Khu tự trị Nùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Territoire Autonome Nung
Khu tự trị Nùng

1947–1954
Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Thủ đô Móng Cái
Ngôn ngữ Tiếng Ngái
Tiếng Khách Gia
Tiếng Quảng Đông
Tiếng Sán Dìu
Tiếng Pháp
Tiếng Việt
Chính quyền Đặc khu
Lịch sử
 •  Thành lập 1947
 •  Giải thể 1954

Xứ Nùng (tiếng Pháp: Pays Nung), hoặc Khu tự trị Nùng (tiếng Pháp: Territoire Autonome Nung) là một đơn vị hành chính ở Bắc Kỳ vào cuối thời Pháp thuộc. Văn bản quy định xứ Nùng ra mắt năm 1947.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khu tự trị Nùng Hải Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Khu này gồm Hà Cối, Tiên Yên, Đầm Hà, Ba Chẽ, Bình Liêu, Đình Lập, Hải Ninh, với Móng Cáithủ phủ.[1] Đơn vị này được lập năm 1947 đến năm 1950 thì gom vào Hoàng triều Cương thổ thuộc quyền Quốc trưởng Bảo Đại theo đạo dụ số 6 ký ngày 15 Tháng Tư.[2] Lãnh tụ Nùng là Đại tá Voòng A Sáng.[3]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Khu tự trị Nùng có Hội đồng Lãnh thổ là cơ quan lập pháp. Cơ quan này gồm các đại biểu dân cử chiếu theo tỷ lệ 1000 dân cư thì được bầu lên một đại biểu. Hành pháp có Hội đồng cai trị thường trực. Tư pháp thì chiếu theo luật pháp chung của Việt Nam.[4] Điểm này khác hẳn khu tự trị Thái đương thời, nơi luật truyền thống của người Thái được dùng làm luật căn bản.

Giải tán[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Trận Điện Biên Phủ, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp thu toàn phần đất nước Việt Nam phía bắc vĩ tuyến 17 thì Khu tự trị Nùng cũng bị giải tán. Đơn vị hành chính này chỉ tồn tại tổng cộng bảy năm: 1947-1954.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB6/lien.pdf Các cộng đồng người Hoa...
  2. ^ Luong, Hy. Postwar Vietnam: dynamics of a transforming society. Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 2003. tr 134.
  3. ^ Ra mắt sách "Người Nùng và Khu Tự Trị Hải Ninh Việt Nam"
  4. ^ Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 401-449