Đa Đạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đa Đạc
多鐸
Hòa Thạc Dự Thân vương
Dodo, Prince Yu.JPG
Thông tin chung
Hậu duệ Châu Lan
Đa Ni
Ba Khắc Độ
Sát Ni
Đa Nhĩ Bác
Trát Khắc Độ
Đổng Ngạch
Phí Dương Cổ
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Đa Đạc (愛新覺羅 多鐸)
Thụy hiệu Hòa Thạc Dự Thông Thân vương (和碩豫通親王)
Hoàng tộc Nhà Thanh
Thân phụ Nỗ Nhĩ Cáp Xích
Thân mẫu A Ba Hợi
Sinh 2 tháng 4 năm 1614
Mất 29 tháng 4, 1649 (35 tuổi)
Bắc Kinh, Đại Thanh

Đa Đạc (tiếng Mãn: Prince dodo.png, phiên âm Latinh: Dodo; giản thể: 多铎; phồn thể: 多鐸; bính âm: Duōduó; 2 tháng 4 năm 1614 – 29 tháng 4 năm 1649) là một thân vương Mãn Châu và một tướng lĩnh trong thời kỳ đầu nhà Thanh. Ông có tước hiệu là "Hòa Thạc Dự Thân vương" (和碩豫親王).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ái Tân Giác La Đa Đạc là con trai thứ 15 của Nỗ Nhĩ Cáp Xích - vị vua mở đầu cho triều Thanh, mẹ ruột của ông là A Ba Hợi. Ông là huynh đệ đồng mẫu với A Tế Cách (阿濟格) và Đa Nhĩ Cổn.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Hoàng Thái Cực[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiên mệnh thứ năm của Hậu Kim (1620), Đa Đạc được phong vị "Hòa Thạc Ngạch Chân" (和碩額真). Vào năm 13 tuổi, ông được phong làm Đa La bối lặc (多羅貝勒), thống lĩnh Chính Bạch kỳ, bắt đầu tham dự chính sự bộ Lễbộ Binh. Năm Thiên Thông thứ 2 (1628), Đa Đạc theo hoàng huynh Hoàng Thái Cực chinh phạt các bộ lạc Sát Cáp Nhĩ Mông Cổ, do có công nên được ban hiệu "Ngạch Nhĩ Khắc Sở Hỗ Nhĩ" (額爾克楚虎爾). Năm sau, ông lại theo hoàng huynh Hoàng Thái Cực đánh triều Minh, vào trong Trường Thành, tới sát kinh sư Bắc Kinh của triều Minh.

Năm Thiên Thông thứ 5 (1631), Đa Đạc tham gia vây khốn quân Minh trong chiến dịch Đại Lăng Hà (大凌河之役). Trong trận chiến ở Tiểu Lăng Hà, Đa Đạc để mất thăng bằng và bị ngã ngựa, suýt bỏ mạng ở ngoài thành Cẩm Châu. Năm 1634, ông tham gia vào đại quân đi viễn chinh Lâm Đãn Hãn (Ligdan Khan) của Sát Cáp Nhĩ Mông Cổ. Sang năm 1635, quân Mãn Châu bao vây Đại Lăng Hà, Đa Đạc lần đầu tiên được làm thống lĩnh.

Năm Sùng Đức thứ 1 (1636), Đa Đạc được phong làm "Hòa Thạc Dự Thân vương", theo hoàng huynh Hoàng Thái Cực đánh Triều Tiên, đánh bại quân Triều TiênNam Hán Sơn Thành (南漢山城, 남한산성). Năm 1638, do lén đưa kỹ nữ vào nơi đóng quân, Đa Đạc bị giáng làm "Đa La bối lặc". Năm 1641, Đa Đạc tham gia trận Tùng Cẩm (松錦之戰), và dẫn quân Thanh bao vây Cẩm Châu ở giai đoạn đầu của trận chiến. Sau cùng, ông dẫn một đội quân phục kích để quét sạch tàn quân Minh ở Tùng Sơn, tiếp theo cùng Túc thân vương Hào Cách (豪格) vây khốn Tùng Sơn, bắt giữ Kế Liêu tổng đốc Hồng Thừa Trù (洪承疇) của triều Minh. Do có công lao nên Đa Đạc được thăng làm "Đa La Dự Quận vương".

Thời Hoàng đế Thuận Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 1 (1644), Đa Đạc theo nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn nhập Sơn Hải quan, đánh bại quân Đại Thuận của Lý Tự Thành, chiếm lĩnh Bắc Kinh. Bản thân Đa Đạc được tiến phong làm thân vương, phong chức "Định Quốc Đại tướng quân" (定國大將軍). Cùng với Khổng Hữu Đức (孔有德) và Cảnh Trọng Minh (耿仲明), Đa Đạc suất hơn 20 vạn quân Mãn-Hán từ Hà Nam tiến đến Thiểm Tây truy kích quân Đại Thuận.

Tháng thứ nhất năm 1645, Đa Đạc chiếm được Đồng QuanTây An, sang tháng thứ hai lại phụng mệnh nam hạ để tiêu diệt Nam Minh (tàn dư của triều Minh). Trong tháng thứ bốn, Đa Đạc chiếm được Dương Châu và hành hình tướng trấn thủ của Nam Minh là Sử Khả Pháp, sau đó Đa Đạc ra lệnh tiến hành đốt giết toàn thành Dương Châu trong 10 ngày, lịch sử gọi là Dương Châu thập nhật (揚州十日). Vào tháng sau đó, quân của Đa Đạc vượt Trường Giang và chiếm kinh sư Nam Kinh của Nam Minh, bắt giữ Nam Minh Hoằng Quang Đế Chu Do Tung. Trong tháng thứ sáu, Đa Đạc phái binh bình định Giang Chiết, rồi trở về Bắc Kinh, được ban tước "Hòa Thạc Đức Dự thân vương" (和碩德豫親王).

Năm 1646, Đa Đạc được bổ nhiệm giữ chức "Dương Uy Đại tướng quân" (揚威大將軍) và xuất binh chinh thảo một cuộc nổi loạn của Đằng Cơ Tư (騰機思) thuộc Mông Cổ Tô Ni Đặc bộ. Một năm sau, Đa Đạc thụ phong tước "Phục Chính thúc Đức Dự Thân vương" (輔政叔 和碩德豫親王), trở thành nhân vật đứng thứ hai trên thực tế trong triều đình Thanh.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 3 âm lịch năm 1649, Đa Đạc nhiễm bệnh đậu mùa và qua đời. Đa Đạc được cho là rất thân cận với đại huynh Đa Nhĩ Cổn. Đa Nhĩ Cổn đang tấn công Khương Tương (姜瓖) ở Sơn Tây thì hay tin Đa Đạc lâm bệnh nặng, Đa Nhĩ Cổn ngay lập tức quay lại và vội vã trở về Bắc Kinh, song khi ông ta ở Cư Dung quan thì hay tin Đa Đạc đã mất. Đa Nhĩ Cổn đã rất đau buồn đến nỗi ông đã thay áo choàng thường và khóc trên đường trở về Bắc Kinh.

Bị giáng và phục hồi thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1652, Hoàng đế Thuận Trị đã giáng tước vị của Đa Đạc xuống làm "Đa La quận vương" do liên hệ của ông với Đa Nhĩ Cổn - người mà Thuận Trị Đế nhận thấy rằng có ý định tiếm vị. Năm 1671, dưới thời trị vì của Khang Hy Đế, Đa Đạc đã được truy tên thụy "Thông" (通), tước vị của ông cũng trở thành "Đa La Dự Thông Quận vương" (多羅豫通郡王). Tháng âm lịch đầu tiên của năm 1778, Hoàng đế Càn Long đã phục vị cho ông là "Đa Đạc thân vương" và giành một nơi cúng tế Đa Đạc trong Thái Miếu. Tháng thứ 8 âm lịch cùng năm, Đa Đạc được nhập tự tại Hiền vương từ ở Thịnh Kinh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ Mẫu

Thê thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại phúc tấn:
  • Trắc phúc tấn:
    • Trắc phúc tấn Đông Giai thị (佟佳氏), con gái của kinh xa đô úy Nhã Khắc Tần (雅克秦), sinh Sát Ni và Đổng Ngạch.
    • Trắc phúc tấn Y Nhĩ Căn Giác La thị (伊爾根覺羅氏), con gái của hộ quân thống lĩnh A Đạt Hải (阿達海).
    • Thứ phúc tấn, có ý tương ứng với Trắc phúc tấn. Bà tự thỉnh cầu tuẫn táng sau khi Đa Đạc qua đời.
  • Thứ phúc tấn:
    • Thứ phúc tấn Đông Giai thị (佟佳氏), con gái của tham lĩnh Tố Đạt Tắc (素達塞), bà sinh ra Phí Dương Cổ.
    • Thứ phúc tấn Ná Lạp thị (那拉氏), con gái Phí Dương Cổ (không phải Phí Dương Cổ ở trên), bà sinh ra Châu Lan.
    • Thứ phúc tấn Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Cam Sở Hán (甘楚漢), bà sinh ra Ba Khắc Độ.
    • Thứ phúc tân Qua Nhĩ Giai thị, con gái của Tháp Khắc Thái (塔克泰), bà sinh ra Trát Khắc Độ.
  • Thiếp:
    • Ná Lạp thị (那拉氏), con gái của Pháp Cáp (法哈).
    • Lương thị (良氏), con gái của Lương Quốc Trụ (良國柱).

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Châu Lan (珠蘭, Zhulan; 1635–1665), con trai cả.
  • Đa Ni (多尼, Doni; 1636–1661), con trai thứ hai.
  • Ba Khắc Độ (巴克度, Bakedu; 1640–1668), con trai thứ ba.
  • Sát Ni (察尼, Cani; 1641–1681), con trai thứ tư.
  • Đa Nhĩ Bác (多爾博, Dorbo; 1643–1672), con trai thứ năm.
  • Trát Khắc Độ (扎克度, Zhakedu; 1644–1689), con trai thứ sáu.
  • Đổng Ngạch (董額, Donggo; 1647–1706), con trai thứ 7.
  • Phí Dương Cổ (費揚古, Fiyanggu; 1649–1723), con trai thứ 8.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ebrey, Patricia (1993). Chinese Civilization: A Sourcebook. Simon and Schuster.
  • Voices from the Ming-Qing Cataclysm: China in Tigers' Jaws, Struve, Lynn A. Publisher:Yale University Press, 1998 ISBN 0-300-07553-7, ISBN 978-0-300-07553-3 312 pages
  • Struve, Lynn A. "Voices from the Ming-Qing Cataclysm: China in Tiger's Jaws. London: Yale University Press, 1993.
  • Liu Xiaomeng. "Twelve Princes of the Qing Dynasty" 正說清朝十二王. Zhonghua Publishers, 2006.