Người Thổ (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Thổ
Tổng số dân
68.394[1]
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam: phía tây tỉnh Nghệ An
Ngôn ngữ
Tiếng Việt, tiếng Thổ
Tôn giáo
Phật giáo, vật linh

Người Thổ là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Thổ có các tên gọi khác như Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng v.v.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Do quá trình cấu kết dân tộc diễn ra với nhiều giai đoạn khác nhau nên thành phần cấu thành của dân tộc Thổ rất đa dạng, vì vậy không tồn tại 1 thứ tiếng Thổ đơn nhất, tuy nhiên tất cả các nhóm Thổ đều có ngôn ngữ gốc thuộc ngữ chi Việt trong ngữ hệ Nam Á [2]

  • Nhóm Thổ Cuối, Tày Poọng, Ly Hà được cho là nhóm bản địa tại miền Tây Nghệ An, ngôn ngữ của họ có liên hệ gần gũi với các nhóm Tày Chăm, Tày Pum, Tày Hung, Tày Tum tại vùng biên giới Việt-Lào, Nhóm các ngôn ngữ này tạo thành 1 ngành riêng trong ngữ chi Việt ngành này song song tồn tại với các ngành Việt-MườngChức. Tuy nhiên ngôn ngữ Tày Poọng hiện nay đang dần mai một, người Tàu Poọng hiện nay đang dần chuyển sang nói tiếng Thái và tiếng Việt
  • Nhóm Thổ Mọn được cho là có nguồn gốc người Mường di cư từ Thanh Hóa vào, ngôn ngữ của họ tương đồng khoảng 80% với tiếng Mường Bi vì vậy tiếng Thổ Mọn được coi là 1 phương ngữ của tiếng Mường, trong ngữ chi Việt
  • Nhóm Thổ Kẹo và Đan Lai hầu hết sử dụng tiếng Việt dù ngôn ngữ và văn hóa của họ cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ người Cuối và người Thổ Mọn. Họ được cho là có nguồn gốc từ người Việt từ đồng bằng di cư lên miền núi, hòa trộn và đồng hóa với 1 bộ phận người Cuối, Thổ Mọn đã sinh sống tại đây từ trước.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thổ có khoảng 69.000 người, chủ yếu sinh sống tại miền tây tỉnh Nghệ An (80 %) và tỉnh Thanh Hóa (13 %).

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thổ ở Việt Nam có dân số 74.458 người, có mặt tại 60 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Thổ cư trú tập trung tại tỉnh Nghệ An (59.579 người, chiếm 80,0% tổng số người Thổ tại Việt Nam), Thanh Hóa (9.652 người, chiếm 13,0% tổng số người Thổ tại Việt Nam), Lâm Đồng (966 người), Đồng Nai (657 người), Đắk Lắk (541 người), Bình Dương (510 người), thành phố Hồ Chí Minh (362 người), Điện Biên (226 người), Đắk Nông (216 người), Hà Nội (211 người)[3]...

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thổ làm rẫy trên cả đất dốc, cả đất bằng, trồng lúagai là chính. Trong canh tác lúa, ngoài cách thức chọc lỗ tra hạt, người Thổ còn gieo vãi và dùng cày, bừa để lấp đất sau khi gieo. Cây gai cho sợi đan nhiều vật dụng cần thiết: túi, võng, lưới bắt cá, vó, lưới săn thú, v.v. Một tấm lưới săn thú cần đến 30–40 kg sợi gai.

, chim, thú là nguồn thực phẩm quan trọng đối với người Thổ, họ có kinh nghiệm săn bắn, đánh bắt cá. Bên cạnh đó, rừng cung cấp các loại rau, quả, củ làm thức ăn thông thường cũng như khi đói kém. Người Thổ trước đây có nghề dệt vải nhưng do điều kiện canh tác cũng như sự giao lưu với người Kinh đã làm cho nghề dệt bị mai một dần[cần dẫn nguồn].

Tổ chức cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong làng người Thổ, quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau là nếp sống lâu đời. Theo tục cũ, toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối là của chung dân gian, mỗi người được quyền quản lý khi đang gieo trồng, được quyền khai thác khi là dân sống trong làng.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thổ có tục "ngủ mái": nam nữ thanh niên được nằm tâm tình với nhau, nhất là vào dịp tết, lễ hội, tuy nhiên không được có hành vi thiếu đúng đắn bởi dư luận và luật tục rất nghiêm minh. Từ những đêm "ngủ mái", họ chọn bạn trăm năm. Trong hôn nhân, nhà trai phải tốn không ít tiền của và trước khi cưới, chàng trai phải năng đến làm việc cho nhà vợ tương lai.

Tục lệ ma chay[sửa | sửa mã nguồn]

Đám tang của người Thổ trước kia có nhiều nét độc đáo. Họ dùng quan tài độc mộc, khiêng người chết đi chôn thì để chân hướng về phía trước, còn mộ thường để chân hướng xuôi theo chiều nước chảy.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Xưa kia người Thổ có nhiều ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ, các điệu ca hát của người lớn, những bài đồng dao của trẻ, đặc biệt là những điệu hát ru, v.v. Song vốn văn nghệ dân gian Thổ đến nay đã bị quên lãng, mất mát nhiều.

Cứ vào dịp hội hè lễ tết thì người Thổ lại tập trung nhau lại các đôi trai gái lai cùng nhau uống rượu cần, cùng hát múa, tiếng cồng chiêng hoà chung với những câu hát đối tạo nên những âm thanh vang vọng trong đêm hội. Chiêng của người Thổ giống với người Thái, mương về cấu tạo nhưng họ lại có những điệu đánh khác hẳn. Người Thổ có những câu hát dối rất đặc sắc[cần dẫn nguồn].

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Thổ quen sống trên nhà sàn, nhưng nhà của họ không có gì đặc biệt. ở vùng Lâm La nhà sàn của người Thổ giống hệt nhà người Mường. Ở những xã phía Nam, nhà người Thổ lại giống nhà người Thái. Nay nhiều nơi người ta đã chuyển sang nhà ở đất theo kiểu nhà người Việt.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Khó nhận ra cá tính tộc người. Đồ mặc có nơi giống như y phục của người Kinh nông thôn nửa thế kỷ về trước, có nơi phụ nữ dùng cả váy mua của người Thái. Ở vùng Thổ phổ biến tập quán phụ nữ đội khăn vuông trắng, còn khăn tang là khăn trắng dài.

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ điều tra dân số 1999, tập tin 40.DS99.xls
  2. ^ “Dân tộc Thổ - nguồn gốc và quá trình tộc người”. 
  3. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]