Khu tự trị Thái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cảnh báo: Giá trị không được liệt kê cho "tên thông thường"
Mười hai xứ Thái
Sip Song Chau Tai

Khu tự trị Thái (1948 - 1955)

 

1948–1955
Quốc kỳ Quốc huy
Hiệu kỳ Quốc huy
Thủ đô Mường So
Ngôn ngữ Tiếng Thái
Tiếng Pháp
Tiếng Việt
Chính thể Khu vực tự trị
Lịch sử
 - Thành lập 1948
 - Giải thể 1955

Xứ Thái (tiếng Pháp: Pays taï, tiếng Thái : สิบสองเจ้าไต / สิบสองจุไทย / Sip Song Chau Tai, Mười hai xứ Thái), còn gọi là Liên bang Thái (tiếng Pháp: Fédération thaï) hay Khu tự trị Thái, là một lãnh thổ hành chính tự trị tồn tại trên vùng lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam từ năm 1948 đến năm 1954. Từ năm 1955, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho thành lập Khu tự trị Tây Bắc trên cơ sở của Khu tự trị Thái cho đến khi giải thể hoàn toàn vào năm 1976.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc Thái trên lãnh thổ Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history", người Thái xuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng. Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía đông và bắc, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam. Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13[1]. Trung tâm của họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh). Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam Á bây giờ như Lào, Thái Lan, bang Shan ở Miến Điện và một số vùng ở đông bắc Ấn Độ cũng như nam Vân Nam[2].

Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067. Trong thế kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần. Năm 1337 lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo cai quản. Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mương Lễ, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (Sơn La) Đèo Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu. Năm 1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ : An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu.

Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ tạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trở thành giai cấp quí tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc; dòng họ Hà cai quản châu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận; họ Hoàng ở châu Việt...

Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủ Điện Biên.

Mười hai xứ Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Đèo Văn Trị, lãnh chúa xứ Thái

Năm 1890, Auguste Pavie, lúc bấy giờ là đại diện của Pháp tại Luang Prabang đề nghị với chính phủ bên chính quốc công nhận Đèo Văn Trị, một thủ lĩnh người Thái Trắng, sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào, được làm lãnh chúa xứ Thái vùng Sip Song Chau Tai.[3]. Triều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trị chức tri châu, được phép thế tập (cha truyền con nối) tại Điện Biên, cai quản đạo Lai Châu, cai quản một lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ. Mười hai xứ Thái bấy giờ được xác định gồm:

Liên bang Thái tự trị[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thập niên 1940 khi tình hình Chiến tranh Pháp-Việt ngày càng lan rộng, người Pháp quyết định tách xứ Thái ra khỏi Bắc Kỳ và chính thức thiết lập Khu tự trị Thái vào Tháng Bảy năm 1948. Nằm trong đơn vị này là các sắc dân Lô Lô, Khơ-mú, DaoH'Mông đều thuộc quyền cai quản của lãnh chúa Thái.[4] Chủ tâm của người Pháp là để tranh thủ sự ủng hộ của dân địa phương trong khi đánh dẹp Việt Minh.[5]

Khu tự trị Thái bao gồm tỉnh Lai Châu, Sơn LaPhong Thổ.[3] Thủ phủ đặt ở thị xã Lai Châu cũ, nay là thị xã Mường Lay.[6] Tiếng Tháitiếng Pháp là hai ngôn ngữ chính thức của xứ Thái.[7]

Khu tự trị Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950 dưới chính thể Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại, chiếu theo Dụ số 6 ký ngày 15 Tháng Tư thì Khu tự trị Thái được gom vào cùng với tỉnh Hải NinhXứ Thượng Nam Đông DươngCao nguyên Trung phần để thành Hoàng triều Cương thổ (tiếng Pháp: Domaine de la Couronne).[8] Theo đó thì xứ Thái có vị khâm mạng cai trị nhân danh hoàng đế Bảo Đại.[9]

Cáo chung[sửa | sửa mã nguồn]

Khi người Pháp thất trận tại Đông Dương khu tự trị này tan rã.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan lập pháp do người Pháp dựng lên là hội đồng đại biểu của các châu; nhiệm kỳ là bốn năm.[7]

Về hành pháp có chủ tịch hành pháp xứ Thái do các đại biểu tri châu, tri trưởng bầu lên với 2/3 số phiếu; chức vụ này có nhiệm kỳ năm năm. Chủ tịch hành pháp có một cố vấn người Pháp giúp sức.[7]

Tư pháp thì chiếu theo tục lệ cổ truyền.[7]

Tên gọi qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các đời lãnh chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ hiệu của chúa Đèo Cầm Công.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mai Lý Quảng, Glimpses of Vietnam, NXB Thế Giới, Hà Nội 2004, tr. 89
  2. ^ Wyatt, trang 6.
  3. ^ a ă Evans, Grant et al. Where China Meets Southeast Asia: social & cultural change in the border regions. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2000. tr 106-109.
  4. ^ Michaud, Jean. Historical dictionary of the peoples of the Southeast Asian massif. Lanham, MD: Scarecrow Press, 2006. tr 228.
  5. ^ Ellinwood, DeWitt. Ethnicity and the military in Asia. New Brunswick, NJ: Transaction, 1981. tr 156.
  6. ^ White Tai or Tai Don
  7. ^ a ă â b Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 401-449
  8. ^ Luong, Hy. Postwar Vietnam: dynamics of a transforming society. Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 2003. tr 134.
  9. ^ Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 569-612.