Kuwait

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà nước Kuwait
دولة الكويت (tiếng Ả Rập)
Dawlat al Kuwayt (tiếng Ả Rập)
Flag of Kuwait.svg Coat of Arms of Kuwait-2.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Kuwait
Khẩu hiệu
For Kuwait
Quốc ca
Al-Nasheed Al-Watani
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Emir
Thái tử
Thủ tướng
Sabah Al-Ahmad Al-Jaber Al-Sabah
Nawaf Al-Ahmad Al-Jaber Al-Sabah
Nasser Al-Mohammed Al-Ahmed Al-Sabah
Ngôn ngữ chính thức tiếng Ả Rập, tiếng Anh
Thủ đô Thành Phố Kuwait
29°22′B, 47°58′Đ
Thành phố lớn nhất Thành phố Kuwait
Địa lý
Diện tích 17.818 km²
Diện tích nước 0% %
Múi giờ UTC+3; mùa hè: UTC+4
Lịch sử
Ngày thành lập 19 tháng 6 năm 1961
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 2.992.000 người (hạng 135)
Mật độ 131 người/km² (hạng 57)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 51,62 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,844 cao (hạng 44)
Đơn vị tiền tệ Dinar Kuwait (KWD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .kw

Kuwait (âm tiếng Việt: Cô-oét, Hán-Việt: Khoa Uy Đặc; tiếng Ả Rập: دولة الكويت, Dawlat al Kuwayt), tên đầy đủ là Nhà nước Kuwait, là một quốc gia tại Trung Đông. Nằm trên bờ Vịnh Ba Tư (Persia), giáp với Ả Rập Saudi ở phía nam và với Iraq ở hướng Tây và hướng Bắc. Tên nước được rút ra từ trong tiếng Ả Rập có nghĩa là "Pháo đài được xây dựng gần nước". Dân số gần 3.1 triệu người và diện tích lên đến 17.818 km². Đây là 1 đất nước có nền quân chủ lập hiến, với Thành phố Kuwait là thủ đô chính trị, kinh tế. Kuwait là nước có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ 5 trên thế giới và là nước giàu thứ 6 hoàn cầu. Dầu mỏ ở quốc gia này được khám phá và khai thác từ những năm 30, và sau khi nước này giành được độc lập từ tay thực dân Anh năm 1961, nền công nghiệp dầu lửa ở quốc gia vùng vịnh đã có những bước tiến vượt bậc. Dầu khí và các sản phẩm từ dầu khí chiếm xấp xỉ 95% tổng doanh thu từ xuất khẩu và chiếm gần 80% lợi tức của chính phủ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời cổ đại, con người đã đến sinh sống ở vùng bờ biển phía tây Kuwait. Từ thế kỉ thứ 7, nơi đây trở thành ngả đường cho những người hành hương đi đến Thánh địa Mecca. Thế kỉ 13, người du mục Ả Rập từ các vùng phía Bắc bán đảo Ả Rập đã nhận thấy sự thuận lợi của đường biển và di cư đến các bờ biển ven vùng Vịnh. Năm 1756, dòng họ Al-Sabah do Sabah Abu Abdullah đứng đầu đã thành lập tiểu vương quốc Kuwait. Trong các triều vua kế tiếp, dân số của tiểu vương quốc này ngày càng gia tăng và đất nước phát triển thịnh vượng.

Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 đế chế Ottoman chinh phục Kuwait và đặt quốc gia này dưới sự cai trị của một Thống đốc Thổ Nhĩ Kỳ tại Bagdad.[1]

Năm 1897, Kuwait đã kêu gọi sự bảo trợ của đế quốc Anh, để thoát khỏi sự cai trị của Đế quốc Ottoman. Tiểu vương quốc này trở thành xứ bảo hộ của Anh từ sau hiệp định được kí kết năm 1899. Năm 1919, Ả Rập Saudi xâm chiếm Kuwait nhưng đã bị đẩy lùi. Một vùng đất ở Kuwait bị Ả Rập Saudi phong tỏa kéo dài suốt 20 năm. Năm 1942, một hiệp ước hòa bình được kí kết giữa hai nước thông qua nước Anh làm trung gian.

Từ sau năm 1945, Kuwait phát triển nhanh chóng nhờ việc khám phá và khai thác dầu khí. Năm 1952, Iraq đưa ra yêu sách trước đây đòi lại quyền kiểm soát Kuwait nhưng bị nước Anh phản đối. Do việc đồng thuận trong hiệp ước Anh - Kuwait năm 1899. Ngày 25 tháng 2 năm 1961, Anh trao trả độc lập cho Kuwait và Kuwait đã lấy ngày này làm Quốc khánh. Để đương đầu với những đe dọa đòi sáp nhập của Iraq, vương quốc này đã phải nhờ đến sự trợ giúp quân sự của Anh và Ả Rập Saudi. Các mối giao hảo với Iraq được khôi phục năm 1963. Kuwait là nước Ả Rập đầu tiên thực hiện quốc hữu hóa việc sản xuất dầu mỏ (1975). Năm 1990, Iraq đòi lại quyền sở hữu "tỉnh thứ 19" này, yêu cầu hủy nợ và tiến chiếm Kuwait.

Năm 1991, Liên Hiệp Quốc chấp thuận việc sử dụng vũ lực chống lại Iraq, lực lượng đa quốc gia do Hoa Kỳ đứng đầu tấn công Iraq, giải phóng Kuwait. Đất nước bị tàn phá nặng nế, nhưng việc xuất khẩu dầu được tiếp tục lại từ tháng 7 năm 1991 và công cuộc tái thiết đất nước hoàn thành năm 1994.[2]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cung điện Bayan, nơi ở của quốc vương Kuwait, và cũng là tòa nhà chính phủ Kuwait.

Kuwait theo chế độ quân chủ lập hiến, chính phủ được điều hành bởi thủ tướng. Theo Hiến pháp, Quốc Vương bổ nhiệm các thành viên Hội đồng Bộ trưởng, phê chuẩn các đạo luật và nắm toàn quyền hành pháp; đồng thời có quyền giải tán hoặc đình chỉ Quốc hội.[1] Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Nghị viện bao gồm 50 đại biểu được tuyển chọn từ bầu cử và các bộ trưởng. Cựu thủ tướng - giáo trưởng Sabah Al-Ahmad Al-Jaber Al-Sabah trở thành đại giáo sĩ Hồi giáo vào ngày 29 tháng 1 năm 2006, thay thế cho giáo trưởng Abdallah Al-Sabah, đã bị bãi chức vào ngày 24 cùng tháng bởi Nghị viện vì những lí do về sức khỏe. Người này chỉ trị vì trong vòng vài ngày, vì ông ta đã nối ngôi Jaber Al-Ahmad Al-Sabah, mất vào ngày 15 tháng 1 năm 2006.

Trước đây các đảng phái chính trị đều bị cấm, các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ… bị hạn chế hoạt động. Sau chiến tranh vùng Vịnh, chính quyền Kuwait nới lỏng dân chủ hơn, hủy bỏ các đạo luật cấm công đoàn và các đảng phái chính trị hoạt động, thừa nhận đa đảng. Ở Kuwait phụ nữ không được đi bầu cử. Tuy nhiên, lần đầu tiên trong lịch sử, từ ngày 16 tháng 5 năm 2005, phụ nữ được quyền đi bầu cử.(trước đây chỉ có nam giới từ 21 tuổi trở lên trừ những người phục vụ trong quân độicảnh sát). Trong nội các mới đây nhất (25/3/2007) lần đầu tiên có 2 bộ trưởng là phụ nữ (Bộ trưởng giáo dục + cao học và Bộ Trưởng y tế). Quốc hội chỉ đại diện cho 15% dân số Kuwait.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Kuwait là thành viên Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên đoàn Ả Rập, Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC). Kuwait coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Ả Rập Xê ÚtIraq.

Trước đây, Kuwait có quan hệ với Liên Xô, các nước Đông Âu và cả phương Tây, nhưng giữ nguyên tắc độc lập, cân bằng giữa hai phe. Sau chiến tranh vùng Vịnh, Kuwait đẩy mạnh hơn quan hệ với Mỹ, các nước Tây ÂuNhật Bản vì mang ơn những nước này trực tiếp tham gia giúp Kuwait giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Iraq. Kuwait đã ký với Mỹ hiệp định phòng thủ chung và ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Iraq (2003).

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm ở phía Đông-Bắc của Bán đảo Ả Rập, Kuwait là một trong những nước có diện tích nhỏ nhất trên thế giới. Sa mạc Ả Rập bao trùm phần lớn diện tích của đất nước này. Kuwait là nước duy nhất trên thế giới không có một hồ tự nhiên hay hồ chứa nước nào. Đất nước này có 9 hòn đảo, ngoại trừ đảo Failaka thì tất cả số còn lại đều không có người ở. Với diện tích 860 km², đảo Bubiyan là đảo lớn nhất ở Kuwait và được nối với phần còn lại của đất nước bằng một chiếc cầu dài 2.380m. Thành phố Kuwait nằm ở trên Vịnh Kuwait.

Hành Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hành chính Kuwait

Kuwait được chia thành 6 vùng thủ hiến (governorate - muhafazah), các vùng được chia nhỏ ra thành huyện.

No. Tên Vùng Thủ phủ Diện tích
km²
Dân số
Census
of 2005
Kuwait, administrative divisions - Nmbrs - colored.svg
1 Al Jahra3) Al Jahra 12 130 272 373
2 Al Asimah (Al Kuwayt)2) Al Kuwait 200 261 013
3 Al Farwaniyah Al Farwaniyah 190 622 123
4 Hawalli Hawalli District 84 487 514
5 Mubarak Al-Kabeer Mubarak Al-Kabeer 94 176 519
6 Al Ahmadi1) Al Ahmadi 5 120 393 861
TOTAL 17 818 2 213 403

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Kuwait, trung tâm kinh tế chính của nước này.
Trụ sở của Tổng công ty Dầu khí Kuwait (KPC) Ahmadi.

Kuwait có nền kinh tế thịnh vượng nhờ khai thác dầu mỏkhí đốt (khoảng 10% trữ lượng dầu thế giới). Ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ chiếm 99% giá trị xuất khẩu, bảo đảm 94% thu nhập cho ngân sách nhà nước. Tỉ lệ đô thị hóa vượt quá 90%. Công nhân nước ngoài (1.l00.000 người) chiếm khoảng 83% lực lượng lao động trong nước. Lợi nhuận từ dầu mỏ và khí đốt và việc đầu tư vốn sang nước ngoài đã cho phép Kuwait thực hiện các công trình quy hoạch lớn. Kuwait là một trong những nước có lợi nhuận tính theo đầu người khá cao trên thế giới.[3]

Từ năm 1950, sau khi phát hiện ra mỏ dầu với trữ lượng lớn (104 tỷ thùng (2008) gần 10% trữ lượng thế giới) tương đương 13,3 tỷ tấn và đi vào khai thác, bộ mặt Kuwait đã thay đổi nhanh chóng. Dầu lửa trở thành nguồn thu nhập chính chiếm 99% giá trị xuất khẩu, đảm bảo 94% thu nhập ngân sách.

  • GDP: 114,9 tỷ USD (năm 2009)
  • Xuất khẩu: 49,52 tỷ USD (2009). (năm 2008: 86,94 tỷ USD)
  • Nhập khẩu: 20,8 tỷ USD (2009). (năm 2008: 22,94 tỷ USD)
  • Tăng trưởng kinh tế: 0,7% (2009). (năm 2008 là: 8,5%)
  • Ngân sách: 58,43 tỷ USD (2009)
  • Dự trữ ngoại tệ: 70,23 tỷ USD (2009)
  • Thất nghiệp: 2% (2009).

Quan hệ kinh tế, thương mạiđầu tư của Kuwait chủ yếu với Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản và Châu Đại Dương (60% dầu lửa được xuất cho Tây Âu, 36% cho NhậtChâu Đại Dương). Gần đây Kuwait thực hiện chính sách hướng đông, đang đầu tư vào các nước ASEAN.

Mặt hàng nhập khẩu chính: thực phẩm, vật liệu xây dựng, máy móc và đồ may mặc. Mặt hàng xuất khẩu chính: dầu và các sản phẩm hóa dầu, phân bón. Các bạn hàng chính: Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, Đài Loan, Úc.[4]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục tại Kuwait là bắt buộc và miễn phí trong 8 năm (từ 6-14 tuổi). Hệ thống giáo dục gồm trước tiểu học, tiểu học, bậc trung gian và trung học. Kuwait có một trường Đại học Tổng hợp được mở cửa từ năm 1966 với 200 sinh viên. Du học nước ngoài được nhà nước khuyến khích.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Kuwait hiện có gần 3 triệu người với 45% là người Kuwait, người Ả Rập là 35%, người Ấn Độ 9%, người Iran chiếm 4%, các dân tộc khác là 7%. Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức, nhưng tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi giáo là quốc giáo của Kuwait chiếm 85% dân số trong đó 70% là dòng Hồi giáo Sunni, 30% dòng Shi'a.[2] Ở Kuwait cũng có những cộng đồng theo Kitô giáo với khoảng hơn 300.000 người và Ấn Độ giáo khoảng 300.000 người, Phật giáo khoảng 100.000 người.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Kuwait tại Wikimedia Commons