
  151. ^ a ă Spence 1969, tr. 19.
  152. ^ Oxnam 1975, tr. 54; Wakeman 1985, tr. 858, chú 24.
  153. ^ Spence 1969, tr. 19; Wakeman 1985, tr. 929, chú 82.
  154. ^ Spence 1969, tr. 19 (các đặc quyền của Johann Adam Schall von Bell); Fang 1943a, tr. 258 (ngày Thuận Trị theo đạo Phật).
  155. ^ a ă Zhou 2009.
  156. ^ Wakeman 1984, tr. 631, note 2.
  157. ^ Oxnam 1975, tr. 205.
  158. ^ Spence 2002, tr. 125. Huyền Diệp chào đời vào tháng 5 năm 1654, và khi kế vị còn chưa tới 7 tuổi. Tuy nhiên cả Spence 2002Oxnam 1975 (tr. 1) đều ghi rằng hoàng tử "đã bảy tuổi." Dennerline 2002 (tr. 119) và Rawski 1998 (tr. 99) nhấn mạnh rằng ông "chưa tới bảy tuổi." Các tài liệu của Trung Hoa ghi chép về sự kiện này đều ghi rằng Huyền Diệp đã lên 8, theo cách tính tuổi của Âm lịch (Oxnam 1975, tr. 62).
  159. ^ Perdue 2005, tr. 47 ("70 đến 80 % những người nhiễm bệnh đều chết"); Chang 2002, tr. 196 (nỗi sợ lớn nhất của người Mãn Châu).
  160. ^ Chang 2002, tr. 180.
  161. ^ a ă Chang 2002, tr. 181.
  162. ^ Naquin 2000, tr. 311 (Nam Uyển là một người săn bắn); Chang 2002, tr. 181 (số lần dịch phát) và 192 (Đa Nhĩ Cổn xây dựng Tị đậu sở ở Nam Uyển).
  163. ^ Naquin 2000, tr. 296 (lệnh buộc người bệnh dời khỏi kinh thành).
  164. ^ Oxnam 1975, tr. 48 (bốn người là đồng minh của Tế Nhĩ Cáp Lãng), 50 (ngày tuyên cáo di chỉ), và 62 (việc bổ nhiệm 4 Phụ chánh đại thần); Kessler 1976, tr. 21.
  165. ^ Các sử gia thống nhất rằng di chiếu của Thuận Trị hoàng đế đã bị sửa đổi hoặc giả mạo hoàn toàn. Xem thêm tại Oxnam 1975, tr. 62–63 và 205-7; Kessler 1976, tr. 20; Wakeman 1985, tr. 1015; Dennerline 2002, tr. 119; và Spence 2002, tr. 126.
  166. ^ Oxnam 1975, tr. 52.
  167. ^ Oxnam 1975, tr. 63.
  168. ^ Spence 2002, tr. 125.
  169. ^ Fang 1943a, tr. 258 (hoàng đế trở nên tôn sùng đạo Phật vào năm 1657); Dennerline 2002, tr. 118 (hoàng đế sống như một "tu sĩ tại cung điện" từ năm 1659).
  170. ^ Xem Mạnh Sâm 孟森 (1868–1937), Thanh sơ tam đại nghi án 清初三大疑案 (1935) (tiếng Trung). Hai bí ẩn là việc Đa Nhĩ Cổn bí mật cưới Thái hậu Hiếu Trang và bí mật đằng sau việc Ung Chính hoàng đế kế vị Khang Hy hoàng đế.
  171. ^ Oxnam 1975, tr. 205 (ghi chép của nhà sư, trích dẫn trong công trình nghiên cứu của Mạnh Sâm 孟森); Spence 2002, tr. 125 (hai bí ẩn còn lại).
  172. ^ Standaert 2008, tr. 73–74.
  173. ^ Standaert 2008, tr. 75.
  174. ^ Elliott 2001, tr. 477, chú 122 (trích dẫn một số nghiên cứu và tài liệu chính). Ngược lại, Hoàng Thái Cực cùng hai vị hoàng hậu của vua Thuận Trị đã được hỏa táng (Elliott 2001, tr. 264).
  175. ^ a ă Fang 1943a, tr. 258.
  176. ^ Chang 2007, tr. 86.
  177. ^ Kessler 1976, tr. 26; Oxnam 1975, tr. 63.
  178. ^ Oxnam 1975, tr. 65.
  179. ^ Oxnam 1975, tr. 71 (chi tiết về hành viên của Hội nghị Nghị chánh Vương đại thần); Spence 2002, tr. 126–27 (các thông tin khác).
  180. ^ Kessler 1976, tr. 31–32 (vụ Minh sử), 33–36 (tội trốn thuế), và 39–46 (việc di dân).
  181. ^ Spence 2002, tr. 133.
  182. ^ Kessler 1976, tr. 30 (khôi phục năm 1670).
  183. ^ a ă â Spence 2002, tr. 122.
  184. ^ Spence 2002, tr. 140–43 (chi tiết về cuộc biến loạn).
  185. ^ Li 2010, tr. 153.
  186. ^ Rawski 1998, tr. 113 (việc tiêm vắc-xin bắt đầu từ 1681).
  187. ^ Dennerline 2002, tr. 73 (nền tảng); Wakeman 1985, tr. 1125 (trở thành thể chế hùng mạnh).
  188. ^ Wakeman 1985, tr. 1127.
  189. ^ Xem bảng trong Rawski 1998, tr. 141.
  190. ^ a ă â b Rawski 1998, tr. 129.
  191. ^ Thanh Thế Tổ thực lục, quyển 105: Ngày Mậu Ngọ, truy phong con gái của Ba Đồ Lỗ vương nước Khoa Nhĩ Thẩm làm Điệu phi
  192. ^ Thanh hoàng thất tứ phổ, quyển 2: Tặng Điệu phi Bắc Nhĩ Tế Cấm thị, con gái của Khoa Nhĩ Thẩm Liên Nhĩ Hán Thân vương Mạn Châu Tập Lễ, cô của Hiếu Huệ Chương hoàng hậu. Bà ở trong cung nhiều năm, năm Thuận Trị thứ 15 ngày 15 tháng 3t tốt, truy phong vì Điệu phi.
  193. ^ Tinh nguyên tập khánh: Thứ phi Mục Khắc Đồ thị, con gái của Vân Kỳ úy Ngũ Khách.
  194. ^ Tinh nguyên tập khánh: Con trai thứ tám là Vĩnh Cán, vô thừa tự, Thuận Trị năm 17 tháng 12 ngày 23 sanh, mẹ là Thứ phi Mục Khắc Đồ thị, con gái Vân Kỳ úy Ngũ Khánh. Ngày 2 tháng 12 năm thứ sáu Khang Hy giờ mão tốt, được 8 tuổi
  195. ^ Xem bảng tại Rawski 1998, tr. 142.
  196. ^ Xem bảng trong Rawski 1998, tr. 112.
  197. ^ Tinh nguyên tập khánh: Thế Tổ Chương hoàng đế có 8 con trai, thứ nhất là Ngưu Nữu, vô thừa tự. Ngày 1 tháng 10 năm thứ 8 Thuận Trị sanh, mẹ là Thứ phi Ba thị. Ngưu Nữu vào giờ Thìn ngày 30 tháng 1 năm thứ 9 Thuận Trị chết, được 2 tuổi
  198. ^ Thanh Thánh Tổ thực lục, quyển 21: Năm thứ 6 Khang Hy tháng 1 ngày .... Kỉ Sửu, phong nhị tử của Thế Tổ Chương hoàng đế là Phúc Toàn làm Hòa Thạc Dụ thân vương
  199. ^ Thanh Thánh Tổ thực lục, quyển 35: Tháng 1 năm thứ 10 Khang Hy ... Quý Dậu, phong con trai thứ 5 của Thế Tổ Chương hoàng đế Thường Ninh làm Hòa Thạc Cung thân vương
  200. ^ Tinh nguyên tập khánh: Đệ lục tử là Kỳ Thụ, vô thừa tự. Giờ Thân ngày 11 tháng 11 năm Thuận Trị thứ 6 sanh, mẹ là Thứ phi Đường thị. Năm Khang Hy thứ 4 giờ Hợi ngày 6 tháng 11 tốt, 7 tuổi
  201. ^ Thanh Thánh Tổ thực lục, quyển 45: Năm Khang Hy thứ 13 xuân chánh nguyệt ... Canh Dần, phong con trai của Thế Tổ Chương hoàng đế là Long Hy làm Hòa Thạc Thuần thân vương
  202. ^ Thanh Thánh Tổ thực lục, quyển 123: Năm Khang Hy thứ 14, ngày Đinh Tị tháng 11, ... hạ giá Tương Hoàng Kỳ Nạp Nhĩ Đỗ Hòa Thạc Cung Khác Trưởng công chúa hoăng, sai quan đến tế
  203. ^ Rawski 1998, trang 148; Thanh sử cảo, quyển 166: Tháng 2 năm thứ 6 Khang Hy, hạ giá lấy Nạp Nhĩ Đỗ. Nạp Nhĩ Đỗ, họ Qua Nhĩ Giai, Quan lĩnh thị vệ nội đại thần gia Thiếu phó. Vì theo Thái sư, Phụ chánh đại thần Ngao Bái phạm tội, bị đoạt quan. Sau phục khởi. Năm thứ 15 Khang Hy gia Thái tử Thiếu sư, tốt.
  204. ^ Tinh Nguyên tập khánh: Con gái thứ ba, giờ Thìn ngày 13 tháng 12 năm thứ 10 Thuận Trị sanh, mẹ là Thứ phi Ba thị. Tháng 3 năm thứ 15 Thuận Trị tốt, năm đó 6 tuổi
  205. ^ Tinh nguyên tập khánh: Con gái thứ tư, giờ Tí ngày 2 tháng 12 năm Thuận Trị thứ 11 sanh, mẹ là Thứ phi Ô Tô thị. Tháng 3 năm Tân Sửu Thuận Trị thứ 18 tốt, được 8 tuổi
  206. ^ Thanh Thánh Tổ thực lục, quyển 42: Năm thứ 12 Khang Hy ... tháng 7 ... ngày Kỷ Mão, hạ giá Hòa Thạc Ngạch phò Cảnh Tụ Trung Hòa Thạc Nhu Gia công chúa hoăng. Sai quan đến tế

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn chính[sửa | sửa mã nguồn]

Những công trình khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bartlett, Beatrice S. (1991), Monarchs and Ministers: The Grand Council in Mid-Ch'ing China, 1723–1820, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-08645-7 .
  • Benard, Elisabeth (2004), “The Qianlong emperor and Tibetan Buddhism”, trong Millward, James A. và đồng nghiệp, New Qing Imperial History: The Making of Inner Asian Empire at Qing Chengde, London and New York: RoutledgeCurzon, tr. 123–35, ISBN 0-415-32006-2 .
  • Berger, Patricia (2003), Empire of Emptiness: Buddhist Art and Political Authority in Qing China, Honolulu: University of Hawai'i Press, ISBN 0-8248-2563-2 .
  • Chang, Chia-feng (2002), “Disease and its Impact on Politics, Diplomacy, and the Military: The Case of Smallpox and the Manchus (1613–1795)”, Journal of the History of Medicine and Allied Sciences 57 (2): 177–97, PMID 11995595, doi:10.1093/jhmas/57.2.177 .
  • Chang, Michael G. (2007), A Court on Horseback: Imperial Touring and the Construction of Qing Rule, 1680–1785, Cambridge (Mass.) and London: Harvard University Asia Center, ISBN 978-0-674-02454-0 .
  • Chayet, Anne (2004), “Architectural wonderland: an empire of fictions”, trong Millward, James A. và đồng nghiệp, New Qing Imperial History: The making of Inner Asian empire at Qing Chengde, London and New York: RoutledgeCurzon, tr. 33–52, ISBN 0-415-32006-2 .
  • Crossley, Pamela Kyle (1999), A Translucent Mirror: History and Identity in Qing Imperial Ideology, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-21566-4 .
  • Dai, Yingcong (2009), The Sichuan Frontier and Tibet: Imperial Strategy in the Early Qing, Seattle and London: University of Washington Press, ISBN 978-0-295-98952-5 .
  • Elliott, Mark C. (2001), The Manchu Way: The Eight Banners and Ethnic Identity in Late Imperial China, Stanford: Stanford University Press, ISBN 0-8047-4684-2 .
  • Elman, Benjamin A. (2001), A Cultural History of Civil Examinations in Late Imperial China, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-21509-5 .
  • Elman, Benjamin A. (2002), “The Social Roles of Literati in Early to Mid-Ch'ing”, trong Peterson, Willard J., Cambridge History of China, Vol. 9, Part 1: The Ch'ing Dynasty to 1800, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 360–427, ISBN 0-521-24334-3 .
  • Fang, Chao-ying (16 tháng 6 năm 2018), “Šarhûda”, trong Hummel, Arthur W., Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912), Washington: United States Government Printing Office, tr. 632 .
  • Finnane, Antonia (1993), “Yangzhou: A Central Place in the Qing Empire”, trong Cooke Johnson, Linda, Cities of Jiangnan in Late Imperial China, Albany, NY: SUNY Press, tr. 117–50, ISBN 0-7914-1423-X .
  • Gates, M. Jean; Fang, Chao-ying (1943), “Hsiao-chuang Wên Huang-hou”, trong Hummel, Arthur W., Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912), Washington: United States Government Printing Office, tr. 300–1 .
  • Gong, Baoli 宫宝利 (2010), Shunzhi shidian 顺治事典 ["Events of the Shunzhi reign"] (bằng tiếng Trung), Beijing: Zijincheng chubanshe 紫禁城出版社 ["Forbidden City Press"], ISBN 978-7-5134-0018-3 .
  • Ho, Ping-ti (1962), The Ladder of Success in Imperial China: Aspects of Social Mobility, 1368–1911, New York: Columbia University Press, ISBN 0-231-05161-1 .
  • Hucker, Charles O. (1985), A Dictionary of Official Titles in Imperial China, Stanford: Stanford University Press, ISBN 0-8047-1193-3 .
  • Kennedy, George A. (1943), “Minggadari”, trong Hummel, Arthur W., Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912), Washington: United States Government Printing Office, tr. 576 .
  • Kessler, Lawrence D. (1976), K'ang-hsi and the Consolidation of Ch'ing Rule, 1661–1684, Chicago and London: University of Chicago Press, ISBN 0-226-43203-3 .
  • Kim, Kwangmin (2008), "Saintly brokers: Uyghur Muslims, trade, and the making of Central Asia, 1696–1814", Ph.D. diss., History Department, University of California, Berkeley, ISBN 9781109101263 .
  • Kuhn, Philip A. (1990), Soulstealers: The Chinese Sorcery Scare of 1768, Cambridge, Mass.: Harvard University Press, ISBN 0-674-82152-1 .
  • Lach, Donald F.; van Kley, Edwin J. (1994), Asia in the Making of Europe, Volume III, A Century of Advance, Book Four, East Asia, Chicago: University of Chicago Press, ISBN 978-0-226-46734-4 .
  • Larsen, E. S.; Numata, Tomoo (1943), “Mêng Ch'iao-fang”, trong Hummel, Arthur W., Eminent Chinese of the Ch'ing Period (1644–1912), Washington: United States Government Printing Office, tr. 572 .
  • Li, Wai-yee (2010), “Early Qing to 1723”, trong Kang-i Sun Chang; Stephen Owen, The Cambridge History of Chinese Literature, Volume II: From 1375, Cambridge University Press, tr. 152–244, ISBN 978-0-521-11677-0  (2-volume set).
  • Li, Zhiting 李治亭, editor in chief (2003), Qingchao tongshi: Shunzhi fenjuan (bằng tiếng Trung), 清朝通史: 順治分卷 ["General History of the Qing Dynasty: Shunzhi Volume"], Beijing: Zijincheng chubanshe 紫禁城出版社 ["Fordidden City Press"], ISBN 7-80047-380-5 .
  • Mair, Victor H. (1985), “Language and Ideology in the Written Popularization of the Sacred Edict”, trong Johnson, David và đồng nghiệp, Popular Culture in Late Imperial China, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, tr. 325–59, ISBN 0-520-06172-1 .
  • Man-Cheong, Iona D. (2004), The Class of 1761: Examinations, State, and Elites in Eighteenth-Century China, Stanford: Stanford University Press, ISBN 0-8047-4146-8 .
  • Mote, Frederick W. (1999), Imperial China, 900–1800, Cambridge, Mass.: Harvard University Press, ISBN 0-674-44515-5 .
  • Naquin, Susan (2000), Peking: Temples and City Life, 1400–1900, Berkeley and Los Angeles: University of California Press, ISBN 0-520-21991-0 .
  • Oxnam, Robert B. (1975), Ruling from Horseback: Manchu Politics in the Oboi Regency, 1661–1669, Chicago and London: University of Chicago Press, ISBN 0-226-64244-5 .
  • Perdue, Peter C. (2005), China Marches West: The Qing Conquest of Central Eurasia, Cambridge, Mass., and London, England: The Belknap Press of Harvard University Press, ISBN 0-674-01684-X .
  • Petech, Luciano (1951), “La pretesa ambasciata di Shah Jahan alla Cina ["The alleged ambassy of Shah Jahan to China"]”, Rivista degli studi orientali ["Review of Oriental Studies"] (bằng tiếng Italy) XXVI: 124–27 .
  • (tiếng Trung) Qingshi gao 清史稿 ["Draft History of Qing"]. Edited by Zhao Erxun 趙爾巽 et al. Completed in 1927. Citing from 1976–77 edition by Beijing: Zhonghua shuju, in 48 volumes with continuous pagination.
  • Rawski, Evelyn S. (1998), The Last Emperors: A Social History of Qing Imperial Institutions, Berkeley, Los Angeles, and London: University of California Press, ISBN 0-520-22837-5 .
  • Rossabi, Morris (1979), “Muslim and Central Asian Revolts”, trong Spence, Jonathan D.; Wills, John E., Jr., From Ming to Ch'ing: Conquest, Region, and Continuity in Seventeenth-Century China, New Haven and London: Yale University Press, tr. 167–99, ISBN 0-300-02672-2 .
  • Roth Li, Gertraude (2002), “State Building Before 1644”, trong Peterson, Willard J., Cambridge History of China, Vol. 9, Part 1:The Ch'ing Dynasty to 1800, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 9–72, ISBN 0-521-24334-3 .
  • Spence, Jonathan D. (1969), To Change China: Western Advisors in China, 1620–1960, Boston: Little, Brown & Company, ISBN 0-14-005528-2 .
  • Spence, Jonathan D. (1999), The Search for Modern China, New York: W. W. Norton & Company, ISBN 0-393-97351-4 .
  • Spence, Jonathan D. (2002), “The K'ang-hsi Reign”, trong Peterson, Willard J., Cambridge History of China, Vol. 9, Part 1: The Ch'ing Dynasty to 1800, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 120–82, ISBN 0-521-24334-3 .
  • Standaert, Nicolas (2008), The Interweaving of Rituals: Funerals in the Cultural Exchange Between China and Europe, Seattle: University of Washington Press, ISBN 978-0-295-98810-8 .
  • Turayev, Vadim [Вадим Тураев] (1995), “О ХАРАКТЕРЕ КУПЮР В ПУБЛИКАЦИЯХ ДОКУМЕНТОВ РУССКИХ ЗЕМЛЕПРОХОДЦЕВ XVII ["Regarding omissions in the publication of documents by seventeenth-century Russian explorers"]”, trong A.R. Artemyev, Русские первопроходцы на Дальнем Востоке в XVII — XIX вв. (Историко-археологические исследования) ["Russian pioneers in the Far East in the 17th–19th centuries: historical and archaeological research"], volume 2 (bằng tiếng Nga), Vladivostok: Rossiĭskaia akademiia nauk, Dalʹnevostochnoe otd-nie, ISBN 5744204024 .
  • Wakeman, Frederic (1975), “Localism and Loyalism During the Ch'ing Conquest of Kiangnan: The Tragedy of Chiang-yin”, trong Wakeman, Frederic, Jr.; Grant, Carolyn, Conflict and Control in Late Imperial China, Berkeley: Center of Chinese Studies, University of California, Berkeley, tr. 43–85, ISBN 0-520-02597-0 .
  • Wakeman, Frederic (1984), “Romantics, Stoics, and Martyrs in Seventeenth-Century China”, Journal of Asian Studies 43 (4): 631–65, JSTOR 2057148, doi:10.2307/2057148 .
  • Wills, John E. (1984), Embassies and Illusions: Dutch and Portuguese Envoys to K'ang-hsi, 1666–1687, Cambridge (Mass.) and London: Harvard University Press, ISBN 0-674-24776-0 .
  • Wu, Silas H. L. (1979), Passage to Power: K'ang-hsi and His Heir Apparent, 1661–1722, Cambridge, Mass.: Harvard University Press, ISBN 0-674-65625-3 .
  • Zarrow, Peter (16 tháng 6 năm 2018), “Historical Trauma: Anti-Manchuism and Memories of Atrocity in Late Qing China”, History and Memory 16 (2): 67–107, doi:10.1353/ham.2004.0013 .
  • Zarrow, Peter (16 tháng 6 năm 2018), “Qianlong's inscription on the founding of the Temple of the Happiness and Longevity of Mt Sumeru (Xumifushou miao)”, trong Millward, James A. và đồng nghiệp, New Qing Imperial History: The Making of Inner Asian Empire at Qing Chengde, London and New York: RoutledgeCurzon, tr. 185–87, ISBN 0-415-32006-2  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator= (trợ giúp).
  • Zhao, Gang (tháng 1 năm 2006). “Reinventing China Imperial Qing Ideology and the Rise of Modern Chinese National Identity in the Early Twentieth Century”. Modern China (Sage Publications) 32 (Number 1): 3. JSTOR 20062627. doi:10.1177/0097700405282349. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 25 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  • Zhou, Ruchang [周汝昌] (2009), Between Noble and Humble: Cao Xueqin and the Dream of the Red Chamber, edited by Ronald R. Gray and Mark S. Ferrara, translated by Liangmei Bao and Kyongsook Park, New York: Peter Lang, ISBN 978-1-4331-0407-7 .
Thuận Trị
Sinh: 15 tháng 3, 1638 Mất: 5 tháng 2, 1661
Tước hiệu
Tiền vị
Hoàng Thái Cực
Hoàng đế nhà Thanh
1643–1661
Kế vị
Khang Hy
Tiền vị
Sùng Trinh (Minh)
Hoàng đế Trung Hoa
1644–1661