Nam Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
南越
Nam Việt

 

204 TCN–111 TCN
 

Vị trí của Nam Việt
Lãnh thổ Nam Việt thời điểm rộng nhất
Thủ đô Phiên Ngung
Ngôn ngữ Tiếng Việt cổ
Tiếng Hoa cổ
Tôn giáo Tín ngưỡng của người Việt cổ
Chính thể Quân chủ
Đế hoặc Vương
 - 204–137 TCN Triệu Vũ Đế
 - 137–122 TCN Triệu Văn Đế
 - 122–113 TCN Triệu Minh Vương
 - 113–112 TCN Triệu Ai Vương
 - 112–111 TCN Triệu Dương Vương
Thừa tướng
 - 124–111 TCN Lữ Gia
Lịch sử
 - Nhà Tần bình định Lĩnh Nam 218 TCN
 - Thành lập 204 TCN
 - Xâm chiếm Âu Lạc 207 TCN
 - Thần phục nhà Hán lần thứ nhất 196 TCN
 - Triệu Đà xưng Đế 183 TCN
 - Thần phục nhà Hán lần thứ hai 179 TCN
 - Chiến tranh Hán-Nam Việt 111 TCN
Hiện nay là một phần của  Trung Quốc
 Việt Nam

Nam Việt (chữ Hán: 南越; bính âm: Nányuè; tiếng Quảng Đông: Nàahm-yuht) là một quốc gia cổ có lãnh thổ bao trùm một số phần các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc hiện đại và phần lớn miền Bắc Việt Nam hiện nay, dưới sự cai trị của nhà Triệu.

Nước Nam Việt do Triệu Đà, một viên quan nhà Tần kiến lập năm 203 TCN. Kinh đô của Nam Việt là thành Phiên Ngung (番禺), nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chi tiết về lịch sử nước Nam Việt được ghi chép lại qua Sử ký Tư Mã Thiên vào thời nhà Hán. Được đề cập chủ yếu trong phần Liệt truyện, quyển 113[1]: Biên niên sử Nam Việt (南越列傳). Nó ghi lại các thông tin của nước Nam Việt dưới thời Triệu Đà cho đến khi sụp đổ dưới thời Triệu Kiến Đức.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 vương quốc cổHàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, ông ta bắt đầu chuyển sự chú ý sang các bộ lạc người Hung Nô ở phía bắc và Bách Việt ở phía nam.

Khoảng năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư cùng 500.000 quân Tần chia làm 5 đạo tấn công các bộ lạc Bách Việt ở vùng đất Lĩnh Nam.

  • Đạo quân thứ nhất hợp binh ở Dư Can (nay là huyện Dư Can, tỉnh Giang Tây) và đánh chiếm Mân Việt lập ra quận Mân Trung.
  • Đạo quân thứ 2 được tăng cường thêm tại Nam Dã (nay là huyện cấp thị Nam Khang, tỉnh Giang Tây) nhằm buộc các dân tộc Việt ở phía nam phải phòng thủ.
  • Đạo quân thứ 3 đánh chiếm Phiên Ngung.
  • Đạo quân thứ 4 đồn trú gần núi Cửu Nghi (chữ Hán: 九嶷山).
  • Đạo quân thứ 5 đóng quân bên ngoài Đàm Thành (镡城, phía tây nam Tĩnh Châu, tỉnh Hồ Nam ngày nay)[2].

Tần Thủy Hoàng sai viên quan Sử Lộc (史禄) giám sát việc cung cấp hậu cần. Đầu tiên Sử Lộc chỉ huy một nhóm quân vượt qua kênh Hưng An (nối liền Tương giangLi giang), sau đó dùng thuyền vượt sông Dương Tửsông Châu Giang tìm được con đường an toàn tiếp tế lương thực cho quân Tần. Quân Tần sau đó tấn công Âu Việt, thủ lĩnh của Âu ViệtDịch Hu Tống (譯吁宋) bị giết. Tuy nhiên, Âu Việt vẫn phản kháng. Họ bỏ chạy vào rừng và bầu ra một thủ lĩnh mới là Kiệt Tuấn (桀駿) để tiếp tục chống lại quân Tần. Sau đó một cuộc tấn công vào ban đêm của Âu Việt đã gây thiệt hại nặng cho quân Tần, tướng Đồ Thư bị giết cùng khoảng 10 vạn quân[2].

Triều đình nhà Tần đã chọn Nhâm Ngao lên nắm quyền chỉ huy thay cho Đồ Thư. Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng cử Nhâm Ngao chỉ huy quân tiếp viện tiếp tục tấn công. Lần này Âu Việt đã bị đánh bại hoàn toàn và phần lớn vùng Lĩnh Nam bị sáp nhập vào Tần. Cùng năm, nhà Tần lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng quận. Nhâm Ngao được bổ nhiệm làm Quận úy Nam Hải. Nam Hải được chia thành 4 huyện là Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác LaYết Dương. Triệu Đà được bổ nhiệm làm Huyện lệnh Long Xuyên.

Tần Thủy Hoàng chết năm 210 TCN, con trai Hồ Hợi lên thay trở thành Tần Nhị Thế. Một năm sau, khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng nổ ra. Cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp, toàn bộ khu vực sông Hoàng Hà rơi vào hỗn loạn. Phong trào chống Tần ngày càng mạnh khiến Tần Nhị Thế phải bãi binh ở Lĩnh Nam. Năm 208 TCN, Quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết cho gọi Triệu Đà đến, dặn dò nên chiếm lấy vùng Lĩnh Nam cát cứ. Nhâm Ngao chết, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân đội Trung Nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những quan lại nhà Tần bổ nhiệm ở Lĩnh Nam, cho tay chân của mình thay vào những chức vụ đó.

Năm 206 TCN, nhà Tần sụp đổ, các bộ tộc Bách ViệtQuế LâmTượng quận trở nên độc lập hơn với Trung Nguyên. Theo truyền thuyết, thủ lĩnh An Dương Vương ở phía nam đã thành lập vương quốc Âu Lạc (chữ Hán: 甌駱). Theo quan điểm hiện nay của chính phủ Việt Nam, khoảng năm 179 TCN[3], Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc[4][5] của An Dương Vương, chia lãnh thổ Âu Lạc làm 2 quận Giao ChỉCửu Chân rồi sáp nhập vào Nam Hải, Quế Lâm, Tượng quận. Lãnh địa gồm 5 quận của Nam Việt ổn định tới khi nước này bị diệt cùng nhà Triệu. Năm 204 TCN, Triệu Đà lập nên nước Nam Việt, kinh đô đặt ở Phiên Ngung và xưng là Nam Việt Vũ Vương (chữ Hán: 南越武王).

Thời Triệu Đà[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê
   Nhà Lê sơ (1428 - 1527)
   
   trung
   hưng
(1533 - 1789)
Nhà Mạc (1527 - 1592)
Trịnh-Nguyễn
phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Quốc gia Việt Nam
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa
Bản đồ hành chính các quận phía Đông Bắc nước Nam Việt (khoảng thế kỉ 2-3 TCN)

Ban đầu, lãnh thổ Nam Việt gồm 3 quận Nam Hải (đại bộ phận tương đương Quảng Đông ngày nay), Quế Lâm (đông bộ Quảng Tây) và Tượng (tây bộ Quảng Tây, nam bộ Quý Châu)[6]. Nước Nam Việt phía bắc giáp Mân Việt và phong quốc Trường Sa, phía tây giáp Dạ Lang, phía tây nam giáp Âu Lạc, phía đông nam giáp biển.

Năm 202 TCN, Lưu Bang thống nhất Trung Nguyên và thành lập nhà Hán. Cuộc chiến của Lưu Bang đã khiến nhiều khu vực của Trung Quốc bị tàn phá nặng nề và dân số suy giảm. Các lãnh chúa phong kiến tiếp tục nổi loạn khắp nơi, trong khi lãnh thổ ở phía bắc thường xuyên bị người Hung Nô tấn công. Tình trạng bất ổn đó buộc triều đình Hán phải cư xử hòa hảo với Nam Việt. Năm 196 TCN, Lưu Bang, bây giờ là Hán Cao Tổ đã cử Lục Giả (陸賈) đến Nam Việt với hi vọng lấy được lòng trung thành của Triệu Đà. Sau khi đến nơi, Lục Giả gặp Triệu Đà và được cho là đã thấy Triệu Đà đón tiếp ông trong trang phục và phong tục của người Bách Việt. Điều đó đã khiến cho Lục Giả nổi giận. Lục Giả quở trách Triệu Đà, chỉ ra rằng ông là người Hoa Hạ chứ không phải người Việt, và nên giữ cách ăn mặc cùng lễ nghi của người Trung Nguyên, không được quên truyền thống của tổ tiên mình. Lục Giả ca ngợi sức mạnh của nhà Hán và cảnh báo một vương quốc nhỏ như Nam Việt chống lại nhà Hán sẽ là liều lĩnh. Sau khi đe dọa giết thân thích của Triệu Đà ở đất Hán và phá hủy mồ mả tổ tiên, cũng như ép buộc dân Bách Việt phế truất ông, Triệu Đà đã quyết định nhận con dấu của Hán Cao Tổ và quy phục nhà Hán. Quan hệ buôn bán được thiết lập tại biên giới của Nam Việt và phong quốc Trường Sa thuộc Hán. Mặc dù chính thức là một nước chư hầu của nhà Hán nhưng Nam Việt dường như không mất đi quyền tự chủ trên thực tế.

Tượng Triệu Đà, phía trước Nhà ga đường sắt Hà Nguyên.

Sau khi Lưu Bang chết năm 195 TCN, quyền lực rơi vào tay Lã Hậu. Lã Hậu sai người đến quê hương của Triệu Đà là Chân Định (真定) (nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) giết nhiều họ hàng thân thích và mạo phạm mộ tổ tiên của Triệu Đà. Triệu Đà tin rằng Trường Sa vương Ngô Thần đã tạo ra những lời buộc tội dối trá chống lại ông để Lã Hậu cắt đứt buôn bán giữa hai nước và để chuẩn bị đánh chiếm Nam Việt sáp nhập vào phong quốc Trường Sa của Ngô Thần. Để trả thù, Triệu Đà xưng là Hoàng đế (tức Nam Việt Vũ Đế) và đánh chiếm Trường Sa. Lã Hậu cử tướng Chu Táo chỉ huy quân đội để trừng phạt Triệu Đà. Thời tiết nóng ẩm ở phía nam khiến binh lính của Chu Táo đổ bệnh, không thể tiến tiếp xuống phía nam. Cuối cùng họ phải rút lui. Sau đó Triệu Đà dùng của cải vỗ về các nước xung quanh như Mân Việt ở phía đông và Tây Âu Lạc ở phía nam.

Năm 179 TCN, Lưu Hằng lên ngôi vua Hán trở thành Hán Văn Đế. Ông đã đảo ngược nhiều chính sách trước đó của Lã Hậu và thực hiện thái độ hòa giải đối với Triệu Đà. Hán Văn Đế ra lệnh cho các viên quan đến thăm Chân Định, cho quân canh giữ bảo vệ huyện trấn và thường xuyên chăm lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Đà. Thừa tướng Trần Bình đề nghị cử Lục Giả đến Nam Việt vì họ đã biết nhau từ trước. Lục Giả đến Phiên Ngung thêm một lần nữa và giao bức thư của Hán Văn Đế cho Triệu Đà nhấn mạnh rằng những chính sách của Lã Hậu là nguyên nhân gây ra sự thù địch giữa Nam Việt với triều đình Hán và đem đến nỗi đau khổ cho dân thường ở biên giới. Triệu Đà lại quyết định quy phục nhà Hán lần nữa, rút lại danh xưng Hoàng đế và trở lại xưng Vương, Nam Việt lại trở thành nước chư hầu của nhà Hán. Tuy vậy, hầu như những sự thay đổi đó chỉ là bề ngoài, Triệu Đà tiếp tục được gọi là Hoàng đế khắp Nam Việt.

Ngoài 5 quận (hoặc 4 quận) trực tiếp cai trị, Triệu Đà còn gây ảnh hưởng tới các nước nhỏ thuộc tộc Bách Việt xung quanh như Đông Việt (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), tức là toàn bộ phía đông Hoa Nam[7].

Thời Triệu Mạt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 137 TCN, Triệu Đà mất. Vì tuổi cao (ước đoán khoảng 100 tuổi), con trai của ông - hoàng tử Triệu Trọng Thủy - đã chết trước, vì vậy cháu của Triệu ĐàTriệu Mạt trở thành vua Nam Việt.

Năm 135 TCN, vua nước láng giềng là Mân Việt mở cuộc tấn công vào các thị trấn dọc biên giới giữa Nam Việt và Mân Việt. Vì Triệu Mạt chưa củng cố quyền lực của mình, nên buộc phải cầu xin Hán Vũ Đế gửi quân đến giúp Nam Việt chống lại bọn mà ông gọi là "những kẻ nổi loạn Mân Việt". Hán Vũ Đế khen Triệu Mạt là một chư hầu trung thành và phái Đại hành Vương Khôi, một viên chức cai trị người dân tộc thiểu số, và Đại tư nông Hàn An Quốc chỉ huy quân đội, ra lệnh chia quân thành 2 đạo tấn công Mân Việt từ hai hướng, một từ Dự Chương, hướng khác là từ Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng). Nhưng trước khi quân Hán hành quân đến nơi thì vua Mân Việt là Dĩnh đã bị em trai là Dư Thiện ám sát, sau đó Dư Thiện đã nhanh chóng đầu hàng.

Hán Vũ Đế sau đó cử sứ giả là Nghiêm Trợ đến Phiên Ngung để đưa bản tuyên bố đầu hàng chính thức của Mân Việt cho Triệu Mạt. Triệu Mạt bày tỏ lòng biết ơn của mình đến Hán Vũ Đế cùng lời hứa rằng ông sẽ vào kinh đô triều kiến Hán Vũ Đế tại Trường An. Và sau đó, thậm chí Triệu Mạt đã phái con trai của mình là Triệu Anh Tề cùng đến Trường An với Nghiêm Trợ. Trước đây Triệu Mạt chưa bao giờ tới Trường An. Một cận thần của ông đã ra sức khuyên không nên đi vì sợ rằng Hán Vũ Đế sẽ tìm ra một vài nguyên nhân để ngăn cản ông quay trở về, điều đó sẽ dẫn đến sự diệt vong của nước Nam Việt. Triệu Mạt vì vậy đã cáo bệnh và không bao giờ đến Trường An.

Ngay sau khi Mân Việt đầu hàng quân Hán, Vương Khôi đã phái Đường Mông, Huyện lệnh Phiên Dương, đến để đưa tin Mân Việt đầu hàng cho Triệu Mạt. Khi ở Nam Việt, Đường Mông đã được giới thiệu ăn một loại nước sốt truyền thống của Nam Việt được làm từ quả sơn tra nhập khẩu từ đất Thục. Ngạc nhiên rằng đó là một sản vật sẵn có, và Đường Mông đã được biết rằng có một tuyến đường từ Thục (nay là tỉnh Tứ Xuyên) đi đến Dạ Lang, rồi sau đó dọc theo sông Tang Kha (ngày nay là sông Bắc Bàn chảy qua tỉnh Vân NamQuý Châu) đi thẳng đến kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt. Ngay sau đó Đường Mông đã phác thảo một kế hoạch trình lên Hán Vũ Đế đề nghị tập hợp 100.000 quân tinh nhuệ tại Dạ Lang, sau đó dùng thuyền vượt sông Tang Kha để mở cuộc tấn công bất ngờ vào Nam Việt.

Hán Vũ Đế đồng ý với kế hoạch của Đường Mông, phong ông làm Lang Trung tướng và cho phép ông dẫn đầu 1000 quân cùng nhiều quân lương và xe hàng từ hẻm Ba Phù (ngày nay gần huyện Hợp Giang, tỉnh Tứ Xuyên) tiến vào Dạ Lang. Nhiều xe hàng mang theo là quà tặng cho các lãnh chúa phong kiến của Dạ Lang như là quà hối lộ để họ tuyên bố trung thành với nhà Hán, điều mà sau đó họ đã làm, và Dạ Lang trở thành quận Kiền Vi của nhà Hán.

Sau hơn một thập kỷ trị vì, Triệu Mạt đổ bệnh và qua đời khoảng năm 125 TCN.

Thời Triệu Anh Tề[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nghe tin cha đổ bệnh nặng, Triệu Anh Tề nhận được sự chấp thuận từ Hán Vũ Đế quay trở về Nam Việt. Sau khi Triệu Văn Đế băng hà, Triệu Anh Tề lên ngôi vua Nam Việt, tức là Triệu Minh Vương. Trước khi được phái đến Trường An, Triệu Anh Tề đã kết hôn với một phụ nữ trẻ người Việt và có một con trai là Triệu Kiến Đức.

Trong khoảng thời gian Triệu Anh Tề sống ở Trường An, ông cũng cưới một phụ nữ người Hán đến từ Hàm Đan (có lẽ vì quê hương của Triệu Đà cũng ở vùng đó). Họ đã có một con trai tên là Triệu Hưng. Vì kiêu ngạo với ngôi vị vua Nam Việt, ông đã xin Hán Vũ Đế lập người vợ Hán thành Vương hậu và Triệu Hưng thành Thế tử, việc làm này cuối cùng đã mang đến thảm họa chống lại Nam Việt. Triệu Minh Vương có tiếng là một bạo chúa vì đã giết nhiều thường dân một cách tự do. Minh Vương chết khoảng năm 113 TCN.

Thời Triệu Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Hưng lên ngôi khi mới 5 tuổi, mẹ là Cù thái hậu tham chính. Hán Vũ Đế sai sứ giả An Quốc Thiếu Quý, vốn là tình nhân cũ của Cù thái hậu, sang thuyết phục Nam Việt nội phụ nhà Hán. Cù thái hậu lại cùng Thiếu Quý tư thông và muốn thuận theo nhà Hán, nhưng Thừa tướng người ViệtLữ Gia phản đối. Năm 112 TCN, Lữ Gia mang quân đánh vào trong cung, giết chết Cù thái hậuTriệu Hưng cùng An Quốc Thiếu Quý, lập anh Triệu Hưng là Triệu Kiến Đức lên ngôi, tức là Triệu Thuật Dương Vương.

Kết thúc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh. Vua Triệu là Thuật Dương Vương Kiến Đức và Thừa tướng Lữ Gia lần lượt đều bị bắt và bị hại (111 TCN). Dựa trên hệ thống các đền, miếu, đình, chùa thờ Lữ Gia, phu nhân và các tướng lĩnh của ông rải rác trên khắp vùng đồng bằng sông Hồngmiền Bắc Việt Nam, rất có thể cuộc kháng chiến chống nhà Tây Hán còn kéo dài đến năm 98 TCN.[8][9]

Sau khi Phiên Ngung thất thủ, Tây Vu Vương (thủ lĩnh đất tự trị Tây Vu với trung tâm là Cổ Loa[10][11]) đã nổi dậy chống lại nguy cơ Bắc thuộc lần 1 trước sự xâm lăng của nhà Tây Hán.[12] Tả tướng Hoàng Đồng (黄同) của hai quận Giao ChỉCửu Chân đã giết chết Tây Vu Vương đang làm loạn để hàng Hán.[13]

Thương Ngô vương Triệu Quang cùng họ hàng với vua nhà Triệu, nghe tin quân Hán đến, xin hàng, được phong làm Tuỳ Đào hầu[14]; Huyện lệnh huyện Yết Dương là Sử Ðịnh (史定) hàng Hán được phong làm An Đạo hầu[15]; tướng nhà Triệu là Tất Thủ (畢取) mang quân ra hàng được phong làm Liêu hầu [16]; quan Giám quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁) dụ 40 vạn dân 2 quận Giao ChỉCửu Chân ra hàng được phong làm Tương Thành hầu[17]. Vậy là các xứ ở Nam Việt đều xin hàng.

Nhà Triệu diệt vong, nước Nam Việt cùng mất sau 97 năm tồn tại, với 5 đời vua.

Sau khi chiếm được Nam Việt, Hán Vũ Đế gộp lãnh thổ với đảo Hải Nam và vùng đất phía Nam dãy Hoành Sơn, lập ra bộ Giao Chỉ. Sau đó nhà Hán chia tách, phân chia lại đất đai của Nam Việt cũ thành 6 quận (cả bộ Giao Chỉ mới gồm 9 quận).

Hơn 650 năm sau, Lý Bí đánh đuổi quân Lương lập ra nước Vạn Xuân năm 544, cũng xưng là Nam Việt Đế mà sử quen gọi là Lý Nam Đế[18].

Hơn 10 thế kỷ sau, tướng nhà ĐườngLưu Nghiễm cũng nhân lúc Trung Nguyên loạn lạc, chiếm cứ vùng Lưỡng Quảng lập ra nước Đại Việt năm 917, rồi sang năm 918 đổi tên thành Nam Hán; Phiên Ngung cũng được họ Lưu chọn làm kinh đô. Phần đất Âu Lạc cũ khi đó do họ Khúc người Việt cai trị, Nam Hán chỉ chiếm được trong thời gian ngắn.

Năm 1804 (1915 năm sau khi Nam Việt mất), sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long sai sứ sang thỉnh cầu nhà Thanh thừa nhận quốc hiệu mới là Nam Việt, nhưng vua Gia Khánh cho rằng nước Nam Việt cũ của nhà Triệu bao gồm cả Lưỡng Quảng của Trung Quốc nên đảo 2 chữ thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn[19].

Dân tộc và ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Người Nam Việt
Thanh kiếm bằng đồng có niên đại cuối thời Chiến Quốc - đầu thời kỳ dựng nước Nam Việt được khai quật tại một ngôi mộ ở Quảng Tây, Trung Quốc

Đa số cư dân của Nam Việt là người Bách Việt cùng khoảng 100.000 người Hán di cư xuống phía nam, nhóm người Hán này nắm giữ hầu hết các chức vụ quyền lực trong bộ máy chính quyền Nam Việt. Họ bao gồm con cháu của binh lính Tần được gửi xuống chinh phục phía nam với những cô gái trẻ làm phục vụ tình dục trong quân đội, các quan lại và tội phạm nhà Tần bị lưu đày, và cả các thương gia.

Cư dân Nam Việt sinh sống chủ yếu ở phía bắc, phía đông và trung tâm Quảng Đông, một nhóm nhỏ sinh sống ở phía đông Quảng Tây.

Người Âu Việt sinh sống tại khu vực phía tây Quảng Đông, họ tập trung chủ yếu dọc lưu vực các con sông như Tầm Giang, Tây Giang và khu vực phía nam sông Quế Giang. Những con cháu của Dịch Hu Tống, thủ lĩnh Âu Việt bị quân Tần giết vẫn nắm giữ vai trò là thủ lĩnh của các thị tộc Âu Việt. Đến khi Nam Việt bị Hán diệt, khu vực quận Quế Lâm đã có khoảng vài trăm ngàn người Âu Việt sinh sống.

Trống đồng lấy từ mộ số 1 La Bạc Loan, Quảng Tây. Đây là trống đồng thời nhà Triệu nước Nam Việt. Trống đồng là biểu trưng quyền lực quốc gia của các tộc Bách Việt.

Các thị tộc Lạc Việt sinh sống ở khu vực ngày nay là nam Quảng Tây và bắc Việt Nam, bán đảo Lôi Châu (Quảng Đông) và vùng tây nam Quý Châu. Họ tập trung tại các lưu vực Tả Giang và Hữu Giang Quảng Tây, đồng bằng sông Hồng ở bắc Việt Nam, và lưu vực sông Bàn ở Quý Châu.

Peter Bellwood đề xuất rằng dân tộc Việt Nam là hậu duệ của người Việt cổ sinh sống tại phía bắc Việt Nam và phía tây Quảng Đông.[20]

Nam Việt vẫn thực hiện phần lớn các chính sách từ thời Tần đối với sự tiếp xúc của người bản xứ với người Hán di cư. Triệu Đà chủ chương đẩy mạnh chính sách giao hòa hai nền văn hóa với nhau. Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà chỉ dùng 2 quan Sứ cai quản 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, và cho duy trì chế độ Lạc tướng cha truyền con nối, tổ chức vùng (bộ hay bộ lạc) của người bản địa vẫn chưa bị xóa bỏ[21]. Ở quận Quế Lâm, nhà Triệu đặt một viên quan Giám để trông coi. Sử cũ ghi nhận vị quan Giám cuối cùng của quận Quế Lâm là Cư Ông.[22][23] Tuy nhiên, người Hán nắm giữ hầu hết các chức vụ trong chính quyền, sự áp đảo này diễn ra ngay sau khi quân Tần chinh phục phía nam. Trải qua thời gian, người Việt bắt đầu tham gia nhiều hơn vào chính quyền. Lữ Gia thừa tướng cuối cùng của Nam Việt là một người bản địa, và hơn 70 họ hàng thân thích của ông ta đã làm quan với các cấp bậc khác nhau trong chính quyền của Nam Việt. Tại những khu vực dân cư mà triều đình gọi là "phức tạp", các thủ lĩnh người bản địa thường được trao cho quyền tự trị lớn. Dưới quyền cai trị của mình, Triệu Đà đã thúc đẩy người Hán di cư vào biên giới Nam Việt. Hôn nhân giữa người Hán và người bản địa ngày càng trở nên phổ biến trong suốt thời gian tồn tại của Nam Việt, thậm chí xảy ra trong hoàng tộc họ Triệu. Nhiều cuộc hôn nhân giữa hoàng tộc họ Triệu và gia đình của Lữ Gia đã được sử sách ghi chép. Triệu Kiến Đức vị vua cuối cùng của Nam Việt là con trai của vị vua trước Triệu Minh Vương với vợ người bản địa.

Tiếng Hoa cổ là ngôn ngữ chính thống trong triều đình Nam Việt, đa số dân chúng nói tiếng bản địa - thứ ngôn ngữ ngày nay không còn và được xem là nguồn gốc của tiếng Choangtiếng Thái hiện nay. Tổ chức triều đình Nam Việt còn mang nặng màu sắc thủ lĩnh bộ lạc bản địa[24]. Sự hòa trộn của họ Triệu với những người Bách Việt được xem là nhân tố tạo nên tộc Triệu lớn mạnh còn phổ biến trong số người Choang, người Tày, người NùngQuảng Tây - Trung Quốc và các tỉnh biên giới Việt Nam như Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn... Có ý kiến nhìn nhận những thủ lĩnh người Việt chống Bắc thuộc sau này như Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh hay Triệu Quang Phục là hậu duệ của nhà Triệu nước Nam Việt[25].

Do hầu như không còn bằng chứng về chữ viết thời kỳ này của người Lĩnh Nam bản địa, cuộc chinh phục của người Hoa được xem là tác nhân truyền bá chữ viết Hán tới khu vực này. Nhiều di tích hiện vật trong lăng mộ Triệu Văn Đế tại Quảng Châu có sự hiện diện của chữ viết. Tuy nhiên, văn tự Hán ở Nam Việt vẫn kém phát triển, qua kết quả khảo cổ cho thấy những minh văn chữ Hán được khắc rất xấu và mắc nhiều lỗi chính tả trên đồ ngự dụng cho vua và các phu nhân[24].

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tiền Hán thư (quyển 65), Địa lý chí của Ban Cố thì số dân giai đoạn cuối của nước Nam Việt (tương ứng với lãnh thổ 6 quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân thời Hán thuộc) như sau:

  • Quận Nam Hải có 6 huyện, 19.613 hộ, 94.253 người.
  • Quận Uất Lâm có 12 huyện, 12.415 hộ, 71.162 người.
  • Quận Thương Ngô có 10 huyện, 24.379 hộ, 146.160 người.
  • Quận Hợp Phố có 5 huyện, 15.398 hộ, 78.980 người.
  • Quận Giao Chỉ có 10 huyện, 92.379 hộ, 746.237 người.
  • Quận Cửu Chân có 7 huyện, 35.743 hộ, 166.013 người.

Nền kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thuổng bằng sắt (No.M1:283)

Vào giai đoạn Chiến Quốc, vùng Lĩnh Nam là vùng sản xuất lúa gạo, tuy nhiên nông cụ sản xuất nông nghiệp hầu hết là đá hoặc bằng đồng, trong khi vùng đồng bằng phía Bắc đã sử dụng phổ biến các nông cụ bằng sắt. Trong cuộc xâm lược của nhà Tần vào vùng Lĩnh Nam, cùng với dân di cư ở các vùng đồng bằng đã mang theo các công cụ bằng sắt, và nhiều kĩ thuật mới về sản xuất nông nghiệp đã đem lại sự cải thiện về trình độ sản xuất nông nghiệp cho vùng Lĩnh Nam.

Di chỉ khảo cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng mộ Triệu Văn Đế nhìn từ trên xuống

Di tích cung vua nhà Triệu nằm tại thành phố Quảng Châu trên diện tích 15.000 mét vuông. Được khai quật năm 1995, di tích này còn chứng tích của cung điện nước Nam Việt cổ. Năm 1996, nơi đây được Chính phủ Trung Quốc liệt vào danh sách các Di tích văn hóa quốc gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Năm 1983, lăng mộ Triệu Văn Đế được khai quật ở Quảng Châu thuộc Quảng Đông[26]. Năm 1988, Bảo tàng Lăng mộ vua Triệu được xây dựng tại khu đất này, nhằm trưng bày hơn 1000 hiện vật, trong đó có 500 hiện vật bằng đồng, 240 hiện vật bằng ngọc và 246 hiện vật bằng sắt. Năm 1996, chính phủ Trung Quốc đưa công trình này vào danh sách Khu Di sản quốc gia được bảo vệ.

Một chiếc ấn khối vuông bằng đồng khắc chữ "Tư (Việt) Phố hầu ấn" (Ấn dành cho thủ lĩnh huyện Tư Phố) được phát hiện ở Thanh Hoá thuộc miền bắc Việt Nam trong thập niên 1930. Ấn có đúc hình rùa trên lưng và được cho là của viên điển sứ tước Hầu ở Cửu Chân. Tư Phố là tên trị sở quận Cửu Chân thời nhà Triệu nước Nam Việt đóng ở khu vực làng Ràng (xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa) hiện nay. Do sự tương đồng với những chiếc ấn được tìm thấy ở lăng mộ Triệu Văn Đế, chiếc ấn đồng này được công nhận là ấn chính thức của nước Nam Việt. Chiếc ấn hiện trưng bày ở Bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử Hoàng gia Bỉ, Brussel.[27]

Có nhiều đồ tạo tác được phát hiện tại khu vực thuộc về văn hoá Đông Sơnmiền bắc Việt Nam. Các hiện vật được chôn cất cùng thời với lăng mộ Triệu Văn Đế.

Ngoài lăng mộ vua Triệu, các nhà khảo cổ còn khai quật được mộ một viên quan thuộc hàng Huyện lệnh ở La Bạc Loan, huyện Quý (nay là thành phố Quý Cảng), tỉnh Quảng Tây và nhiều mộ chí ở Quảng Châu, Hợp Phố được xếp vào niên đại đầu thời Tây Hán (ngang với thời gian tồn tại của Nam Việt). Ban đầu, các nhà khảo cổ Trung Quốc xếp chung các mộ này vào văn hóa Tây Hán, nhưng sau đó càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc và quốc tế nhận thấy sự khác biệt giữa các di tích này với văn hóa Tây Hán. Do đó, họ dùng thuật ngữ văn hóa Nam Việt hay văn hóa Giao Chỉ để phân biệt văn hóa vùng này với văn hóa Tây Hán, tương tự như những nền văn hóa các vùng Ba, Thục, Điền ở Tứ Xuyên, Vân Nam cũng khác văn hóa Trung Nguyên của Tây Hán đương thời[26]. Nền tảng của văn hóa Nam Việt là văn hóa đồng thau Bách Việt nói chung, trong đó yếu tố Đông Sơn khá đậm nét[26]

Các vua Nam Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Triệu tồn tại từ năm 203 đến năm 111 trước Công nguyên thì bị nhà Hán thôn tính, trải qua 5 đời vua. Các sử gia Trung Quốc, vì coi Nam Việt là nước chư hầu, đều chép các vua Nam Việt tước "vương", các sử gia Việt Nam soạn Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục... cũng theo sử sách Trung Quốc mà biên chép các vua Triệu tước "vương", trừ Triệu Đà được chép là Vũ Đế. Tuy nhiên, qua kết quả khai quật lăng mộ vua Triệu thứ hai (vẫn được sử Việt Nam quen gọi là Triệu Văn Vương) cho thấy các ấn chương, văn bản và danh xưng đều là "đế" chứ không phải "vương". Điều đó gây bất ngờ với chính các sử gia Trung Quốc hiện đại[7]. Giới sử học thống nhất rằng: tước "vương" của các vua Nam Việt chỉ là xưng hiệu trong quan hệ ngoại giao với nhà Hán (giống các triều đại phong kiến Việt Nam trong quan hệ với các triều đại Trung Quốc sau này), còn trong nội bộ nước Nam Việt, các vua Triệu đều xưng đế[7].

Các vua Triệu xưng đế, những người hoàng tộc họ Triệu được phong "vương" và các thủ lĩnh người Việt ở đất Cổ Loa cũ (tự quản) cũng có tước "vương" như Tây Vu Vương[28]. Sử sách còn ghi lại khi Nam Việt bị diệt, hoàng thân là "Thương Ngô vương Triệu Quang cùng huyện lệnh Yết Dương tên là Định đầu hàng"[28].

Các vua Triệu gồm có:

  1. Triệu Vũ Đế hay Triệu Vũ Vương (Triệu Đà, 203-137 trước Công nguyên).
  2. Triệu Văn Đế hay Triệu Văn Vương (Triệu Mạt hay Triệu Hồ, 137-125 trước Công nguyên).
  3. Triệu Minh Đế hay Triệu Minh Vương (Triệu Anh Tề, 125-113 trước Công nguyên).
  4. Triệu Ai Đế hay Triệu Ai Vương (Triệu Hưng, 113-112 trước Công nguyên).
  5. Triệu Dương Đế hay Triệu Dương Vương (Triệu Kiến Đức, 112-111 trước Công nguyên).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sima Qian - Records of the Grand Historian, section 113 《史記·南越列傳》
  2. ^ a ă Lưu An, Hoài Nam tử: quyển 18 - Nhân gian huấn, nguyên tác: 又利越之犀角、象齒、翡翠、珠璣,乃使尉屠睢發卒五十萬,為五軍,一軍塞鐔城之嶺,一軍守九疑之塞,一軍處番禺之都,一軍守南野之界,一軍結餘干之水,三年不解甲弛弩,使監祿無以轉餉,又以卒鑿渠而通糧道,以與越人戰,殺西嘔君譯吁宋。而越人皆入叢薄中,與禽獸處,莫肯為秦虜。相置桀駿以為將,而夜攻秦人,大破之,殺尉屠睢,伏尸流血數十萬。乃發適戍以備之。, Hán-Việt: Hựu lợi Việt chi tê giác, tượng xỉ, phỉ thúy, châu ki, nãi sử úy Đồ Tuy phát tốt 50 vạn, vi 5 quân, nhất quân tái Đàm Thành chi lĩnh, nhất quân thủ Cửu Nghi chi tái, nhất quân xử Phiên Ngu chi đô, nhất quân thủ Nam Dã chi giới, nhất quân kết Dư Can chi thủy, tam niên bất giải giáp thỉ nỗ, sử giám Lộc vô dĩ chuyển hướng, hựu dĩ tốt tạc cừ nhi thông lương đạo, dĩ dữ Việt nhân chiến, sát Tây ẩu quân Dịch Hu Tống. Nhi Việt nhân giai nhập tùng bạc trung, dữ cầm thú xử, mạc khẳng vi Tần lỗ. Tướng trí Kiệt Tuấn dĩ vi tướng, nhi dạ công Tần nhân, đại phá chi, sát úy Đồ Tuy, phục thi lưu huyết sổ thập vạn. Nãi phát thích thú dĩ bị chi.
  3. ^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 144
  4. ^ Sử ký Tư Mã Thiên, Quyển 113, mục Nam Việt liệt truyện, chép: "佗因此以兵威邊,財物賂遺閩越、西甌駱,役屬焉,東西萬餘里。" (Đà nhân thử dĩ binh uy biên, tài vật lộ di Mân Việt, Tây Âu Lạc, dịch thuộc yên, đông tây vạn dư lý)
  5. ^ Sử ký Tư Mã Thiên, Quyển 113, mục Nam Việt liệt truyện, chép: "且南方卑溼,蠻夷中閒,其東閩越千人眾號稱王,其西甌駱裸國亦稱王。" (Thả nam phương ti thấp, Man Di trung gian, kì đông Mân Việt thiên nhân chúng hiệu xưng Vương, kì tây Âu Lạc khỏa quốc diệc xưng Vương)
  6. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 427
  7. ^ a ă â Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 639
  8. ^ “Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu (16-17 tháng Giêng hằng năm) Phần I (tiep theo)”. 3 tháng 2 năm 2010. “Theo nhiều thư tịch cổ và các công trình nghiên cứu, sưu tầm của nhiều nhà khoa học nổi tiếng trong nước, cùng với sự truyền lại của nhân dân từ đời này sang đời khác, của các cụ cao tuổi ở Bạch Lưu, Hải Lựu và các xã lân cận thì vào cuối thế kỷ thứ II trước công nguyên, nhà Hán tấn công nước Nam Việt của Triệu Đề, triều đình nhà Triệu tan rã lúc bấy giờ thừa tướng Lữ Gia, một tướng tài của triều đình đã rút khỏi kinh đô Phiên Ngung (thuộc Quảng Đông – Trung Quốc ngày nay). Về đóng ở núi Long Động - Lập Thạch, chống lại quân Hán do Lộ Bác Đức chỉ huy hơn 10 năm (từ 111- 98 TCN), suốt thời gian đó Ông cùng các thổ hào và nhân dân đánh theo quân nhà Hán thất điên bát đảo."” 
  9. ^ “Các đền thờ, chùa chiền, đình làng, đạo quán... liên quan đến nhà Triệu và nước Nam Việt ở Việt Nam và Trung Quốc ngày nay”. 28 tháng 1 năm 2014. 
  10. ^ Viet Nam Social Sciences vol.1-6, tr.91, 2003 "In 111 B.C. there prevailed a historical personage of the name of Tay Vu Vuong who took advantage of troubles circumstances in the early period of Chinese domination to raise his power, and finally was killed by his general assistant, Hoang Dong. Professor Tran Quoc Vuong saw in him the Tay Vu chief having in hands tens of thousands of households, governing thousands miles of land and establishing his center in Co Loa area (59.239). Tay Vu and Tay Au is in fact the same.
  11. ^ Bruce M. Lockhart, William J. Duiker The A to Z of Vietnam 2010, tr.357 "Tây Vu, Administrative and territorial term for an ancient district in Vietnam. Located in the lower Red River Delta around the city of Co Loa, not far from present-day Hanoi, Tây Vu became an administrative district during the Au Lac and Nam...
  12. ^ Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, 2004, tr.564 "KHỞI NGHĨA TÂY VU VƯƠNG (lll TCN), khởi nghĩa của người Việt ở Giao Chỉ chống ách đô hộ của nhà Triệu (TQ). Khoảng cuối lll TCN, nhân lúc nhà Triệu suy yếu, bị nhà Tây Hán (TQ) thôn tính, một thủ lĩnh người Việt (gọi là Tây Vu Vương, "
  13. ^ Hán thư, Quyển 95, mục Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chép: "故甌駱將左黃同斬西于王,封爲下鄜侯" (Cổ Âu Lạc tướng tả Hoàng Đồng trảm Tây Vu Vương, phong vi Hạ Phu hầu)
  14. ^ huyện Tùy Đào thuộc quận Nam Dương nhà Hán
  15. ^ huyện An Đạo thuộc quận Nam Dương nhà Hán
  16. ^ huyện Liêu thuộc quận Nam Dương nhà Hán
  17. ^ huyện Tương Thành thuộc Đổ Dương nhà Hán
  18. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, ngoại kỷ quyển 4
  19. ^ Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, tr 462
  20. ^ Peter Bellwood. “Indo-Pacific prehistory: the Chiang Mai papers. Volume 2.”. Indo-Pacific Prehistory Association of Australian National University. tr. 96. 
  21. ^ Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, sách đã dẫn, tr 153
  22. ^ Sử ký Tư Mã Thiên, Quyển 113, mục Nam Việt liệt truyện, chép: "蒼梧王趙光者,越王同姓,聞漢兵至,及越揭陽令定自定屬漢;越桂林監居翁諭甌駱屬漢:皆得為侯。" (Thương Ngô vương Triệu Quang giả, Việt Vương đồng tính, vấn Hán binh chí, cập Việt Yết Dương lệnh Định Tự Định thuộc Hán; Việt Quế Lâm giám Cư Ông dụ Âu Lạc thuộc Hán: giai đắc vi hầu)
  23. ^ Hán thư, Quyển 95, mục Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chép: "粵桂林監居翁諭告甌駱四十余萬口降,爲湘城侯。" (Việt Quế Lâm giám Cư Ông dụ cáo Âu Lạc tứ thập dư vạn khẩu hàng vi Tương Thành hầu)
  24. ^ a ă Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 641
  25. ^ Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 642
  26. ^ a ă â Nguyễn Việt, sách đã dẫn, tr 647
  27. ^ “Thạp đồng Đông Sơn của Huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà”. 11 tháng 3 năm 2011. ‘Chiếc ấn đồng khối vuông “Tư (Việt) phố hầu ấn” có đúc hình rùa trên lưng được thương nhân cũng là nhà sưu tầm người Bỉ tên là Clement Huet mua được ở Thanh Hóa hồi trước thế chiến II (hiện bày ở Bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử Hoàng Gia Bỉ, Brussel) được cho là của viên điển sứ tước hầu ở Cửu Chân. Tư Phố là tên quận trị đóng ở khu vực làng Ràng (Thiệu Dương, Thanh Hóa) hiện nay.’ 
  28. ^ a ă Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 457

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]