Trung Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

   Trung Đông theo cách hiểu truyền thống

   Trung Đông Mở rộng theo định nghĩa của G8

   Các khu vực đôi khi được gộp vào Trung Đông (về mặt chính trị-xã hội)

Trung Đông là một phân miền lịch sửvăn hoá của vùng Phi-Âu-Á về mặt truyền thống là thuộc các quốc gia vùng Tây Nam ÁAi Cập. Trong những phạm vi khác, vùng này có thể gộp vào vùng Bắc Phi và/hay Trung Á. PakistanKavkaz nói chung không thuộc vùng này.

Những đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Ở thế giới phương tây, Trung Đông thường được coi là một vùng cộng đồng đa số Hồi giáo Ả Rập. Tuy nhiên, vùng này gồm nhiều nền văn hóa và các nhóm dân tộc riêng biệt, như Ả Rập, Assyria, Azerbaijan, Berber, Chaldean, Druze, Hy Lạp, Do Thái, Kurd, Maronites, Ba TưThổ. Các nhóm ngôn ngữ chính gồm: tiếng Ả Rập, tiếng Assyri (cũng được gọi là Aramaic và tiếng Siriac), tiếng Hebrew, tiếng Ba Tư, tiếng Kurdtiếng Thổ Nhĩ Kỳ.

Đa số các định nghĩa của phương tây về "Trung Đông" — cả trong những cuốn sách tham khảo và trong sử dụng thông thường - định nghĩa vùng này là "các quốc gia ở Tây Nam Á, từ Iran (Ba Tư) tới Ai Cập". Ai Cập, với Bán đảo Sinai của nó ở châu Á, thường được coi là một phần của Trung Đông, mặc dù đa phần diện tích nước này về mặt địa lý nằm ở Bắc Phi. Các quốc gia Bắc Phi không có quan hệ với châu Á, như Libya, TunisiaMaroc, ngày càng quen thuộc với cái tên người Bắc Phi - để đối lập với vùng Trung Đông (Iran tới Ai Cập-châu Á) - theo ngôn ngữ thường được dùng trên các phương tiện truyền thông.

Một cách định nghĩa được sử dụng rộng rãi khác về "Trung Đông" là của công nghiệp hàng không, được duy trì trong tổ chức tiêu chuẩn của Hiệp hội Vận chuyển Hàng không Quốc tế. Định nghĩa này - tới đầu năm 2006 - bao gồm Bahrain, Ai Cập, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Liban, Các vùng lãnh thổ Palestine, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Sudan, Syria, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhấtYemen [1]. Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong những cách tính vé và thuế hành khách và hàng hóa trên thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Trung Đông
Bản đồ với các nước được coi là thuộc Trung Đông

Trung Đông là nơi sinh ra và là trung tâm tôn giáo của đạo Do Thái, đạo Ki-tôđạo Hồi. Vùng này từng trải qua các giai đoạn bạo lực và khoan dung. Trong thế kỷ 20, nó từng nằm trong vùng trung tâm các sự kiện quốc tế, và về mặt chiến lược, kinh tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo nó là một vùng rất nhạy cảm. Nó có trữ lượng dầu thô rất lớn. Xem thêm Danh sách các cuộc xung đột ở Trung Đông.

Các biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

"Trung Đông" xác định một vùng văn hoá, vì thế nó không có các biên giới chính xác. Nó thường được tính gồm: Bahrain, Kypros (Síp), Ai Cập, Iran (Ba Tư), Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Liban, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Syria, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Yemen, Bờ TâyDải Gaza.

Iran thường được coi là biên giới phía đông của vùng, nhưng Afghanistan và tây Pakistan cũng thường được tính gộp vào đó vì mối quan hệ gần gũi (về mặt sắc tộc và tôn giáo) của nó với những nhóm sắc dân đa số của những dân tộc Iran cũng như những liên kết lịch sử của nó với vùng Trung Đông, nó từng là một phần của nhiều đế chế đã từng trải dài trong vùng như các đế chế Ba TưẢ Rập. Afghanistan, Tajikistan và tây Pakistan (Baluchistantỉnh Biên giới Tây Bắc) có những mối quan hệ chặt chẽ về văn hoá, ngôn ngữ và lịch sử với Iran và cũng là một phần của cao nguyên Iran, trong khi những mối quan hệ của Iran với các quốc gia Ả Rập dựa nhiều trên tôn giáo và sự gần gũi về địa lý hơn. Cũng như vậy, người Kurd, một nhóm sắc tộc bên trong các dân tộc Iran có chung nguồn gốc về ngôn ngữ, là nhóm thiểu số lớn nhất ở vùng Trung Đông không có quốc gia riêng.

Bắc Phi, hay Maghreb, mặc dù thường bị đặt bên ngoài vùng Trung Đông chính thức, nhưng có những mối liên kết về văn hoá và ngôn ngữ sâu sắc với vùng này, và trong lịch sử cũng đã từng tham dự nhiều sự kiện chính hình thành nên Địa Trung Hải và các vùng Trung Đông gồm cả những sự kiện do người Carthage lúc ấy là thuộc địa của Phoenicia và những nền văn minh Hy Lạp-La Mã cũng như quốc gia Hồi giáo của người Berber và các Đế quốc Ottoman gây nên. Maghrib thỉnh thoảng được gộp vào và thỉnh thoảng lại bị loại ra khỏi vùng Trung Đông trong cách định nghĩa vùng này của các phương tiện truyền thông đại chúng và trong sử dụng không chính thức, trong khi đa số các học giả tiếp tục coi Bắc Phi là một phần địa lý của châu Phi, nhưng có liên quan chặt chẽ với Tây Nam Á trong các thuật ngữ chính trị, văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử, và di truyền học. Điều này có thể so sánh với một số ví dụ tương tự, theo đó ví dụ như TasmaniaNewfoundland, về mặt địa lý không thuộc châu Âu nhưng có nhiều nét tương đồng với vùng tây bắc của Tây Âu trong khi Madagascar lại có nhiều đặc trưng tương tự Đông Nam Á hơn Đông Nam Phi.

Vùng Kavkaz, Kypros (Síp) và Thổ Nhĩ Kỳ, dù thường được gộp vào vùng Tây Nam Á dựa trên sự gần gũi về địa lý và tính liên tục, nói chung về mặt văn hoá và chính trị thường được coi là thuộc châu Âu vì lịch sử khác biệt của họ và những mối quan hệ chính trị gần đây với vùng đó. Ví dụ, Armenia và Kypros, dù cả hai nằm gần Trung Đông về mặt địa lý, nhưng chúng có hai đặc điểm khiến chúng trở nên gần gũi với châu Âu hơn Trung Đông: tính đồng nhất quốc gia của họ gồm một căn bản hệ ngôn ngữ Ấn-Âu và đa số dân cư theo đạo Thiên Chúa, cả hai đặc điểm đó không hề tương thích với đặc điểm đặc trưng nhất của các quốc gia vùng Trung Đông, một số quốc gia ở vùng này có một nét đặc trưng (ví dụ các ngôn ngữ hệ Ấn-Âu phổ biến ở Iran và Afghanistan) này hay khác (Liban là quốc gia duy nhất có thể có cộng đồng Thiên chúa giáo đa số nhưng vẫn chỉ mang tính suy đoán). Thổ Nhĩ Kỳ không có những đặc điểm châu Âu đó nhưng có những quan hệ lịch sử sâu sắc với châu Âu từ khi nó còn là một địa điểm thuộc Đế chế ByzantineĐế chế Ottoman, những đế chế có lãnh thổ trải dài sang tận châu Âu. Được coi là một ứng cử viên triển vọng vào Liên minh châu Âu và từ lâu đã là một thành viên của NATO, Thổ Nhĩ Kỳ đã chấp nhẫn những đặc trưng muôn thuở phổ biến ở châu Âu và đã không còn giữ nhiều mối quan hệ của nó với vùng Trung Đông ngoại trừ tôn giáo chính của họ là Đạo Hồi. Trong suốt lịch sử của mình, Gruzia luôn giữ khoảng cách với các quốc gia Hồi giáo xung quanh (và liên kết về phong cách sống), vì thế nó đã gia nhập vào vùng thuộc "Đạo Cơ đốc" và nói chung về mặt đồng nhất quốc gia, nó là một nước kiểu châu Âu. Từ đầu thế kỷ 19, tất cả ba nước vùng Nam Caucasian (gồm Azerbaijan, Armenia và Gruzia) bị ảnh hưởng rất lớn từ quyền lực thống trị của Đế chế NgaLiên bang Sô viết. Hiện nay các nước này mang nhiều đặc tính "châu Âu" hơn Trung Đông và thường được coi là một khối vùng trong vùng Cáp cát.

Các quốc gia Trung Á từ Khối Liên xô cũ cũng có nhiều quan hệ thân thuộc và chính trị ở các mức độ khác nhau với Trung Đông, nhưng không hề giống nhau hoàn toàn. Trong khi các quốc gia phía nam Turkmenistan, UzbekistanTajikistan có nhiều điểm tương đồng về văn hoá, lịch sử và chính trị-xã hội với Trung Đông. KazakhstanKyrgyzstan là những vùng ở xa hơn với những pha trộn nhiều hơn về văn hoá. Vì thế, các quốc gia này thường được coi là Âu-Á (theo những cách tương tự với vùng Cáp cát) và quá khứ Nga/Sô viết của chúng đã khiến chúng trở nên khác biệt ở nhiều mặt so với vùng Trung Đông, ví dụ hiện nay đang có một phong trảo tái lập các mối quan hệ với Trung Đông ở Tajikistan, dựa trên những tương đồng về sắc tộc-ngôn ngữ của họ với Iran và Afghanistan. Giống như vùng Cáp cát và Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Á có nhiều đặc điểm chung với "phương Tây" và chúng đều bắt nguồn từ thời gian nằm trong nước Nga Sô viết, mặc dù điều này có thể thay đổi với một số hành động gần đây nhằm phục hồi lịch sử-văn hoá của bản sắc Hồi giáo từng bị hạn chế trong những thập kỷ cầm quyền của chính quyền Sô viết.

Israel cũng là một nước duy nhất có sự hợp nhất giữa các đặc điểm châu Âu và Trung Đông, vì sự gần gũi về địa lý của họ với miền Cận Đông và đa phần dân cư là người có nguồn gốc Trung Đông (gồm người Do Thái Sephardic, Sabra, người Ả Rập Israel, vân vân), có lẽ nó có nhiều điểm tương đồng với các nước lân cận hơn là những gì đang hiện diện trên báo chí ngày nay.

Thay đổi về ý nghĩa theo thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Cho tới Thế chiến thứ hai, việc coi bờ biển phía đông vùng Địa Trung Hải là Cận Đông là rất thường tình. Sau này Trung Đông có nghĩa là vùng từ Lưỡng Hà tới Myanma, đó là vùng giữa Cận Đông và Viễn Đông. Nghĩa được miêu tả trong bài này được lấy ra từ trong cuộc chiến, có lẽ bị ảnh hưởng bởi ý tưởng trước đó rằng Địa Trung Hải là "biển ở giữa".

Chủ nghĩa trọng Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Một số người đã chỉ trích thuật ngữ Trung Đông vì nó hàm ý trọng Âu (Eurocentrism) [2], có lẽ bởi vì nó do người châu Âu đưa ra. Hiện nay thuật ngữ này được sử dụng bởi những người châu Âu và cả ngoài châu Âu, không giống như thuật ngữ tương đương Mashreq, chỉ được dùng duy nhất trong những bối cảnh ngôn ngữ Ả Rập. Vùng này chỉ là phía đông nếu ta đang đứng ở Tây Âu. Đối với một người Ấn Độ, nó nằm ở phía tây; đối với một người Nga, nó nằm ở phía Nam. Sự miêu tả "giữa" cũng dẫn tới một số nhầm lẫn cùng với sự thay đổi về các định nghĩa. Trước Thế chiến thứ nhất, "Cận Đông" được dùng trong tiếng Anh để chỉ vùng BalkansĐế chế Ottoman, trong khi "Trung Đông" để chỉ Ba Tư, AfghanistanTrung Á, Turkistan và vùng Cáp cát. Trái lại, "Viễn Đông" để chỉ các quốc gia Đông Á, ví dụ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, vân vân. Những người chỉ trích thường đòi sử dụng một thuật ngữ khác để thay thế, ví dụ như "Tây Á".

Với sự biến mất của Đế chế Ottoman năm 1918, "Cận Đông" đã hầu như bị loại bỏ ra khỏi tiếng Anh thông thường, trong khi "Trung Đông" lại thường được dùng để chỉ các quốc gia mới tái xuất hiện trong thế giới Hồi giáo. Tuy nhiên, việc sử dụng "Cận Đông" vẫn được giữ lại trong nhiều môn học hàn lâm, gồm cả khảo cổ họclịch sử cổ đại, nó được dùng để miêu tả một vùng tương tự với thuật ngữ "Trung Đông", vốn không được sử dụng ở đó (xem Cận Đông cổ đại). Vì thế trong những từ ngắn hơn, thuật ngữ "Trung Đông" cũng được sử dụng ở những vùng sử dụng tiếng Anh/Pháp trên thế giới. Tại Đức, thuật ngữ Naher Osten (Cận Đông) vẫn được sử dụng thường xuyên và trong tiếng Nga Ближний Восток (Cận Đông) vẫn là thuật ngữ duy nhất để chỉ vùng này.

Sự chỉ trích chủ nghĩa trọng Âu tất nhiên liên quan tới sự thực rằng 'Đông' và 'Tây' được xác định theo quan hệ với các đường kinh tuyến liên quan tới Kinh tuyến chính hay Kinh tuyết Greenwich và vì thế vốn đã theo kiểu châu Âu. Đây là hậu quả từ việc các tiêu chuẩn của khoa nghiên cứu bản đồ Anh được chấp nhận rộng rãi trên thế giới từ năm 1884 tại Hội nghị kinh tuyến quốc tế.

Những cách dịch gián tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Có những thuật ngữ tương tự với "Cận Đông" và "Trung Đông trong các ngôn ngữ "châu Âu khác, nhưng bởi vì nó là một sự miêu tả có liên quan, nên các nghĩa của nó phụ thuộc vào từng nước và nói chung khác biệt so với các thuật ngữ trong tiếng Anh. Xem fr:Proche-Orient, fr:Moyen-Orient, và de:Naher Osten, ru:Blizhniy Vostok, ru:Ближний Восток để biết về các ví dụ.

Các thuật ngữ tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Ở một số mặt, sự thiếu vắng những đường biên giới chính xác của khu vực Trung Đông cũng là lợi thế, bởi vì nó có thể được dùng để chỉ nhiều tiêu chuẩn văn hoáchính trị. Tính chất áng trong định nghĩa này dẫn tới sự phát sinh một số thuật ngữ trung tính thay thế khác, được sử dụng bởi các tổ chức quốc tế và các phong trào, như Tây Nam ÁTây Á, chúng đã trở thành những thuật ngữ thường được sử dụng ở Ấn Độ, bởi cả chính phủ và báo chí. Thế giới Ả Rập không phải là một thuật ngữ đồng nghĩa với Trung Đông, mặc dù nó cũng bao hàm hầu như toàn bộ vùng đó. Vùng châu Á của thế giới Ả Rập (gồm những đặc trưng thích hợp Ả Rập) được gọi là Mashreq. "Trung Đông-Bắc Phi" (MENA), thỉnh thoảng được dùng để bao hàm vùng từ Maroc đến Iran, vì thế thỉnh thoảng cũng được gọi là Đại Trung Đông; thỉnh thoảng thuật ngữ này được dùng để miêu tả toàn bộ vùng châu Phi từ Sahara đến Địa Trung Hải và vùng châu Á phía tây Trung Quốc và Ấn Độ và phía nam nước Nga. Nó được một số nhà sử học, những người nghiên cứu nhiều đế chế và nền văn minh (gồm cả những đế chế và nền văn minh Địa Trung Hải, Hy Lạp-La Mã và Ba Tư cũng như các vương quốc Hồi giáo rộng lớn và những vùng nơi những người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo trước kia từng ngự trị) sử dụng. Nó có thể bao gồm cả Bắc Phi và Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây tới Pakistan và Afghanistan ở phía đông. Thuật ngữ "Đại Trung Đông" vẫn còn được sử dụng bởi G8, Hoa Kỳ [3], và nhiều viện hàn lâm cũng như Viện Trung Đông [4].

Các cuộc xung đột[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay vùng này có đặc trưng bằng những căng thẳng chính trị mãnh liệt bên trong, vấn đề về quyền sở hữu các nguồn nước, cũng như một số vần đề khác có tầm quan trọng nhỏ hơn, như sự hiện diện của người Syria ở Liban (hiện nay, 4/2006, người Syria tuyên bố đã rút hết quân khỏi Liban), bất đồng về lãnh thổ giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ tại tỉnh Hatay, giữa Ai Cập và Sudan về Tam giác Hala'ib, giữa Ả Rập Saudi và Yemen về địa lý của Ả Rập Saudi, các quyền cá nhân của các dân tộc thiểu số ở IraqBahrain và an ninh của người theo Thiên chúa giáo tại Ai Cập.

Cũng có những căng thẳng đáng kể giữa khu vực Trung Đông và các vùng bên ngoài, đặc biệt là với phương Tây. Chúng bao gồm những vấn đề xuất hiện từ cuộc tấn công Iraq, phương Tây (đặc biệt là Hoa Kỳ) ủng hộ kinh tế Israel, chương trình vũ khí hạt nhân Iran và những luận điệu của chủ nghĩa khủng bố được quốc gia hậu thuẫn từ phía nhiều quốc gia Trung Đông.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Địa lý châu Á

Các vùng Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính: Các vùng Trung Đông

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong vùng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ansar Burney Trust - Tổ chức phi chính phủ hoạt động về các vấn đề quyền con người và buôn người ở Trung Đông

Bản mẫu:Vùng