Người Nùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Nùng
Tổng số dân
856.412[1] (1999)
968.800 (2009)[2]
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Hà Giang, Thái NguyênĐắk Lắk (di cư)
Ngôn ngữ
Tiếng Nùng, tiếng Việt
Tôn giáo
Mo
Dân tộc thiểu số có liên quan
Người Choang

Dân tộc Nùng (các nhóm địa phương: Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín[3]) thuộc ngữ chi Tai của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang v.v (chiếm tới 84%). Hiện tại, một lượng lớn đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên (11 %), chủ yếu tại Đắk Lắk. Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tàyngười Choang (Zhuang) sống dọc biên giới với Trung Quốc. Tại Trung Quốc, người Nùng cùng với người Tày được xếp chung vào dân tộc Choang.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tày+Nùng+Giáy+Bố Y theo thống kê năm 2009 tại các tỉnh Việt Nam:
  >60%
Lạng Sơn 78.3%, Cao Bằng 72.1%, Bắc Kạn 62.3%
  15%-40%
  5%-10%
  1%-5%

Dân số theo Thống kê dân số Việt Nam năm 1999 là 856.412 người[1], năm 2009 là 968.800.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Nùng cư trú tập trung tại các tỉnh: Lạng Sơn (314.295 người, chiếm 42,9% dân số toàn tỉnh và 32,4% tổng số người Nùng tại Việt Nam), Cao Bằng (157.607 người, chiếm 31,1% dân số toàn tỉnh và 16,3% tổng số người Nùng tại Việt Nam), Bắc Giang (76.354 người), Đắk Lắk (71.461 người), Hà Giang (71.338 người), Thái Nguyên (63.816 người), Bắc Kạn (27.505 người), Đắk Nông (27.333 người), Lào Cai (25.591 người), Lâm Đồng (24.526 người), Bình Phước (23.198 người)[2]...

Tộc danh "Nùng" chính thức được gán cho những nhóm người này ở Việt Nam bắt đầu từ thời điểm thành lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945.[4] Tên gọi "Nùng", với tư cách là một tộc danh, được chính thức công nhận và gán ghép cho những nhóm cư dân cụ thể này tại Việt Nam liên quan nhiều đến sự vận động chính trị của các nhà nước-dân tộc và sự thiết lập của các đường biên giới quốc gia nơi không có ai tồn tại trước người Nùng cũng nhiều như nó liên quan tới hệ thống phân loại dân tộc của Việt Nam và sự tự nhận thức dân tộc.[4] Hầu hết người Nùng ở Việt Nam di cư từ Quảng Tây, Trung Quốc bắt đầu vào khoảng 300 năm trước.[4] Làm việc với khung thời gian 200-300 và lấy đường biên giới Việt-Trung ra làm ranh giới phân định không chỉ cho chủ quyền quốc gia mà còn cho các nhóm sắc tộc khác nhau có thể dẫn đến hiểu nhẩm rằng người Nùng là một nhóm thiểu số ngoại lai mới di cư đến hoặc bị trục xuất đến một vùng đất khác.[4] Khi xét đường biên giới cố định giữa Việt Nam và Trung Quốc chưa được thiết lập vào thế kỷ 11 và các sự kiện lịch sử khác, sự di cư của người Nùng có thể được xem là sự di chuyển theo kiểu gia đình nhỏ bên trong một khu vực mà những người này và tổ tiên của họ đã sinh sống từ thời thượng cổ.[4] Nhưng thực tế không theo như vậy, các quá trình chính trị và lịch sử đi cùng với nhau đã tái dựng lại người Nùng như một nhóm sắc tộc thiểu số tách biệt trong suy nghĩ của những cá nhân mang tộc danh này, và các sắc tộc đa số và thiểu số khác, các viên chức chính phủ, và giới học thuật quốc tế.[4]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tiếng Nùng

Tiếng Nùng là một nhóm các ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai trong ngữ hệ Tai-Kadai. Hầu hết các phương ngữ Nùng đều được xếp vào nhóm Tai Trung Tâm. Tuy nhiên Nùng An (và Tráng Long'an tại Quảng Tây, Trung Quốc) mang cả hai đặc điểm của nhóm Tai Bắc và Tai Trung Tâm về mặt âm vị và từ vựng.[5] André Haudricourt xếp phương ngữ Nùng An cùng ba ngôn ngữ khác ở Việt Nam: Yáy (Giáy), Cao Lan, Ts'ưn-wa vào một nhóm riêng mà ông gọi là "Yáy".[6] Yáy của Haudricourt tương đương với nhóm Tai Bắc được Lý Phương Quế phân loại.[6] Pittayawat Pittayaporn (2009) xếp Tráng Long'an (Nùng An tại Việt Nam) vào tiểu nhóm M cùng với Tráng Vũ Minh, Yongnan, Fusui.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tráng+Bố Y[note 1] so với các sắc tộc khác tại Quảng Tây, châu tự trị Tráng-Miêu Văn Sơn (Vân Nam), huyện tự trị Tráng-Dao Liên Sơn (Quảng Đông) và một phần tỉnh Quý Châu.

Dựa trên các chứng cứ về di truyền, Jerold A. Edmondson cho rằng tổ tiên của các cư dân nói ngôn ngữ Tai-Kadai đi cư tới Myanmar, rồi sau đó Vân Nam (Trung Quốc) từ Ấn Độ khoảng 20.000 năm trước.[9] Sau đó họ chuyển hướng di cư xuống Thái Lan và Lào, vòng lại lên phía bắc vào Việt Nam và sau đó tiến vào lãnh thổ Trung Quốc.[9] Họ dừng chân sinh sống dọc vùng biên giới Việt-Trung rồi tiếp tục di cư dọc vùng duyên hải Hoa Nam lên phía bắc đến cửa sông Trường Giang, gần Thượng Hải khoảng 8-10.000 năm trước.[9]

Tuy nhiên, ý kiến khác cho rằng Proto-Daic/Proto-Tai-kadai di cư sang đảo Đài Loan, sau đó di cư trở lại vào đại lục khoảng 4000 năm trước và ngay sau đó hai nhánh Kra (Kadai) và Hlai tách ra khỏi Proto-Daic.[10] Kra di cư sâu vào đất liền qua Quảng Châu, còn nhánh Hlai di cư sang đảo Hải Nam. Gần như chắc chắn rằng sự di cư của các cư dân Daic được đưa đẩy bởi động cơ nông nghiệp vì dạng nguyên thủy của Daic (Proto-Tai-Kadai) dành cho các từ vựng về hoa màu và vật nuôi có thể được phục nguyên.[11] Ostapirat (2000) chỉ ra rằng các từ gồm "lợn", "chó" và ít nhất một số loại hoa màu đều tồn tại ở cả ba nhánh của Daic.[11]

Ngôn ngữ Lợn Chó Vừng Khoai
Gelao qai map mpau ŋklau mbø
Lachi mye m mɦa
Laha kəi məu maa mal
Paha qəi muu ŋaa ŋaa maan
Buyang ʔai muu ŋaa maan
Biao qai m̥uu m̥aa ŋɦɯɑ mɦən
Hlai khai pou pou keɯ man
Sui qaai m̥uu m̥aa ʔŋaa man
Tai kai muu maa ŋaa man
  • Roger Blench, trang 4. Trích từ Ostapirat (2000). [2]

Sơ lược lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một phần của các bức vẽ trên vách núi Hoa Sơn.

Theo Jeffrey G. Barlow (1997) tổ tiên của người Tráng/Nùng là các cư dân thuộc nhánh Yue (Việt) phía nam mà ngày nay các hậu duệ của họ bao gồm cả người Miao, Yao, Dong, Buyi, Shuiji, Li.[12] Trong số này, nhóm Luo Yue (Lạc Việt) sống tại vùng tây nam Quảng Tây và bắc Việt Nam.[12] Họ được cho là chủ nhân của các bức vẽ trên sườn dốc đứng của núi Hoa Sơn nằm ở huyện Ninh Minh gần biên giới Việt-Trung, được tạo ra vào khoảng thời gian giữa thời Chiến Quốc (403–221 TCN) và thời Đông Hán (26–220 SCN).[13] Theo phương pháp xác định niên đại bằng Carbon-14, các bức vẽ cổ nhất có niên đại 16.000 năm trước và các bức vẽ muộn nhất có niên đại 680 năm trước.[14] Người Việt Nam, dựa trên các truyền thuyết, cũng cho rằng họ là hậu duệ của nhóm Luo Yue. Tuy nhiên Liam C. Kelley (2012) chỉ ra rằng các truyền thuyết này đều là bịa đặt.[15][note 2]

Một loạt các cuộc nổi dậy nhỏ nổ ra ở Quảng Đông và Quảng Tây vào giai đoạn 597-769 nhưng chúng nhanh chóng bị dập tắt.[21] Chuỗi nổi dậy thứ hai diễn ra từ 756-830 do họ Hoàng và họ Nông lãnh đạo.[21] Chúng được gọi là nổi dậy Xiyuan (Tây Nguyên) (Xiyuan có gốc từ châu Xiyuan nằm dọc sông Tả Giang ở khu vực Fusui ngày nay, và đây cũng là tên một đơn vị hành chính dưới thời Đường nằm giữa Tả Giang và Hữu Giang).[21] Thế lực của họ Hoàng nằm ở khu vực Ningming, Longzhou, ChongzuoFusui, những vùng này được gọi là các thung lũng[note 3] họ Hoàng.[21] Các thủ lĩnh họ Hoàng được gọi là huangdong man (Hoàng Động Man) hoặc xiyuan man (Tây Nguyên Man), và họ được cha con Huang Qianyao (Hoàng Càn Diệu 黄乾曜) và Huang Shaoqing (Hoàng Thiếu Khanh 黄少卿) lãnh đạo trong cuộc nổi dậy Xiyuan.[21]

Năm 822, Huang Qianyao lợi dụng mâu thuẫn nội bộ giữa các viên chức nhà Đường để tấn công Longzhou và chiếm thị trấn Zuojiang (Tả Giang, phía tây Nam Ninh ngày nay), tấn công Qinzhou và chiếm thị trấn Qianjin.[21] Năm 824, vùng Lĩnh Nam đổ nát do sự chiếm đóng của họ Hoàng ở hơn mười châu thuộc khu vực nam Quảng Tây và phía tây Quảng Đông.[21] Khi đó nhà Đường đang phải đối đầu với các cuộc khởi nghĩa nông dân và các cuộc bạo loạn của Nanzhao và Tufan (đế chế Tây Tạng), và chỉ có thể đối phó với tình hình ở châu Xiyuan bằng việc dụ dỗ quân nổi dậy đầu hàng với đề nghị xá tội cho họ.[21] Cuộc biến loạn Xiyuan cuối cùng chấm dứt khi các thủ lĩnh họ Hoàng chấp nhận đề nghị này.[21] Vào cuối thời Đường, thế lực của họ Hoàng suy yếu và họ Nông (thế lực tập trung ở JingxiTiandeng thuộc quận Tả Giang) nổi lên.[21]

Vào thế kỷ 11, vùng biên giới Việt Trung do một nhóm nhỏ các dòng họ kiểm soát.[23] Họ Hoàng/Huang thống trị khu vực xa nhất về phía đông vùng biên giới.[23] Vào đầu thời Tống, họ Vi/Wei cư trú ở châu Tô Mậu, phía bắc Việt Nam và châu Tư Lăng (Siling 思陵), Lục Châu (Luzhou 綠洲), Tây Bình (Xiping 西平) thuộc lãnh thổ Tống.[24] Lãnh thổ của họ Nông gồm chín khu vực bán tự trị có diện tích khác nhau, được gọi là po hoặc bu,[note 4] bao gồm: Slốc, Ngàn, Dái, Lài, Nuống, Má, Héc, Ngà, Sằng.[25] Các dòng họ Hoàng/Huang và Vi/Wei cùng với Nông/Nùng, Chu/Zhou là các cư dân chủ yếu ở khu vực nằm giữa hai vùng sinh sống của người Việt Nam và Hán.[24] Thủ lĩnh của các dòng họ này duy trì quyền lực của mình qua các mối quan hệ theo kiểu gia đình và quan hệ cá nhân.[24] Miêu tả các cộng đồng bản địa ở khu vực biên giới tại Quảng Tây thế kỷ 16, một nhà sử học viết, "trong khi các thủ lĩnh có chung họ không nhất thiết phải có cùng tổ tiên...họ thường nêu ra các mối quan hệ tưởng tượng hoặc thực sự để thành lập liên minh hoặc để khẳng định ảnh hưởng của mình."[24] Các dòng họ này, được ghi chép lại sớm nhất vào thời Tống, thường cạnh tranh với nhau trong đó các dòng họ Nông/Nùng (儂), Chu/Zhou (周), Hoàng/Huang (黄), Vi/Wei (韋) thường xâm chiếm lãnh thổ của nhau.[26] Leo Shin, một học giả nghiên cứu hệ thống bộ lạc ở biên giới tây nam tại khu vực này vào thời Minh (1368-1644), sau khi đã kiểm tra bản chất tự trị của các thực thể chính trị nhỏ này và cách hành sử khắc nghiệt khi các bộ tộc lớn hơn săn đuổi các bộ tộc nhỏ xung quanh, đã so sánh mạng lưới quan hệ trong các khu vực này với chế độ phong kiến của thời Chiến Quốc (475-221 TCN).[27]

Đầu năm 977, một bản tấu từ trại Yongzhou (Ung Châu 邕州) báo cáo rằng: man tù[note 5] ở châu Quảng Nguyên, thủ lĩnh thản xước[note 6] Nông Dân Phú tự lập mình làm thủ lĩnh của một po gồm mười ngôi làng quanh vùng sau khi nhận được sự ủng hộ từ triều đình Nam Hán (907-971).[23] Nông Dân Phú sau được vua Tống phong tước Jinzi Guanglu Daifu (Kim Tử Quang Lộc Đại Phu 金紫光祿大夫) và Sigong (Tư Không 司空).[23] Dân Phú cuối cùng truyền lại các tước hiệu này cho con trai, Nông Tồn Phúc. Nông Tồn Phúc được ban thêm quyền kiểm soát châu Thảng Do nằm ở góc đông nam Jingxi, Quảng Tây ngày nay. Em trai của Tồn Phúc, Toàn Lộc kiểm soát châu Vạn Nhai (huyện Na Rì, Bắc Cạn ngày nay) và em vợ của Tồn Phúc, Nông Đanh Đạo kiểm soát châu Vũ Lặc.[23] Châu Quảng Nguyên được ghi chép lại là một nguồn vàng lớn, và sự trù phú thiên nhiên này khiến Nông Tồn Phúc trở thành một người giàu có.[23] Nông Tồn phúc gia tăng sự giàu có của mình qua thương mại địa phương.[23] Vị trí tòa thành của Tồn Phúc nằm ngay bờ sông Bằng gợi ý rằng ông đã thành công trong việc tận dụng vị trí căn cứ quyền lực của mình dọc huyết mạch thương mại chính của khu vực. Tống Sử miêu tả họ Nông vào thời này là chúng giàu có về vàng, đông đúc về dân số: "để tóc dài và cài áo về phía trái. Chúng thích chiến đấu và xem nhẹ cái chết".[29]

Cũng theo Tống Sử, qua một thầy cúng có thế lực tên là Ah Nông (阿儂), một phụ nữ thực hiện ma thuật và hiến tế người.[29] Dưới sự chỉ dẫn của cô, Nông Tồn Phúc giết huynh đệ của mình, một thủ lĩnh của họ Sầm (Shen/Cen 岑) và chiếm đất.[29] Nông Tồn Phúc thành lập một quốc gia tồn tại ngắn ngủi, Chang Qi Guo (長其國), nhưng sau bị vua của Đại Cồ Việt là Phật Mã bắt và giết.[29] Theo Sima Guang (Tư Mã Thiên; 1019-1086) Tồn Phúc giàu có là nhờ vào sự cai trị nhân từ của Trung Hoa, và tất cả dân dưới trướng Tồn Phúc cũng vậy. Hơn nữa, đó là do tài lãnh đạo của Trung Hoa và sự giàu có của Nông Tồn Phúc mà Giao Chỉ căm ghét, và là lý do khiến kẻ cai trị Việt đem quân đến chiếm lãnh thổ của Tồn Phúc và bắt vị tộc trưởng.[30]

Ah Nông và con trai 14 tuổi, Nông Trí Cao (儂智高) thoát được cuộc vây bắt bằng cách chạy sang phía biên giới Tống. Nông Trí Cao thừa kế vị trí thủ lĩnh của họ Nông, đầu tiên cố gắng vỗ về người Việt Nam và Trung Hoa bằng các cống phẩm vàng, voi và bạc.[29] Quân của Nông Trí Cao đánh bại đạo quân do Huang Deqing thuộc các thung lũng họ Huang/Hoàng chỉ huy, do đó trở thành thủ lĩnh của một liên minh gồm toàn bộ các dòng họ Tráng tại vùng Tả Giang.[21] Nông Trí Cao được Tống phong làm tri huyện châu Guangyuan (Quảng Nguyên) sau khi ông sáp nhập bốn thung lũng Lei, Shui, Pin, Po, và châu Silang thuộc Annam.[21] Sau đó ông lập vương quốc riêng, căn cứ ở Longzhou, khởi đầu đặt tên là Dali Guo (大歷国) nhưng sau đổi thành Nantian Guo (南天国).[29] Nông Trí Cao, được một người Quảng Đông tên Huang Wei (黄瑋) trợ giúp, đã tổ chức một đội quân vô cùng cơ động gồm các nhóm ba người: hai cung thủ phía sau và một giữ khiên chắn phía trước. Họ đã xâm chiếm các thành thị của Trung Hoa khắp Quảng Tây và phía tây Quảng Đông, và vây hãm Quảng Châu trong 57 ngày năm 1052 mà không thể chiếm được thành trì này.[29] Năm 1053 quân tiếp viện của Trung Hoa đến Quảng Tây và vào cuối năm đó hoặc tháng đầu tiên năm 1054, quân của Nông Trí Cao bị đánh bại ở phía bắc Yongzhou (Nam Ninh ngày nay).[29] Nông Trí Cao, Ah Nông và các con trai của Nông Trí Cao chạy đến làng Temo ở Vân Nam, nơi mà họ đã sống trong 5 năm sau khi Nông Tồn Phúc bị giết, vào khoảng thời gian đó Ah Nông kết hôn với thủ lĩnh địa phương Nông Hạ Khanh (Nong Xiaqing 儂夏卿).[29] Số phận cuối cùng của Nông Trí Cao vẫn còn là một truyền thuyết. Ông đã không thể lập lại đội quân đủ lớn để nổi lên chống lại Trung Hoa, và những năm sau, các viên chức Tống đã thành công trong việc lấy được lòng trung thành của hầu hết người Tráng, mặc dù vậy họ Sầm (Shen/Cen 岑) đã nổi dậy chống lại Trung Hoa vào thời Minh.[29]

Chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

Người Nùng dùng chữ Hán hay chữ Nôm Nùng (được phát triển khoảng thế kỷ 17) để ghi chép thơ ca và truyện cổ dân gian[31].

Trước đây, hầu hết người Nùng đều mù chữ, chỉ có những người giàu có mới được đi học, nhưng là học chữ Hán hoặc tiếng Pháp, để làm thầy cúng, thông ngôn. Hiện nay, phần lớn người Nùng đều không biết viết chữ của dân tộc mình. Mọi người đều được học chữ quốc ngữ của người Việt [31].

Lưu ý[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Người Bố Y ở tỉnh Quý Châu, Trung Quốc có quan hệ huyết thống với người Tráng sống dọc ranh giới Quảng Tây-Quý Châu, nhưng chính phủ Trung Quốc phân loại họ thành một sắc tộc riêng vì đường ranh giới giữa Quảng TâyQuý Châu.[8] Theo đó các cư dân sống tại địa phận Quý Châu được phân loại là Bố Y, và các cư dân sống tại địa phận Quảng Tây được phân loại là Tráng.
  2. ^ James R. Chamberlain chỉ ra rằng người Việt Nam là các di dân mới đến của khu vực đồng bằng sông Hồng.[16] Họ di cư từ khu vực ngày nay là đông Trường Sơn thuộc miền trung Việt Nam và tây trường sơn thuộc các tỉnh Khammouane và Borikhamxay, Lào lên phía bắc đến đồng sằng sông Hồng.[17] Chamberlain cho rằng cư dân gốc của vùng đồng bằng sông Hồng là những người nói ngôn ngữ Tai và họ bị sắc tộc Việt Nam thay thế vào khoảng thế kỷ 7—thế kỷ 9.[18] Liam C. Kelley trích dẫn Xu Songshi (1946) chỉ ra rằng tên gọi các địa danh trong tấm bản đồ của Trung Hoa về khu vực đồng bằng sông Hồng và bắc trung bộ Việt Nam vào thời khu vực này vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của nhà Minh thế kỷ 15 có sự hiện hữu của các từ ngữ Tai. Các tên gọi trong tấm bản đồ đó bao gồm: Cổ Bàng (古榜), Cổ Lão (古老), Cổ Lễ (古禮), Cổ Dũng (古勇), Cổ Long (古龍), Cổ Phí (古費), Cổ Đằng (古藤), Cổ Hồng (古宏), Cổ Lôi (古雷), Cổ Bình (古平), Cổ Đặng (古鄧), Cổ Xã (古社), và Cổ Nông (古農). Theo Xu Songshi, các chữ: tư/si (思), đô/du (都), đa/duo (多), na/na (那), bố/bu (布), và điều/diao (調) cũng tồn tại trong tiếng Tráng, và ở Việt Nam thế kỷ thứ 15 cũng có những địa danh tồn tại các chữ này, ví dụ: Na Ngạn (那岸), Lục Na (陸那), Đa Cẩm (多錦), Đa Dực (多翌), Tư Dung (思容), Điều An (調安), và Bố Chân (布真).[19] Mặc dù Xu Songshi không cho biết những từ này có nghĩa gì trong tiếng Tráng, bất kỳ ai quen thuộc với ngôn ngữ Tai đều biết rằng na/na nghĩa là ruộng.[19] Thêm vào đó những tên gọi trong truyền thuyết của Việt Nam, như: Mỵ Nương, Quan Lang, Bồ Chính đều được lấy từ ngôn ngữ Tai, chính xác hơn là những từ Tai bị Hán hóa.[20]
  3. ^ Jeffrey G. Barlow (1997) chỉ ra rằng các thung lũng lớn là trung tâm hệ thống chính trị của người Tráng. Người Hán sau này gọi chúng là dong (động 峒). Tên khởi nguyên của từ này trong tiếng Tráng là lung, và dường như dùng để chỉ một vùng đất được đào mương và đắp đê cho mục đích nông nghiệp. Trong phương ngữ Tráng Vũ Minh hiện đại ngày nay, phát âm của chữ này là conghcuengh, rất gần với Dong trong tiếng Hán. Một hệ thống tương tự được gọi là mường (muong/muang) tồn tại ở các cư dân Tai tại Việt Nam ngày nay.[22]
  4. ^ po hoặc bu tương đương với mường trong các xã hội Tai Tây Nam.[25]
  5. ^ manqiu 蠻酋.
  6. ^ Theo James A. Anderson thản xước (tanchou 坦綽) nghĩa là hào phóng và thanh bình, một tước hiệu thường được phong cho các thái tử của dòng họ cai trị vương quốc Nanzhao.[28]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Điều tra dân số 1999, tập tin 23.DS99.xls
  2. ^ a ă “Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê. 4 tháng 1 năm 2009. Truy cập 22/2/2011. 
  3. ^ Người Nùng trên website của Ủy ban Dân tộc
  4. ^ a ă â b c d Wangsgard, David B. (2009). Here We are All Brothers: Gender Relations and the Construction of Masculine Identities in a Nung Fan Sling Village. Department of sociology and anthropology, Simon Fraser University: pp 9-14.
  5. ^ Map and language descriptions". The university of Texas at Arlington.
  6. ^ a ă Nicolson, Beth. The Nung An Language of Vietnam: Stepchild or Aberrant Son ?, trang 266, năm 2000.
  7. ^ Pittayaporn, Pittayawat (2009). The Phonology of Proto-Tai. Department of Linguistics, Cornell University. pp. 298. http://ecommons.library.cornell.edu/bitstream/1813/13855/1/Pittayaporn%2c%20Pittayawat.pdf. 
  8. ^ Chaisingkananont, Somrak (2014). THE QUEST FOR ZHUANG IDENTITY: CULTURAL POLITICS OF PROMOTING THE BULUOTUO CULTURAL FESTIVAL IN GUANGXI, CHINA". Department of Southeast Asian studies, National university of Singapore.pp.60.
  9. ^ a ă â Edmondson, Jerold A. and Gregerson, Kenneth J. (2007). The Languages of Vietnam: Mosaics and Expansions, Language and Linguistics Compass, 1/6: 730.
  10. ^ Blench, Roger (2013). The Prehistory of the Daic- or Kra-Dai-Speaking Peoples and the Hypothesis of an Austronesian Connection. in Klokke, Marijke J. and Degroot, Véronique UNEARTHING SOUTHEAST ASIA’S PAST Selected Papers from the 12th International Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists, Volume 1. NUS Press, National University of Singapore: 6. ISBN 978-9971-69-641-2.
  11. ^ a ă Blench, Roger (2013). The Prehistory of the Daic- or Kra-Dai-Speaking Peoples and the Hypothesis of an Austronesian Connection. in Klokke, Marijke J. and Degroot, Véronique UNEARTHING SOUTHEAST ASIA’S PAST Selected Papers from the 12th International Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists, Volume 1. NUS Press, National University of Singapore: 3. ISBN 978-9971-69-641-2.
  12. ^ a ă Barlow, Jeffrey G. (1997). "Culture, ethnic identity, and early weapons systems: the Sino-Vietnamese frontier". In Tötösy de Zepetnek, Steven; Jay, Jennifer W. East Asian cultural and historical perspectives: histories and society—culture and literatures. East Asian Cultural and Historical Perspectives: Histories and Society". University of Alberta. Research Institute for Comparative Literature and Cross-Cultural Studies: 1-15. ISBN 0-921490-09-7.
  13. ^ Qian, Gao. (May 2013). The Huashan rock art site (China): The sacred meeting place for sky, water and earth, Rock Art Research: The Journal of the Australian Rock Art Research Association (AURA), Vol. 30, No. 1: 22-32.
  14. ^ Guo Hong, Han Rubin, Huang Huaiwu, Lan Riyong, and Xie Riwan: Types of Weathering of the Huashan Rock Paintings. In: Agnew, Neville, ed., Conservation of Ancient Sites on the Silk Road: Proceedings of the Second International Conference on the Conservation of Grotto Sites, Mogao Grottoes, Dunhuang, People's Republic of China, June 28–July 3, 2004. Getty Conservation Institute (2010): 312.
  15. ^ Kelley, Liam C. (2012). The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition". Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2: 87-122, published by: University of California Press.
  16. ^ Chamberlain, James R. (1998). The Origin of the Sek: Implications for Tai and Vietnamese History". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 38.
  17. ^ Chamberlain, James R. (1998). The Origin of the Sek: Implications for Tai and Vietnamese History". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 37.
  18. ^ Chamberlain, James R. (1998). The Origin of the Sek: Implications for Tai and Vietnamese History". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 44.
  19. ^ a ă Kelley, Liam C. (2013). Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past". Journal of the Siam Society Vol. 101: 59.
  20. ^ Kelley, Liam C. (2013). Tai Words and the Place of the Tai in the Vietnamese Past". Journal of the Siam Society Vol. 101: 81-82.
  21. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Took, Jennifer (2005). A Native Chieftaincy in Southwest China: Franchising a Tai Chieftaincy Under the Tusi System of Late Imperial China". BRILL, 2005: 46-47. ISBN 0169-9563 / 90 04 14797 7.
  22. ^ Barlow, Jeffrey G. (1997). "Culture, ethnic identity, and early weapons systems: the Sino-Vietnamese frontier". In Tötösy de Zepetnek, Steven; Jay, Jennifer W. East Asian cultural and historical perspectives: histories and society—culture and literatures. East Asian Cultural and Historical Perspectives: Histories and Society". University of Alberta. Research Institute for Comparative Literature and Cross-Cultural Studies: 3. ISBN 0-921490-09-7.
  23. ^ a ă â b c d đ Anderson, James A.. The Rebel Den of Nung Tri Cao: loyalty and identity along the Sino-Vietnamese frontier". University of Washington Press (2012) : 73-76.
  24. ^ a ă â b Anderson, James A. (2002). Man of Prowess or Errant Vassal: Nang Ton Phuc's 11th century Bid for Autonomy Along the Sino-Vietnamese Frontier". Southeast Review of Asian Studies 22 (2002): 7.
  25. ^ a ă Anderson, James A.. The Rebel Den of Nung Tri Cao: loyalty and identity along the Sino-Vietnamese frontier". University of Washington Press (2012) : 72.
  26. ^ Anderson, James A. (2002). Man of Prowess or Errant Vassal: Nang Ton Phuc's 11th century Bid for Autonomy Along the Sino-Vietnamese Frontier". Southeast Review of Asian Studies 22 (2002): 9.
  27. ^ Anderson, James A.. The Rebel Den of Nung Tri Cao: loyalty and identity along the Sino-Vietnamese frontier". University of Washington Press (2012) : 83.
  28. ^ Anderson, James A.. The Rebel Den of Nung Tri Cao: loyalty and identity along the Sino-Vietnamese frontier". University of Washington Press (2012) : 75.
  29. ^ a ă â b c d đ e ê g [1] A Sociolinguistic Introduction to the Central Taic Languages of Wenshan Prefecture, China. Tác giả: Eric C. Johnson và Mingfu Wang. Trang 22
  30. ^ Anderson, James A. (2002). Man of Prowess or Errant Vassal: Nang Ton Phuc's 11th century Bid for Autonomy Along the Sino-Vietnamese Frontier". Southeast Review of Asian Studies 22 (2002): 13, note 28.
  31. ^ a ă Viện Dân tộc học (1983). Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. tr. tr.135. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]