Quận chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quận chúa (chữ Hán: 郡主) là một tước vị thường được phong cho con gái của các vị Vương, tức Vương nữ. Trong chế độ Hoàng quyền, Quận chúa là cháu gọi các Hoàng đế đương thời bằng chú bác.

Trong văn hóa Việt Nam cận và hiện đại, Quận chúa lại hay bị nhầm là em gái ruột của các Hoàng đế, điều này hoàn toàn không đúng. Nguyên nhân sự việc này có lẽ do sách vở Việt Nam giai đoạn cận đại hay lẫn lộn danh xưng hoàng thất - khái niệm rất xa lạ với người Việt khoảng cuối thế kỉ 20.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phong hiệu [Quận chúa] này có từ thời nhà Tấn. Khi đó, các Công chúa đều lấy quận làm đất phong, nên thường được gọi là Quận công chúa (郡公主), lâu thành giản dần với tên gọi [Quận chúa]. Từ sau thời nhà Tấn trở đi, tước vị [Quận chúa] trở thành một phong hiệu độc lập; để tránh phân biệt người đời không còn gọi [Quận công chúa] giản thành [Quận chúa] nữa, mà có phân biệt rõ ràng. Đến thời nhà Đườngnhà Tống, Quận chúa phong hiệu dùng để phong cho con gái của Hoàng thái tử. Sau thời nhà Minhnhà Thanh, phong hiệu [Quận chúa] chính thức dùng cho các con gái của các vị Thân vương.

Triều Tiên, con gái Đích xuất (tức con gái do chính thê sinh ra) của Thế tử được phong Quận chúa, còn con gái Thứ xuất (tức con gái do tì thiếp sinh ra) sẽ phong Huyện chúa.

Tại Việt Nam, triều đình Việt Nam qua các đời phần lớn đều định sẵn phỏng theo Trung Hoa, tuy nhiên các đời nhà Lýnhà Trần vẫn chưa thấy ghi chép chính thức trên văn bản về danh xưng Quận chúa. Vào thời Hậu Lênhà Mạc, con gái Thân vương phong [Quận thượng chúa; 郡上主], còn con gái của đời thứ nữa mới phong [Quận chúa].

Sang thời chúa Trịnh, tước hiệu [Quận thượng chúa] dùng để gọi các chị em gái của chúa Trịnh, còn con gái của chúa được phong [Quận chúa]. Lịch sử nhà Nguyễn chỉ xuất hiện danh xưng Công chúa, còn các con gái hoàng tộc đều gọi chung rằng Tôn Nữ.

Một số vị Quận chúa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]