Người La Ha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
La Ha
Tổng số dân
8.177 (2009) [1]
Khu vực có số dân đáng kể
Sơn La, Lào Cai
Ngôn ngữ
Tiếng La Ha, Việt

Người La Ha, còn được gọi với một số tên khác nhau như La Ha, Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa [2] là một dân tộc cư trú ở miền bắc Việt Nam. Người La Ha được chính thức công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam [3].

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Kadai của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai[2].

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Ha cư trú tại hai tỉnh Sơn La và Lào Cai[4].

Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, tổng số người La Ha tại Việt Nam khoảng 5.686 người [4].

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người La Ha ở Việt Nam có dân số 8.177 người, cư trú tại 20 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Tuyệt đại đa số người La Ha cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La (8.107 người, chiếm 99,14% tổng số người La Ha tại Việt Nam). Ngoài ra người La Ha còn sinh sống tại Hà Nội (thống kê được 13 người), Đắk Nông (12 người)[1].

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Ha sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy theo lối du canh[2], do đó việc hái lượm đóng vai trò quan trọng hơn so với săn bắn và đánh cá. Ngày nay nhiều bản đã làm ruộng lúa nước[2]. Người La Ha biết đắp bờ chống xói mòn nương; có nơi đã biết dùng phân bón. Người La Ha thường nuôi heo, gà. Họ cũng nuôi trâu, bò để cày kéo.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trai gái La Ha được tự do tìm hiểu nhau, không bị cha mẹ ép buộc cưới gả. Tuy nhiên việc cưới gả phải được cha mẹ ưng thuận. Để tỏ tình chàng trai phải đến nhà cô gái và dùng sáo, nhị, lời hát trước khi trò chuyện bình thường. Sau lễ dạm hỏi, nếu nhà gái không trả lại trầu do bà mối của nhà trai đưa tới thì chàng trai tổ chức lễ xin ở rể. Chàng trai phải ở rể từ 4 đến 8 năm. Hết hạn đó, lễ cưới được tiến hành. Cô dâu được về ở nhà chồng và đổi theo họ chồng.

Tang chế[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Ha làm tang lễ theo tục cũ. Người chết được chôn với tiền và thóc.

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Bản của người La Ha thường có khoảng chục nóc nhà. Người La Ha ở nhà sàn, có hai cửa ra vào với thang lên xuống tại hai đầu nhà, một cửa vào chỗ để tiếp khách và một cửa vào chỗ dành cho sinh hoạt trong gia đình.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Ha không dệt vải, chỉ trồng bông và đem bông trao đổi với người Thái lấy vải mặc. Do đó, trang phục của người La Ha giống trang phục của người Thái đen.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  2. ^ a ă â b Người La Ha trên website của Ủy ban dân tộc Việt Nam
  3. ^ Các dân tộc Việt Nam. Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang, 2012. Truy cập 01/04/2017.
  4. ^ a ă Điều tra dân số 1999, tập tin 55.DS99.xls

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]