Người Thái (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bài này nói về nhóm Người Thái của Việt Nam. Những khái niệm cùng tên xem bài người Thái
Người Thái
Trang phục dân tộc Thái trắng Sơn La, trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Tổng số dân
1.328.725[1] (1999)
1.550.423[2] (2009)
Khu vực có số dân đáng kể
Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình
Ngôn ngữ
Tiếng Thái, tiếng Việt
Tôn giáo
Phật giáo
Sắc tộc có liên quan
Thái (Trung Quốc), Thái (Thái Lan), người Lào, người Shan, người Ahom.

Người Thái ไทย còn được gọi là ไทขาว Tày Khao (Thái Trắng), ไทดำ Tày Đăm (Thái Đen), Tày Đeng (Thái Đỏ), ไทยโยว Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Họ đã có mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm, là con cháu người Thái di cư từ vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc bây giờ.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa trên các chứng cứ về di truyền, Jerold A. Edmondson cho rằng tổ tiên của các cư dân nói ngôn ngữ Tai-Kadai di cư từ Ấn Độ tới Myanmar, rồi sau đó tới Vân Nam (Trung Quốc) khoảng 20.000 - 30.000 năm trước.[4] Từ đó họ đến đông bắc Thái Lan và sau đó di cư dọc vùng duyên hải Hoa Nam lên phía bắc đến cửa sông Trường Giang, gần Thượng Hải khoảng 8-10.000 năm trước.[4]. Vào thời kỳ vương quốc Nam ChiếuĐại Lý tồn tại từ Tk 8 đến Tk 13, cũng như sau đó, họ từ đó chiếm lĩnh Thái LanLào.

Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history (Thái quốc: Lịch sử tóm lại)", người Thái xuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng. Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía đông và bắc, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam. Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII[5]. Trung tâm của họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh). Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam Á bây giờ như Lào, Thái Lan, bang Shan ở Miến Điện và một số vùng ở đông bắc Ấn Độ cũng như nam Vân Nam[6].

Theo sách sử Việt Nam, vào thời Nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tức người Thái, đây là âm Hán Việt phiên từ tiếng Thái: "ngù háu" tức là rắn Hổ mang) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067. Trong thế kỷ XIII, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại Nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân Nhà Trần. Năm 1337 lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo cai quản. Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mương Lễ (tức Mường Lay, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (tức Mường Muổi, Sơn La), Đèo Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu. Năm 1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu.

Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ tạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trở thành giai cấp quý tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc; dòng họ Hà cai quản châu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận; họ Hoàng ở châu Việt...

Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình Nhà Nguyễn kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủ Điện Biên. Năm 1880, phó lãnh sự Pháp là Auguste Pavie nhân danh triều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trị chức tri phủ cha truyền con nối tại Điện Biên; sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào, Đèo Văn Trị được cử làm quan của đạo Lai Châu, cai quản một lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ, còn gọi là xứ Thái. Tháng 3, 1948 lãnh thổ này được Pháp tổ chức lại thành Liên bang Thái tự trị, qui tụ tất cả các sắc tộc nói tiếng Thái chống lại Việt Minh.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, để lấy lòng các sắc tộc thiểu số miền Bắc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập Khu tự trị Thái Mèo ngày 29 tháng 4 năm 1955, Khu tự trị Tày Nùng và vùng tự trị Lào Hạ Yên, nhưng tất cả các khu này đều bị giải tán năm 1975

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số năm 1999, người Thái có số dân là 1.328.725 người[7], chiếm 1,74% dân số cả nước, cư trú tập trung tại các tỉnh Lai châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (số lượng người Thái tại 8 tỉnh này chiếm 97,6% tổng số người Thái ở Việt Nam)và một số ở Tỉnh Lâm Đồng và Đaklak. Trong đó tại Sơn La có 482.485 người (54,8 % dân số), Nghệ An có 269.491 người (9,4 % dân số), Thanh Hóa có 210.908 người (6,1 % dân số), Lai Châu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên) có 206.001 người (35,1 % dân số).

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Thái cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn La [Mương La] (572.441 người, chiếm 53,2% dân số toàn tỉnh và 36,9% tổng số người Thái tại Việt Nam), Nghệ An (295.132 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh và 19,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Thanh Hóa (225.336 người, chiếm 6,6% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Thái tại Việt Nam), Điện Biên [Mương Thèng ] (186.270 người, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam), Lai Châu [ Mương Lay ] (119.805 người, chiếm 32,3% dân số toàn tỉnh và 7,7% tổng số người Thái tại Việt Nam), Yên Bái [ Mương Lo ] (53.104 người), Hòa Bình (31.386 người), Đắk Lắk (17.135 người), Đắk Nông (10.311 người)[2]...

Các nhóm người Thái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhóm Thái Đen (ꪒ Táy Đăm/Taidam/ไทดำ) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biêꪱ꪿ Mương Laꪖꪉ Mương Thèng). Các nhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An cũng mới từ mạn Tây Bắc chuyển xuống cách đây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư dân địa phương và Lào. Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi qua Lào vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào. Dân số của nhóm Thái Đen tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 699.000 người trong tổng số 763.950 người Thái Đen trên toàn thế giới[8]. Ngoài ra còn có khoảng 50.000 người Thái Đen hay Tày Mười sinh sống tại tỉnh Khăm Muộn, Lào (số liệu 1995); 10.000 người Thái Đen (một phần của dân tộc Thái theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 1995) và 700 người Thái Đen sinh sống tại tỉnh Loei, Thái Lan (số liệu 2004, nhóm này đến Thái Lan vào năm 1885)[8].
  • Nhóm Thái Trắng (Táy Đón/Táy Khao/ไทขาว) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên). Ở Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình, có nhóm tự nhận là Táy Đón, được gọi là Thổ. Ở xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, có một số Thái Trắng chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Tày. Ở Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã Tày hóa. Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu, Điện Biên từ thế kỷ XIII và làm chủ Mường Lay (địa bàn chính là huyện Mường Chà ngày nay) thế kỷ XIV, một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỷ XV. Có thuyết cho rằng họ là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc. Dân số của nhóm Thái Trắng tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 280.000 người trong tổng số 490.000 người Thái Trắng trên toàn thế giới[9]. Ngoài ra còn có khoảng 200.000 người Thái Trắng sinh sống tại Lào (thống kê năm 1995); 10.000 người Thái Trắng (một phần của dân tộc Thái theo phân loại của CHND Trung Hoa) sinh sống tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (số liệu 1995)[9].
  • Nhóm Thái Đỏ (Tai Daeng), gồm nhiều nhóm khác nhau cư trú chủ yếu ở một số huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình) và các huyện miền núi như Bá Thước (Thanh Hóa) và Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương (Nghệ An). Dân số của nhóm Thái Đỏ tại Việt Nam năm 2002 ước tính khoảng 140.000 người trong tổng số 165.000 người Thái Đỏ trên toàn thế giới[10]. Ngoài ra còn có khoảng 25.000 người Thái Đỏ sinh sống tại tỉnh Sầm Nưa, Lào (số liệu 1991)[10].
  • Một số nhóm có dân số ít hoặc chưa được phân định rõ ràng như Tày Mười(sống xen kẽ với nhóm Tày Thanh và Tày Mường ở Nghệ An) có khoảng 300 người (2002)[11], Tày Mường (Thái Hàng Tổng,Thái Do) có khoảng 10.000 người (2002)[12], Tày Thanh có khoảng 20.000 người (2002)[13], Phu Thai (hay Phutai, Putai, Puthai, Puthay) với dân số 209.000 người (2002) (ngoài ra tại Thái Lan có khoảng 470.000 người (2006), tại Lào có 154.000 người (2001) và tổng số người Phu Thai trên thế giới là 833.000)[14]...

Ngoài ra còn có chừng 20.000 người Thái gốc Việt Nam sinh sống tại nước ngoài, chủ yếu là Pháp và Hoa Kỳ.

Họ của người Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thái sử dụng các họ chủ yếu như: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà (Hà, Kha, Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Điêu, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm (Lâm, Lịm), Lý, Lò (Lô, La,Lo), Lộc(Lục), Lự, Lường (Lương), Manh, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, Phìa, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm (Cầm Bá, Phạm Bá), Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Tòng (Toòng), Lang (Vi), Vì (Vi), Xa (Sa), Xin.

Ngôn ngữ & Chữ viết[sửa | sửa mã nguồn]

Một trang chữ Thái cổ trong gia phả họ Lò Cầm, Mai Sơn, Sơn La và chữ ký, họ tên, dấu người viết bằng chữ Lai Pao - phía dưới. (Nguồn: Lịch sử văn hóa dân tộc Thái)
Một trang chữ Thái Đen được in ấn tại Hoa Kỳ (bởi người Thái tại Hoa Kỳ), nguồn: SIL
Chữ Thái Việt Nam chính thức được thống nhất sử dụng từ 5/2008
Chữ Thái Việt Nam chính thức được thống nhất sử dụng từ 5/2008

Người Thái có ngôn ngữ và văn tự riêng. Các nhà dân tộc học hiện nay đã xếp tộc người này vào Nhóm nói tiếng Thái … ngữ hệ Nam Thái (Austro Thái) tức Thái Ka-đai. Do có chung một cội nguồn, ngôn ngữ Thái có tỷ lệ thống nhất cao. Đó là đặc điểm nổi bật mà khi tiếp xúc ai cũng nhận thấy. Đây là tiếng đơn âm, có thanh điệu. Cấu tạo câu theo thứ tự: chủ ngữ vị ngữ các thành phần khác. Trừ những câu mệnh lệnh thức, còn ít có trường hợp đảo ngược thứ tự này. Tiếng Thái Việt Nam là một phương ngữ được hợp bởi năm vùng thổ ngữ:

1. Thái Trắng miền cực bắc Tây Bắc.

2. Thái Đen vùng giữa miền Tây Bắc, thường gọi là tiếng Thái chín châu (quam Tay cẩu chầu mương).

3. Thái Đen ở huyện Yên Châu.

4. Thái Trắng ở huyện Phù Yên, Mộc Châu (Sơn La) hợp cùng Thái Đen, thường gọi là Tay Thanh (Man Thanh, Tay Nhại).

5. Thái Trắng thường gọi là Tay Mương, Hàng Tổng, Tay Dọ ở mạn tây bắc Hòa Bình và Tây Thanh Hóa, Nghệ An.

Văn tự Thái bắt nguồn từ hệ chủ Sanscrít (Ấn Độ). Chữ Thái cổ Việt Nam thống nhất cách cấu tạo và đọc, nhưng lại có tám loại ký tự khác nhau, đó là: chữ Thái Đen, chữ Thái Trắng Mường Lay, chữ Thái Trắng Phong Thổ, chữ Thái Trắng Phù Yên, chữ Thái Trắng Mộc Châu, Mai Châu, Đà Bắc, chữ Thái Đen (Tay Thanh), chữ Lai Pao (Tương Dương, Nghệ An), chữ Thái Quỳ Châu (Nghệ An).

Trong giai đoạn 1954 - 1969, chữ Thái khu tự trị Tây Bắc cũ đã được cải tiến, thống nhất và mang tên Chữ Thái Việt Nam thống nhất. Từ tháng 5/2008 chữ Thái cải tiến mới được chính thức được đưa vào sử dụng, được gọi là chữ Thái Việt Nam.

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thái có nhiều kinh nghiệm, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm... Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Múa sạp trong lễ hội của người Thái tại Mai Châu, Hòa Bình
Múa quạt, người Thái tại Bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

- Người Thái có tục ở rể, vài năm sau, khi đôi vợ chồng đã có con mới về ở bên nhà chồng, nhưng bây giờ hầu như không có trừ vài trường hợp gia đình bên gái khó khăn quá.

- Cô gái thái khi lấy chồng phải búi tóc (tẳng cẩu)

Tục lệ ma chay[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thái quan niệm chết là tiếp tục "sống" ở thế giới bên kia. Vì vậy, đám ma là lễ tiễn người chết về "mường trời".

Văn hóa dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao... là những vốn quý báu của văn học cổ truyền người Thái. Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của dân tộc Thái là: Xống chụ xon xao, Khun Lú Nàng Ủa. Người Thái sớm có chữ viết nên nhiều vốn cổ (văn học, luật lệ, dân ca) được ghi chép lại trên giấy bản và lá cây. Người Thái rất thích ca hát, đặc biệt là khắp tay. khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa. Nhiều điệu múa như múa xòe, múa sạp đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn đông đảo khán giả. Hạn khuống, ném còn là hai đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái.

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Mô hình nhà người Thái Trắng (Lai Châu, Việt Nam) - Phòng trưng bày Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Điểm khác biệt nhất của nhà cửa người Thái so với người Việt và Hán là họ xây nhà sàn. Nhà người Thái trắng có khá nhiều điểm gần với nhà Tày-Nùng. Còn nhà người Thái Đen lại gần với kiểu nhà của các cư dân Môn-Khmer. Tuy vậy, nhà người Thái Đen lại có những đặc trưng không có ở nhà của cư dân Môn-Khmer: nhà người Thái Đen nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốckhau cút với nhiều kiểu khác nhau. Hai gian hồi để trống và có lan can bao quanh. Khung cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí khác nhau.

Bộ khung nhà Thái có hai kiểu cơ bản là khứ thángkhay điêng. Vì khay điêng là vì khứ kháng được mở rộng bằng cách thêm hai cột nữa. Kiểu vì này dần gần lại với kiểu vì nhà người Tày-Nùng.

Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Thái Đen khá độc đáo: các gian đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một phần dành làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp và còn là nơi để tiếp khách nam.

Những người Thái Việt Nam có danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Thái Việt Nam có danh tiếng
Tên Sinh thời Hoạt động
Đèo Cát Hãn Tk.15 Thủ lĩnh người Thái Trắng tại Mường Lễ, trong lịch sử Việt Nam xuất hiện từ thời Nhà Hồ sang thời Hậu Lê.
Đèo Văn Sinh Tk.19 Thủ lĩnh người Thái Trắng, năm 1869 nắm quyền cai quản vùng Sipsong Chuthai (mười hai xứ Thái), quê bản Nậm Dòn, xã Nậm Hàng, huyện Mường Tè, Lai Châu
Đèo Văn Trị 1849-1908 Thủ lĩnh người Thái Trắng, tên Thái là Cầm Oum, con của chúa Đèo Văn Sinh, kế thừa cai quản vùng Sipsong Chuthai, cuối thế kỷ XIX từng tham gia chống Pháp nhưng sau đó thừa nhận sự cai trị của người Pháp.
Đèo Văn Long 1887-1975 Thủ lĩnh người Thái, lãnh chúa Khu tự trị TháiLiên bang Đông Dương, con trai thứ của chúa Đèo Văn Trị
Lò Văn Sôn 1920-... Chiến sỹ Điện Biên, đại tá, nguyên phó Tham mưu trưởng Quân khu 1. Quê quán xã Chiềng Xôm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La [15]
Cầm Ngoan 1922-2007 Đại biểu Quốc hội Việt Nam 5 khóa (3 đến 7), Phó chủ tịch Quốc hội khóa 7, quê xã Tường Phù, Phù Yên, Sơn La
Hoàng Nó 1926- Tên thật Cầm Văn Lương, nhà thơ, bí thư khu uỷ Khu tự trị Tây bắc. Quê quán xã Mường Chanh, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Lò Văn Puốn 1940-... Uỷ viên BCHTW Đảng CSVN, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Lai Châu, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 10 (1996-2001), quê xã Thanh An, huyện Điện Biên [16]
Cầm Xuân Ế 1949-... Thiếu tướng phó tư lệnh Quân khu 2. Quê quán xã Tường Tiến, huyện Phù Yên tỉnh Sơn La
Lù Thị Phương 1951-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, tỉnh Lai Châu
Tòng Thị Phóng 1954-... Ủy viên Bộ Chính trị BCH TW Đảng CSVN, đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khóa 10 (1997) đến nay, quê xã Chiềng An, thành phố Sơn La.
Tống Văn Thoóng 1955-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12, tỉnh Lai Châu
Lò Văn Giàng 1956-... Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu (2010-2015), Ủy viên BCHTW Đảng CSVN khóa 11, quê Mường Lay, Điện Biên.
Vi Văn Long 1958-... Trung tướng CANDVN
Cầm Ngọc Minh 1959-... Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2016–2021. Quê quán xã Quang Huy, huyện Phù Yên tỉnh Sơn La
Lò Văn Muôn 1961-... Chủ tịch HĐND tỉnh Điện Biên, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, quê xã Noong Luống, huyện Điện Biên
Hoàng Lương 1944-2015 Phó giáo sư tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, nguyên chủ nhiệm bộ môn Dân tộc học, Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Quê quán Huy Tân, Phù Yên, Sơn La.
Hoàng Ngọc Dũng 1961-... Thiếu tướng phó tư lệnh Quân khu 2. Quê quán xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La
Lò Thanh Hay Thiếu tướng - Giám đốc công an tỉnh Sơn La. Quê quán Mộc Châu, Sơn La
Hà Thị Nga 1969-... Phó Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai khóa 14 (2015-2020).
Quàng Văn Hương 1969-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La.
Phạm Thị Hoa 1970-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, tỉnh Thanh Hóa
Tống Thanh Bình 1970-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
Vi Thị Hương 1970-... Bác sĩ, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, quê xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Lò Thị Luyến 1974-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Sa Minh Trắc 1942-... Thiếu tướng QĐNDVN, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 2. Quê xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái [17][18]
Hà Hùng Nguyên Bí thư tỉnh uỷ ĐCS Sơn La. Hiện giờ là Phó CHủ nhiệm UBKT trung ương, Quê quán: Mộc Châu, Sơn La
Quàng Văn Huyên Đại tá QĐNDVN Nguyên Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh Sơn La, Lão thành cách mạng. Quê quán: Chiềng An, TP sơn La, Sơn La
Cầm Quốc Quân Đại tá QĐNDVN Nguyên Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Sơn La. Quê quán: Mai Sơn, Sơn La.
Điêu Chính Một Đại tá QĐNDVN Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh Lai Châu. Quê quán: Mường Chiên, Quỳnh Nhai, Sơn La.
Hà Duy Hom Đại tá QĐNDVN Nguyên Chính uỷ Cục Hậu cần Bọ Tư lệnh Biên phòng. Quê quán: Tường Phong, Phù Yên, Sơn La
Tao Văn Khứn Đại tá QĐNDVN Nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Điện Biên. Quê quán: Mường Lay, Điện Biên.
Hà Văn Pâng Đại tá QĐNDVN Chỉ huy BĐBP tỉnh Sơn La. Quê quán: Chiềng Dong, Mai Sơn, Sơn La.
Cầm Văn Câu Đại tá QĐNDVN Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh Sơn La. Quê quán: Mường Chanh, Mai Sơn, Sơn La.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 19.DS99.xls
  2. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  3. ^ Người Thái tại Việt Nam không dùng chữ Thái của Thái Lan. Việc chua chữ Thái vào đây thật là khập khiễng.
  4. ^ a ă Edmondson, Jerold A. and Gregerson, Kenneth J. (2007). The Languages of Vietnam: Mosaics and Expansions, Language and Linguistics Compass, 1/6: 730.
  5. ^ Mai Lý Quảng, Glimpses of Vietnam, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 2004, tr. 89
  6. ^ Wyatt, trang 6.
  7. ^ Kết quả Tổng điều tra dân số năm 1999, tập tin 19.DS99
  8. ^ a ă Tai Dam. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  9. ^ a ă Tai Dón. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  10. ^ a ă Tai Daeng. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  11. ^ Tai Do. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  12. ^ Tai Hang Tong. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  13. ^ Tai Thanh. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  14. ^ Phu Thai. Website Ethnologue. Truy cập 05/05/2011.
  15. ^ Chuyện chiến sĩ Điện Biên đánh giặc bằng dao cùn, súng cũ. VTC, 5/10/2013. Truy cập 5/10/2017.
  16. ^ Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa VIII
  17. ^ Ngời sáng một tấm gương. Baoyenbai, 14/10/2016. Truy cập 01/04/2018.
  18. ^ Thiếu tướng về với đời thường. Cựu chiến binh VN, 02/02/2012. Truy cập 01/04/2018.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]