Hán thư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhị thập tứ sử
STT Tên sách Tác giả Số quyển
1 Sử ký Tư Mã Thiên 130
2 Hán thư Ban Cố 100
3 Hậu Hán thư Phạm Diệp 120
4 Tam quốc chí Trần Thọ 65
5 Tấn thư Phòng Huyền Linh
(chủ biên)
130
6 Tống thư Thẩm Ước 100
7 Nam Tề thư Tiêu Tử Hiển 59
8 Lương thư Diêu Tư Liêm 56
9 Trần thư Diêu Tư Liêm 36
10 Ngụy thư Ngụy Thâu 114
11 Bắc Tề thư Lý Bách Dược 50
12 Chu thư Lệnh Hồ Đức Phân
(chủ biên)
50
13 Tùy thư Ngụy Trưng
(chủ biên)
85
14 Nam sử Lý Diên Thọ 80
15 Bắc sử Lý Diên Thọ 100
16 Cựu Đường thư Lưu Hú
(chủ biên)
200
17 Tân Đường thư Âu Dương Tu,
Tống Kỳ
225
18 Cựu Ngũ Đại sử Tiết Cư Chính
(chủ biên)
150
19 Tân Ngũ Đại sử Âu Dương Tu
(chủ biên)
74
20 Tống sử Thoát Thoát
(chủ biên)
496
21 Liêu sử Thoát Thoát
(chủ biên)
116
22 Kim sử Thoát Thoát
(chủ biên)
135
23 Nguyên sử Tống Liêm
(chủ biên)
210
24 Minh sử Trương Đình Ngọc
(chủ biên)
332
- Tân Nguyên sử Kha Thiệu Văn
(chủ biên)
257
- Thanh sử cảo Triệu Nhĩ Tốn
(chủ biên)
529

Hán thư (chữ Hán: 漢書/汉书; bính âm: Hànshū) là một tài liệu lịch sử Trung Quốc cổ đại viết về giai đoạn lịch sử thời Tây Hán từ năm 206 TCN đến năm 25. Đôi khi, sách này cũng được gọi là Tiền Hán thư để phân biệt với cuốn Hậu Hán thư, viết về giai đoạn Đông Hán từ năm 25 đến năm 220, được Phạm Diệp viết trong thế kỷ 5.

Các tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Cố Ban Cố
Ban Cố
Ban Chiêu

Cuốn sách này do Ban Bưu khởi xướng. Sau khi ông chết, người con trai cả Ban Cố tiếp tục hoàn thành cuốn sách, lên tới tổng số 100 quyển, và gồm nhiều bài luận về pháp luật, khoa học, địa lý, và văn chương.

Em gái út của Ban Cố là Ban Chiêu (còn gọi là Ban Cơ) cùng Mã Tục - người ở Phù Phong - đã hoàn thành tác phẩm năm 111, 19 năm sau khi ông chết trong ngục. Ban Chiêu và Mã Tục là người soạn thảo những quyển nhỏ từ 13-20 (tám biểu biên niên) và quyển 26 (thiên văn chí) được gộp trong tác phẩm đó. Giống như cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên; Trương Khiên, một vị tướng Trung Quốc nổi tiếng, đã tiến hành nhiều chuyến viễn du về phương tây là nguồn cung cấp thông tin chính cho những dữ liệu về văn hoá và kinh tế xã hội ở Tây Vực ở quyển 96 của bộ sách này.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Hán thư tuy mô phỏng cách làm sử của Sử ký nhưng có những thay đổi, sáng tạo mới. Ban Cố không đề cập các thời đại trước nhà Hán như Tư Mã Thiên mà chỉ tập trung vào viết sử về nhà Hán. Ban Cố cho rằng, thể loại kỷ truyện của Sử ký bao quát một thời kỳ quá dài, làm mờ nhạt vai trò của nhà Hán đương thời, do đó ông chỉ lựa chọn giai đoạn nhà Hán làm sách.

Hán thư được đánh giá là bộ sử về lịch sử giai đoạn hoàn chỉnh nhất ở Trung Quốc[1].

Đối với các hoàng đế nhà Hán, Hán thư không gọi là Bản kỷ mà gọi là Kỷ.

Ban Cố nói riêng và các tác giả nói chung viết sách trên tư tưởng độc tôn vị trí của nhà Hán trong sách, chuyển Hạng Vũ từ "Bản kỷ" trong Sử ký sang "Trần Thắng Hạng Tịch liệt truyện" vì Hạng Vũ không phải vua nhà Hán. Tương tự với Vương Mãng dù là vua nhà Tân nhưng là kẻ thù của nhà Hán hay một vua Hán khác là Lưu Bồn Tử (được quân khởi nghĩa Xích Mi lập nên), do chống lại Hán Quang Vũ Đế, cũng chỉ được chép vào liệt truyện. Ban Cố bổ sung thêm thiên bản kỷ về Hán Huệ Đế mà trong sử ký gộp vào trong bản kỷ về Lã hậu.

Hán thư là kho tư liệu phong phú và đa dạng, trong đó bảo lưu được nhiều văn kiện lịch sử quan trọng có giá trị, với nhiều chiếu thư, tấu chương và trước tác thể hiện sách lược, mưu kế, tư tưởng chính trị, ngoại giao của các nhân vật. Hán thư còn bổ sung thêm khá nhiều tư liệu về các dân tộc thiểu số mà Tư Mã Thiên chưa đề cập trong Sử ký.

Ngoài ra, Hán thư còn có các thiên Bách quan công khanh biểu, Hình pháp chí, Địa lý chí, Nghệ văn chí mà Sử ký không có.

Tư tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản in thời Minh, lưu trữ tại thư viện Thiên Nhất Các, Ninh Ba

Hán thư theo tư tưởng Nho giáo chính thống rõ nét. Thời kỳ các tác giả soạn Hán thư, tư tưởng thần học phong kiến đã rất phát triển và trở thành tư tưởng thống trị xã hội. Chính vì vậy, hệ tư tưởng trung quân ái quốc trở thành tư tưởng xuyên suốt trong tác phẩm.

Do đó, một mặt tiếp thu sử liệu từ Sử ký, mặt khác Hán thư lại phê phán Sử ký là vô quân vô chủ, vô thánh vô thần. Điều đó giúp Hán thư trở thành công cụ đắc lực bảo vệ cho hệ tư tưởng phong kiến và được triều đình nhà Hán hoan nghênh[2].

Trên tư tưởng đó, Hán thư vứt bỏ tư tưởng tiến bộ "cùng thiên nhân chi tế, thông cổ kim chi tiến" của Tư Mã Thiên[2] và tập trung ca ngợi học thuyết thần bí về thiên nhân tương ứng và âm dương ngũ hành, coi đó là quy luật vĩnh hằng của sự phát triển xã hội. Điều này thể hiện trong thiên "Ngũ hành chí". Ban Cố tập trung trận luận thuyết của Đổng Trọng Thư, Lưu Hướng, Lưu Hâm… về học thuyết âm dương ngũ hành. Trong rất nhiều sự kiện lịch sử, Hán thư dựa vào sự thiên biến để kiểm chứng nhân sự. Điều này không hề có trong Sử ký Tư Mã Thiên.

Tư tưởng phong kiến chính thống của Hán thư rất có lợi cho giai cấp phong kiến thống trị qua các thời đại. Truyện Ban Cố trong sách Hậu Hán thư chép rằng:

"Các học giả không ai không ca ngợi Hán thư. Các triều đại về sau cũng không ngừng sao chép, in ấn cuốn sách này"[3].

Văn phong[sửa | sửa mã nguồn]

Khi viết tác phẩm này, Ban Cố sử dụng khá nhiều cổ văn, dùng chữ Hán cổ. Do đó, đây là tác phẩm khó đọc, khó tiếp cận và nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đánh giá, thậm chí ngay cả những người cùng thời với Ban Cố chưa chắc đã hiểu hết Hán thư[4].

Chính vì vậy, đời sau có nhiều học giả chú thích cho Hán thư. Theo ghi chép của Tùy thư, từ thời Đông Hán đến thời Nam Bắc triều, đã có hơn 20 học giả tiếp cận với Hán thư, trong đó phần lớn là chú thích.

Tuy nhiên, các bản chú thích Hán thư trước thời nhà Đường đều không còn. Phiên bản chú thích cổ nhất còn được lưu giữ là của Nhan Sư Cổ[5] và một số học giả cùng biên soạn. Ngoài ra còn 2 bản phổ biến khác là "Hán thư bổ giải" của Vương Tiến Khiêm đời nhà Thanh"Hán thư bổ chú bổ chính" của Dương Thúc Đạt thời cận đại[4]

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Cách viết sử chỉ tập trung về một triều đại của Ban Cố ảnh hưởng rất lớn đến đời sau. Nhiều sử gia sau ông học tập cách làm sử của ông, chỉ viết sử về một triều đại hay một giai đoạn lịch sử[6]. Trong Nhị thập tứ sử, Hán thư cùng với Sử ký được xếp lên trên hết, được các thế hệ sau coi là kinh điển sử học quan trọng nhất[1].

Sử gia hiện đại Hsu Mei-ling phát biểu rằng phong cách viết của Ban Cố trong các phần về địa lý đã thiết lập xu hướng cho việc thiết lập các tiết đoạn địa lý trong các văn bản lịch sử, và có thể nhất là đã khuấy động xu hướng về từ điển địa lý tại Trung Quốc cổ đại[7].

Cuốn sách đã vạch ra các khuôn khổ cho những văn bản ở các triều đại Trung Quốc sau này, và hiện được dùng tham khảo khi nghiên cứu về giai đoạn nhà Hán. Hán thư cũng thường được coi là một phần trong bộ Tiền tứ sử của tổng tập Nhị thập tứ sử, cùng với cuốn Sử ký, Tam Quốc chíHậu Hán thư.

Trích dẫn tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Vạn lý đồng phong" (Muôn dặm, cùng gió) - Sách Hán thư, Chung Vương Giả truyện (終王賈傳): "Kim thiên hạ vi nhất, vạn lý đồng phong = Nay cõi trần là một, muôn dặm cùng một ngọn gió (今天下為一、萬里同風)".
  2. "Mục chỉ khí sử" (Trỏ bằng mắt, khiến bằng thần khí) - Cống Vũ, một nhân vật trong sách Hán thư (truyện Cống Vũ, 貢禹) viết trong thư cho Hán Nguyên đế: "Hành tuy khuyển trệ, gia phú thế túc, mục chỉ khí sử, thị vi hiền nhĩ = Tuy hành vi ta như chó như lợn, nhưng nhà giàu, thế lực đủ, ta trỏ người bằng mắt, khiến người bằng thần khí, vì ấy ta khá hơn người thôi vậy (行雖犬彘、家富勢足、目指氣使、是為賢耳)".

Mục lục[sửa | sửa mã nguồn]

Bản kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
1 Cao Đế kỷ Cao Tổ Lưu Bang
2 Huệ Đế kỷ Huệ Đế Lưu Doanh
3 Cao Hậu kỷ Lã Trĩ (Thiếu Đế Lưu Cung, Thiếu Đế Lưu Hoằng)
4 Văn Đế kỷ Văn Đế Lưu Hằng
5 Cảnh Đế kỷ Cảnh Đế Lưu Khải
6 Vũ Đế kỷ Vũ Đế Lưu Triệt
7 Chiêu Đế kỷ Chiêu Đế Lưu Phất Lăng
8 Tuyên Đế kỷ Tuyên Đế Lưu Tuân
9 Nguyên Đế kỷ Nguyên Đế Lưu Thích
10 Thành Đế kỷ Thành Đế Lưu Ngao
11 Ai Đế kỷ Ai Đế Lưu Hân
12 Bình Đế kỷ Bình Đế Lưu Khản

Biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
13 Dị tính chư hầu vương biểu Bảng các vương ngoài họ Lưu
14 Chư hầu vương biểu Bảng các vương họ Lưu
15 Vương tử hầu biểu Bảng các con được phong tước hầu của các vương
16 Cao Huệ Cao Hậu Văn công thần biểu Bảng các công thần của Cao Đế, Huệ Đế, Cao Hậu, Văn Đế
17 Cảnh Vũ Chiêu Tuyên Nguyên Thành công thần biểu Bảng các công thần của Cảnh Đế, Vũ Đế, Chiêu Đế, Tuyên Đế, Nguyên Đế, Thành Đế
18 Ngoại thích ân trạch hầu biểu Bảng các ngoại thích được phong tước hầu
19 Bách quan công khanh biểu Bảng các quan và công khanh trong triều đình
20 Cổ kim nhân biểu Bảng các nhân vật từ thời thượng cổ đến hết thời Tây Hán

Chí[sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
21 Luật lịch chí Ghi chép về lịch: lịch Thái Sơ của Đặng Bình, lịch Tam Thống của Lưu Hâm
22 Lễ nhạc chí Ghi chép về lễ nghi và âm nhạc
23 Hình pháp chí Ghi chép về hình phạt và luật pháp
24 Thực hóa chí Ghi chép về thực phẩm và hàng hóa
25 Giao tự chí Ghi chép về tế lễ
26 Thiên văn chí Ghi chép về thiên văn học
27 Ngũ hành chí Ghi chép về ngũ hành
28 Địa lý chí Ghi chép về địa lý thời Tây Hán
29 Câu hức chí Ghi chép về sông ngòi và kênh đào
30 Nghệ văn chí Ghi chép về văn học, căn cứ vào Biệt lục của Lưu HướngThất lược của Lưu Hâm

Liệt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Quyển Tựa đề Nội dung
31 Trần Thắng Hạng Tịch truyện Trần Thắng, Hạng Tịch
32 Trương Nhĩ Trần Dư truyện Trương Nhĩ, Trần Dư
33 Ngụy Báo Điền Đam Hàn vương Tín truyện Ngụy Báo, Điền Đam, Hàn vương Tín
34 Hàn Bành Anh Lư Ngô truyện Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố, Lư Quán, Ngô Nhuế
35 Kinh Yên Ngô truyện Kinh vương Lưu Giả, Yên vương Lưu Trạch, Ngô vương Lưu Tỵ
36 Sở Nguyên vương truyện Sở Nguyên vương Lưu Giao, Lưu Hướng, Lưu Hâm
37 Quý Bố Loan Bố Điền Thúc truyện Quý Bố, Loan Bố, Điền Thúc
38 Cao ngũ vương truyện Lưu Phì, Lưu Như Ý, Lưu Hữu, Lưu Khôi, Lưu Kiến
39 Tiêu Hà Tào Tham truyện Tiêu Hà, Tào Tham
40 Trương Trần Vương Chu truyện Trương Lương, Trần Bình, Vương Lăng, Chu Bột
41 Phàn Lịch Đằng Quán Phó Cận Chu truyện Phàn Khoái, Lịch Thương, Hạ Hầu Anh, Quán Anh, Phó Khoan, Cận Hấp, Chu Tiết
42 Trương Chu Triệu Nhâm Thân Đồ truyện Trương Thương, Chu Xương, Triệu Nghiêu, Nhâm Ngao, Thân Đồ Gia
43 Lịch Lục Chu Lưu Thúc Tôn truyện  Lịch Tự Cơ, Lục Giả, Chu Kiến, Lưu Kính, Thúc Tôn Thông
44 Hoài Nam Hành Sơn Tế Bắc vương truyện Hoài Nam Lệ vương Lưu Trường, Hành Sơn vương Lưu Tứ, Tế Bắc Trinh vương Lưu Bột
45 Khoái Ngũ Giang Tức Phu truyện Khoái Thông, Ngũ Bị, Giang Sung, Tức Phu Cung
46 Vạn Thạch Trực Chu Trương truyện Thạch Phấn, Vệ Oản, Trực Bất Nghi, Chu Nhân, Trương Âu
47 Văn tam vương truyện Lương Hiếu vương Lưu Vũ, Đại Hiếu vương Lưu Tham, Lương Hoài vương Lưu Ấp
48 Giả Nghị truyện Giả Nghị
49 Viên Áng Tiều Thố truyện Viên Áng, Tiều Thố
50 Trương Phùng Cấp Trịnh truyện Trương Thích Chi, Phùng Đường, Cấp Ảm, Trịnh Đương Thời
51 Giả Trâu Mai Lộ truyện Giả Sơn, Trâu Dương, Mai Thặng, Lộ Ôn Thư
52 Đậu Điền Quán Hàn truyện Đậu Anh, Điền Phẫn, Quán Phu, Hàn An Quốc
53 Cảnh thập tam vương truyện Lâm Giang Mẫn vương Lưu Vinh, Hà Gian Hiến vương Lưu Đức, Lâm Giang Ai vương Lưu Yên, Lỗ Cung vương Lưu Dư, Giang Đô Dịch vương Lưu Phi, Giao Tây Vu vương Lưu Đoan, Triệu Kính Túc vương Lưu Bành Tổ, Trung Sơn Tĩnh vương Lưu Thắng, Trường Sa Định vương Lưu Phát, Quảng Xuyên Huệ vương Lưu Việt, Giao Đông Khang vương Lưu Ký, Thanh Hà Ai vương Lưu Thừa, Thường Sơn Hiến vương Lưu Thuấn
54 Lý Quảng Tô Kiến truyện Lý Quảng, Tô Kiến
55 Vệ Thanh Hoắc Khứ Bệnh truyện Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh
56 Đổng Trọng Thư truyện Đổng Trọng Thư
57 Tư Mã Tương Như truyện Tư Mã Tương Như
58 Công Tôn Hoằng Bốc Thức Nghê Khoan truyện Công Tôn Hoằng, Bốc Thức, Nghê Khoan
59 Trương Thang truyện Trương Thang
60 Đỗ Chu truyện Đỗ Chu
61 Trương Khiên Lý Quảng Lợi truyện Trương Khiên, Lý Quảng Lợi
62 Tư Mã Thiên truyện Tư Mã Thiên
63 Vũ ngũ tử truyện Lệ Thái tử Lưu Cứ, Tề Hoài vương Lưu Hoành, Yên Thích vương Lưu Đán, Quảng Lăng Lệ vương Lưu Tư, Xương Ấp Ai vương Lưu Bác
64 Nghiêm Chu Ngô Khâu Chủ Phụ Từ Nghiêm Chung Vương Giả truyện Nghiêm Trợ, Chu Mãi Thần, Ngô Khâu Thọ Vương, Chủ Phụ Yển, Từ Nhạc, Nghiêm An, Chung Quân, Vương Bao, Giả Quyên Chi
65 Đông Phương Sóc truyện Đông Phương Sóc
66 Công Tôn Lưu Điền Vương Dương Sái Trần Trịnh truyện Công Tôn Hạ, Lưu Khuất Ly, Điền Thiên Thu, Vương Hân, Dương Sưởng, Sái Nghĩa, Trần Vạn Niên, Trịnh Hoằng
67 Dương Hồ Chu Mai Vân truyện Dương Vương Tôn, Hồ Kiến, Chu Vân, Mai Phúc
68 Hoắc Quang Kim Nhật Đê truyện Hoắc Quang, Kim Nhật Đê
69 Triệu Sung Quốc Tân Khánh Kỵ truyện Triệu Sung Quốc, Tân Khánh Kỵ
70 Phó Thường Trịnh Cam Trần Đoàn truyện Phó Giới Tử, Thường Huệ, Trịnh Cát, Cam Diên Thọ, Trần Thang, Đoàn Hội Tông
71 Tuấn Sơ Vu Tiết Bình Bành truyện Tuấn Bất Nghi, Sơ Quảng, Vu Định Quốc, Tiết Quảng Đức, Bình Đương, Bành Tuyên
72 Vương Cống lưỡng Cung Bào truyện Vương Cát, Cống Vũ, Cung Thắng, Cung Xá, Bào Tuyên
73 Vi Hiền truyện Vi Hiền
74 Ngụy Tương Bính Cát truyện Ngụy Tương, Bính Cát
75 Tuy lưỡng Hạ Hầu Kinh Dực Lý truyện Tuy Hoằng, Hạ Hầu Thủy Xương, Hạ Hầu Thắng, Kinh Phòng, Dực Phụng, Lý Tầm
76 Triệu Doãn Hàn Trương lưỡng Vương truyện Triệu Quảng Hán, Doãn Ông Quy, Hàn Diên Thọ, Trương Sưởng, Vương Tôn, Vương Chương
77 Cái Gia Cát Lưu Trịnh Tôn Vô Tương Hà truyện Cái Khoan Nhiêu, Gia Cát Phong, Lưu Phụ, Trịnh Sùng, Tôn Bảo, Vô Tương Long, Hà Tịnh
78 Tiêu Vọng Chi truyện Tiêu Vọng Chi
79 Phùng Phụng Thế truyện Phùng Phụng Thế
80 Tuyên Nguyên lục vương truyện Hoài Dương Hiến vương Lưu Khâm, Sở Hiếu vương Lưu Hiêu, Đông Bình Tư vương Lưu Vũ, Trung Sơn Ai vương Lưu Cánh, Định Đào Cung vương Lưu Khang, Trung Sơn Hiếu vương Lưu Hưng
81 Khuông Trương Khổng Mã truyện Khuông Hành, Trương Vũ, Khổng Quang, Mã Cung
82 Vương Thương Sử Đan Phó Hỉ truyện Vương Thương, Sử Đan, Phó Hỉ
83 Tiết Tuyên Chu Bác truyện Tiết Tuyên, Chu Bác
84 Trạch Phương Tiến truyện Trạch Phương Tiến
85 Cốc Vĩnh Đỗ Nghiệp truyện Cốc Vĩnh, Đỗ Nghiệp
86 Hà Vũ Vương Gia Sư Đan truyện Hà Vũ, Vương Gia, Sư Đan
87 Dương Hùng truyện Dương Hùng
88 Nho lâm truyện Đinh Khoan, Thi Thù, Mạnh Hỉ, Lương Khâu Hạ, Phí Trực, Phục Sinh, Âu Dương Sinh, Lâm Tôn, Chu Kham, Trương Sơn Phủ, Vương Thức, Hậu Thương, Hồ Mẫu Sinh, Nghiêm Bành Tổ, Nhan An Lạc, Phòng Phượng
89 Tuần lại truyện Văn Ông, Ngũ Thành, Hoàng Bá, Chu Ấp, Cung Toại, Thiệu Tín Thần
90 Khốc lại truyện Chất Đô, Nịnh Thành, Triệu Vũ, Nghĩa Tung, Vương Ôn Thư, Doãn Tề, Dương Bộc, Hàm Tuyên, Điền Quảng Minh, Điền Diên Niên, Nghiêm Diên Niên, Doãn Thưởng
91 Hóa thực truyện Bạch Khuê, Trình Trịnh
92 Du hiệp truyện Chu Gia, Điền Trọng, Kịch Mạnh, Quách Giải, Vạn Chương, Lâu Hộ, Trần Tuân, Nguyên Thiệp
93 Nịnh hạnh truyện Đặng Thông, Triệu Đàm, Hàn Yên, Lý Diên Niên, Thạch Hiển, Thuần Vu Trường, Đổng Hiền
94 Hung Nô truyện Hung Nô
95 Tây Nam Di lưỡng Việt Triều Tiên truyện Tây Nam Di, Nam Việt, Mân Việt, Đông Hải, Vệ Mãn Triều Tiên
96 Tây Vực truyện Tây Vực
97 Ngoại thích truyện Ngoại thích: Cao Tổ Lã hoàng hậu, Hiếu Huệ Trương hoàng hậu, Cao Tổ Bạc Cơ, Hiếu Văn Đậu hoàng hậu, Hiếu Cảnh Bạc hoàng hậu, Hiếu Cảnh Vương hoàng hậu, Hiếu Vũ Trần hoàng hậu, Hiếu Vũ Vệ hoàng hậu tự Tử Phu, Hiếu Vũ Lý phu nhân, Hiếu Vũ câu dặc Triệu Tiệp Dư, Hiếu Chiêu Thượng Quan hoàng hậu, Vệ thái tử Sử Lương Đệ, Sử hoàng tôn Vương phu nhân, Hiếu Tuyên Hứa hoàng hậu, Hiếu Tuyên Hoắc hoàng hậu, Hiếu Tuyên Vương hoàng hậu, Hiếu Thành Hứa hoàng hậu, Hiếu Thành Ban Tiệp Dư, Hiếu Thành Triệu hoàng hậu, Hiếu Nguyên Phó chiêu nghi, Định Đào Đinh Cơ, Hiếu Ai Phó hoàng hậu, Hiếu Nguyên Phùng chiêu nghi, Trung Sơn Vệ Cơ, Hiếu Bình Vương hoàng hậu
98 Nguyên Hậu truyện Vương Chính Quân
99 Vương Mãng truyện Vương Mãng
100 Tự truyện Lịch sử nhà họ Ban, lời tựa của Ban Cố

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Thanh Hà (2009), Mười nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng
  • Hulsewé A. F. P. và Loewe M. A. N. 1979. China in Central Asia: The Early Stage 125 BC – AD 23: an annotated translation of chapters 61 and 96 of the History of the Former Han Dynasty. E. J. Brill, Leiden.
  • Watson Burton. 1974. Courtier and Commoner in Ancient China. Selections from the History of the Former Han., Nhà in Đại học Columbia, New York. (bản dịch tiếng Anh các chương 54,63,65,67,68,71,74,78,92, 97).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 308
  2. ^ a ă Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 30
  3. ^ Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 34
  4. ^ a ă Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 32
  5. ^ Tổ tiên của Nhan Chi Thôi và sau nữa là Nhan Chân Khanh đời nhà Đường
  6. ^ Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 31
  7. ^ Hsu Mei-ling. "The Qin Maps: A Clue to Later Chinese Cartographic Development," Imago Mundi (quyển 45, 1993): 90-100, trang 98.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]