Văn Chấn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Văn Chấn

Huyện
WAVES - panoramio.jpg
Hành chính
VùngTây Bắc Bộ
TỉnhYên Bái
Huyện lỵthị trấn Sơn Thịnh
Phân chia hành chính3 thị trấn, 21 xã
Địa lý
Tọa độ: 21°33′42″B 104°35′19″Đ / 21,56167°B 104,58861°Đ / 21.56167; 104.58861Tọa độ: 21°33′42″B 104°35′19″Đ / 21,56167°B 104,58861°Đ / 21.56167; 104.58861
Diện tích1.129,90 km²[1]
Dân số (2019)
Tổng cộng116.804 người
Mật độ103 người/km²
Khác

Văn Chấn là một huyện nằm ở phía đông nam tỉnh Yên Bái, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Văn Chấn nằm ở phía nam tỉnh Yên Bái. Huyện lỵ là thị trấn Sơn Thịnh nằm trên quốc lộ 32, cách thị xã Nghĩa Lộ khoảng 10 km về hướng Bắc và thành phố Yên Bái 70 km về hướng tây, có vị trí địa lý:

Huyện Văn Chấn có diện tích 1.129,90 km², dân số năm 2019 là 116.804 người, mật độ dân số đạt 103 người/km².[1]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Suối nước khoáng tại Văn Chấn, phía xa mờ là dãy núi nơi có đặc sản chè Suối Giàng

Huyện Văn Chấn có 24 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: Sơn Thịnh (huyện lỵ), Nông trường Liên Sơn, Nông trường Trần Phú và 21 xã: An Lương, Bình Thuận, Cát Thịnh, Chấn Thịnh, Đại Lịch, Đồng Khê, Gia Hội, Minh An, Nậm Búng, Nậm Lành, Nậm Mười, Nghĩa Sơn, Nghĩa Tâm, Sơn Lương, Sùng Đô, Suối Bu, Suối Giàng, Suối Quyền, Tân Thịnh, Thượng Bằng La, Tú Lệ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Chấn vốn là một châu thuộc khu tự trị Tây Bắc rồi từ năm 1962 đến năm 1975, thuộc tỉnh Nghĩa Lộ.

Sau năm 1975, huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm 3 thị trấn nông trường: Liên Sơn, Nghĩa Lộ, Trần Phú và 32 xã: An Lương, Bản Hẻo, Bình Thuận, Cát Thịnh, Chấn Thịnh, Đại Lịch, Đồng Khê, Gia Hội, Hạnh Sơn, Minh An, Nậm Búng, Nậm Lành, Nậm Mười, Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc, Nghĩa Sơn, Nghĩa Tâm, Phù Nham, Phúc Sơn, Sơn A, Sơn Lương, Sơn Thịnh, Sùng Đô, Suối Bu, Suối Giàng, Suối Quyền, Tân Thịnh, Thạch Lương, Thanh Lương, Thượng Bằng La, Tú Lệ.

Ngày 23 tháng 2 năm 1977, chuyển xã Bản Hẻo thành thị trấn nông trường Bản Hẻo, huyện Văn Chấn có 4 thị trấn và 31 xã.

Ngày 4 tháng 3 năm 1978, thị xã Nghĩa Lộ được sáp nhập vào huyện Văn Chấn và chuyển thành thị trấn Nghĩa Lộ, thị trấn huyện lỵ huyện Văn Chấn. Huyện Văn Chấn có 5 thị trấn và 31 xã.

Tháng 10 năm 1989, giải thể thị trấn nông trường Bản Hẻo và sáp nhập toàn bộ diện tích vào thị trấn nông trường Liên Sơn.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Yên Bái từ tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ, huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Yên Bái.

Đến ngày 15 tháng 5 năm 1995, thị trấn Nghĩa Lộ được tách ra để tái lập thị xã Nghĩa Lộ, huyện lỵ huyện Văn Chấn được dời về xã Sơn Thịnh.

Ngày 24 tháng 12 năm 2003, chuyển 3 xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc về thị xã Nghĩa Lộ quản lý.

Đến cuối năm 2019, huyện Văn Chấn có diện tích 1.207,37 km², dân số là 153.822 người, mật độ dân số đạt 127 người/km², có 31 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: Nông trường Liên Sơn, Nông trường Nghĩa Lộ, Nông trường Trần Phú và 28 xã: An Lương, Bình Thuận, Cát Thịnh, Chấn Thịnh, Đại Lịch, Đồng Khê, Gia Hội, Hạnh Sơn, Minh An, Nậm Búng, Nậm Lành, Nậm Mười, Nghĩa Sơn, Nghĩa Tâm, Phù Nham, Phúc Sơn, Sơn A, Sơn Lương, Sơn Thịnh, Sùng Đô, Suối Bu, Suối Giàng, Suối Quyền, Tân Thịnh, Thạch Lương, Thanh Lương, Thượng Bằng La, Tú Lệ.

Ngày 10 tháng 1 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết 871/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Yên Bái.[1] Theo đó:

  • Điều chỉnh toàn bộ 77,47 km² diện tích tự nhiên và 37.018 người thuộc 6 xã: Phù Nham, Sơn A, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thanh Lương, Thạch Lương và thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ về thị xã Nghĩa Lộ quản lý
  • Thành lập thị trấn Sơn Thịnh, thị trấn huyện lỵ huyện Văn Chấn trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Sơn Thịnh.

Huyện Văn Chấn có 3 thị trấn và 21 xã như hiện nay.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Chấn có nguồn suối khoáng nước nóng ở địa bàn 2 xã Sơn Thịnh và Sơn A có thể khai thác phục vụ nghỉ dưỡng và tắm khoáng, nằm gần đó là khu vực Suối Giàng với loại chè Suối Giàng ngon có tiếng.

Các đặc sản của Văn Chấn nổi tiếng với xôi nếp Tú Lệ, chè tuyết cổ thụ Suối Giàng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Nghị quyết số 871/NQ-UBTVQH14 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “NQ871” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]