Chư hầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chư hầu là một từ xuất phát từ chữ Hán (諸侯), trong nghĩa hẹp của chữ Hán dùng từ thời Tam Đại ở Trung Quốc (gồm nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu) để chỉ trạng thái các vua chúa của các tiểu quốc bị phụ thuộc, phải phục tùng một vua chúa lớn mạnh hơn làm thiên tử thống trị tối cao. Các nước nhỏ có sự thừa nhận chính thức vị thế chư hầu trước một nước lớn và được gọi là "nước chư hầu".

Tại châu Âu trong chế độ phong kiến thời trung cổ mối quan hệ chư hầu (vassal) tồn tại ở dạng các lãnh chúa địa phương tuyên thệ trung thành với vua.[1]

Sau này, chư hầu được sử dụng theo nghĩa bóng, dùng để chỉ tình trạng nước nhỏ phụ thuộc lộ liễu vào nước lớn nào đó, với mức độ phụ thuộc khác nhau, mà không có các danh xưng "chư hầu" và "minh chủ" nữa. Vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản ra đời và xâm chiếm thuộc địa thì quan hệ lệ thuộc được xác định ở các mức "thuộc địa" (phụ thuộc hoàn toàn) hay "bảo hộ" (có chính quyền địa phương tồn tại nhưng không độc lập). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi hệ thống thuộc địa tan vỡ thì xuất hiện dạng thay thế là các hiệp ước liên minh tay đôi hoặc đa quốc gia như các "khối quân sự" NATO, SEATO, CENTO, khối Warszawa,... Đó là một hiện tượng của lịch sử, các nước nhỏ gom quanh ô che của nước lớn thành nhóm để tồn tại trong thế giới có nhiều xung đột.

Trong lịch sử Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời kỳ đầu của xã hội phong kiến, quyền lực vốn nằm trong tay thủ lĩnh bộ lạc chuyển đổi thành lãnh chúa cát cứ trong lãnh thổ của họ. Các xung đột xảy ra thì bên cạnh dạng cá lớn nuốt trọn cá bé, cũng nổi lên dạng lãnh chúa mạnh và khôn ngoan, thiết lập quyền kiểm soát các lãnh thổ khác ở mức xác định.

Tại Trung Quốc nó dẫn đến mô hình thiên tử - chư hầu ở thời nhà Hạ (Tk 21- Tk 16 TCN) và nhà Thương (Tk 16 - Tk 11 TCN). Mối quan hệ thiên tử - chư hầu lúc đầu còn ở dạng sơ khai, chưa có một lý thuyết nền tảng về xã hội. Quan hệ giữa các thành phần biến động theo khả năng duy trì thực lực của các thành phần đó, và nói chung là còn lỏng lẻo, các chư hầu thì vẫn chia phái hoặc liên minh hoặc đánh chiếm lẫn nhau. Các di chỉ khảo cổ thời nhà Thương cho thấy các thuộc quốc của triều đại này gọi là "Phương quốc", giữa vua nhà Thương với các thủ lĩnh bộ tộc đó không có quan hệ vua tôi mà chỉ là liên minh quân sự. Vua nhà Hạ, nhà Thương chỉ đóng vai trò đứng đầu liên hợp các phương quốc, được các nước đó gọi là "đại quốc", "đại ấp" và các nước này xưng "tiểu quốc", "tiểu ấp"[2].

Sang thời nhà Chu (Tk 11 - Tk 3 TCN), đại đa số các chư hầu đều là người thân thích hoặc công thần nhà Chu, chịu sự ràng buộc khá chặt chẽ, có quan hệ vua tôi với thiên tử nhà Chu[2]. Chư hầu có nghĩa vụ với thiên tử nhà Chu như: triều kiến định kỳ, cống nạp, điều quân theo sự huy động của vua Chu khi có chiến tranh hoặc làm lễ lớn để trợ tế...[3][4].

Sang thời Đông Chu (Tk 8 - Tk 3 TCN), thiên tử suy yếu, các chư hầu nổi lên lấn át quyền hành. Những chư hầu mạnh thay nhau lãnh đạo, chi phối chư hầu khác, không thần phục thiên tử. Cuối cùng, chư hầu mạnh nhất là nước Tần tiêu diệt các chư hầu khác vào năm 221 TCN, thành lập nhà Tần.

Nhà Tần xây dựng được nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh đầu tiên ở Trung Quốc, và cùng với các học thuyết về xã hội phong kiến và chiến tranh ra đời vào thời Xuân Thu Chiến Quốc[a], chấm dứt thời hỗn mang của các tiểu quốc.

Theo ý kiến của Lý Tư, để tránh việc các chư hầu liệt quốc đánh nhau sau nhiều đời không còn thân thiết với quan hệ huyết thống, Tần Thủy Hoàng lập ra chế độ quận huyện, không phong cho thân thích và công thần.

Sang thời Hán, thiên tử duy trì giải pháp hỗn hợp giữa nhà Chunhà Tần: vừa thiết lập các quận huyện, cử các quan lại đến cai trị, vừa phong đất cho thân thích, công thần. Sau khi dẹp những cuộc binh biến của các chư hầu đầu thời Hán, nhà Hán chia nhỏ lãnh thổ các nước được phong. Từ gần 10 nước thời Hán Cao Tổ thành 25 nước thời Hán Cảnh Đế. Đến thời Hán Vũ Đế còn tiếp tục theo đuổi chính sách này, loại bỏ hoàn toàn việc cắt đất phong hầu khiến cho chế độ quân chủ trung ương tập quyền ngày càng được củng cố[5]. Vì vậy trong các châu (đơn vị hành chính lớn nhất) vừa có "quận" vừa có "nước".

Khái niệm chư hầu từ lúc đó không chỉ giới hạn với những người "hoàng thân quốc thích" được phong tại các "nước" mà còn bao gồm các quan lại địa phương có thực lực mạnh và nổi lên thành những quân phiệt tranh chấp trong thời loạn.

Khi kiến lập nhà Tấn, Tấn Vũ Đế cho rằng do nhà Tào Ngụy bớt quá nhiều quyền lực của các hoàng tử được phong đất dẫn đến thiên tử bị cô lập không có người cứu trợ đến nỗi mất ngôi, nên tăng cường quyền lực cho chư hầu. Tuy vẫn duy trì chế độ xen lẫn quận huyện như nhà Hán, vua Tấn phong 27 người thân thích làm "vương", cho họ tùy theo quy mô lớn nhỏ mà lập ra quân đội từ vài ngàn đến vài vạn người. Vì vậy chỉ ngay sau khi Vũ Đế mất, các chư hầu lại nổi lên đánh nhau tranh giành quyền lực, gọi là loạn bát vương. Hậu quả của loạn bát vương khiến nhà Tấn suy yếu trầm trọng, tạo cơ hội cho các tộc người Hồ phương bắc tràn vào trung nguyên khiến nhà Tấn phải rút về phía nam.

Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong ngữ cảnh hiện đại thì từ này dùng để ám chỉ nước phụ thuộc chịu sự chi phối của một nước lớn, trong quan hệ với nước lớn ấy, ví dụ: Đế quốc Mỹ và chư hầu, Liên bang Xô viết và các nước chư hầu Đông Âu.

Nghi vấn lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ nhà Hạ (Tk 21- Tk 16 TCN) và nhà Thương (Tk 16 - Tk 11 TCN) là thời kỳ huyền sử, chưa có chữ viết và không có ghi chép hệ thống nào. Đời sau lúc có chữ viết (sớm nhất là Tk 11 TCN), thì các sử gia cổ dựa trên truyền khẩu chép lại, gán cho đầy đủ tên họ thụy hiệu và thời gian, nhằm minh họa cho nguồn gốc lâu đời của dân tộc mình. Các sử gia hiện đại ở TQ thì thiên về bảo vệ tính tự tôn của dân tộc, không có ý định đưa ra những gì trái với lịch sử đã chép.

Vì thế tính chính xác các sự kiện không được kiểm chứng.

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nổi bật nhất là luận thuyết của Khổng TửTôn Vũ, những lý luận chủ đạo cho xã hội phong kiến Trung Hoa bước vào giai đoạn mới.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ F. L. Ganshof, "Benefice and Vassalage in the Age of Charlemagne" Cambridge Historical Journal 6.2 (1939:147-75).
  2. ^ a ă Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 19
  3. ^ Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh, sách đã dẫn, tr 28
  4. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 21
  5. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 431, 434

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên:
    • Chu bản kỷ
    • Ân bản kỷ
  • Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh (1998), Một trăm sự kiện của Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
  • Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, Nhà xuất bản Thanh Hoá

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]