Đồng Nai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đồng Nai
Logo Dong Nai.png
Biểu trưng
Một nhánh sông Đồng Nai chảy qua cù lao Phố.jpg
Cầu Ghềnh bắc qua sông Đồng Nai
Địa lý
Tọa độ: 11°03′16″B 107°08′49″Đ / 11,05443°B 107,146912°Đ / 11.05443; 107.146912Tọa độ: 11°03′16″B 107°08′49″Đ / 11,05443°B 107,146912°Đ / 11.05443; 107.146912
Diện tích 5.875,2 km²
Dân số (2018)  
 Tổng cộng 3.124.350 người
 Thành thị 45%
 Nông thôn 55%
 Mật độ 1.560 người/km²
Dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Xtiêng, Chơ-ro, Chăm
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng

Đông Nam Bộ (địa lý)

Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị)
Tỉnh lỵ Thành phố Biên Hòa
Thành lập 1970
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Đinh Quốc Thái
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Phú Cường
 Chánh án TAND Võ Văn Phước
 Viện trưởng VKSND Huỳnh Văn Lưu
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Phú Cường
 Trụ sở UBND 2 Nguyễn Văn Trị, P. Thanh Bình, TP. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Đại biểu quốc hội 11
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã, 9 huyện
Mã hành chính VN-39
Mã bưu chính 81xxxx
Mã điện thoại 251
Biển số xe 60, 39
Website Tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Đây là tỉnh có dân số đông thứ nhì ở miền Nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh) có diện tích lớn thứ nhì ở Đông Nam Bộ (sau Tỉnh Bình Phước) và thứ ba ở miền Nam (sau Tỉnh Bình PhướcTỉnh Kiên Giang). Đồng Nai có thành phố Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước. Đồng Nai có dân số đông thứ 5 cả nước và có dân số đô thị đứng thứ 4 (sau TP.HCM,Hà Nội và Hải Phòng).

Tỉnh lỵ của Đồng Nai hiện nay là thành phố Biên Hòa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách Hà Nội 1.684 km theo đường Quốc lộ 1A. Tỉnh được xem là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Đồng thời, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai. Dân cư tập trung phần lớn ở TP. Biên Hòa với hơn 1 triệu dân và ở 2 huyện Trảng Bom, Long Thành.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích tự nhiên là 5.907,2 km². Đồng Nai có tọa độ từ 10o30’03 đến 11o34’57’’B và từ 106o45’30 đến 107o35’00"Đ. Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng TàuThành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Lâm ĐồngBình Dương, Tây bắc giáp tỉnh Bình Phước.[1]. Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh và là một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ[2].

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên
Núi Chứa Chan ở huyện Xuân Lộc

Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15o. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới. Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30,4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2,1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5,4%[3].

Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27 °C, nhiệt độ cao cực trị khoảng 40 °C và thấp cực trị 12,5 °C và số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình luôn cao 80 – 82%[3].

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng[3],…

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai
Trung tâm thị xã Long Khánh
Thị trấn Trảng Bom, H.Trảng Bom
Thị trấn Gia Ray, H.Xuân Lộc
Rừng cây cao su ở H.Long Thành
Cầu Đồng Nai trên xa lộ Biên Hòa
(hình chụp năm 1961)

Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ ải Nam Quan đến vùng Bắc Đèo Ngang (Hà Tĩnh ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa láng giềng lúc bấy giờ.

Để mở rộng bờ cõi về phía Nam, nước Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.

Nước Việt Nam lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua - Chúa TrịnhChúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.

Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.

Năm 1679, nhà MinhTrung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa NguyễnThuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Tần đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.

Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.

Năm 1802, dinh Trấn Biên được vua Gia Long đổi thành trấn Biên Hòa, nhưng vẫn thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành Gia Định, đặt Phước Long thành phủ, đặt ra các tổng Phước Chính, Phước An, Bình An, Long Thành làm huyện. Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Biên Hoà. Năm 1837, lập thêm hai phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, Long Khánh, Phước Bình.

Vào năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân LợiTân Thuận. Năm 1851, Vua Tự Đức nhập hai huyện Phước BìnhLong Khánh vào các phủ Phước Long và Phước Tuy. Năm 1882, sau khi Hòa ước Nhâm Tuất được ký, lúc này triều đình Nhà Nguyễn cắt đất giao 3 tỉnh Gia Định, Định TườngBiên Hoà cho Pháp. Sau đó, Pháp chia Biên Hòa thành ba tỉnh là Biên Hòa, Thủ Dầu MộtBà Rịa. Đến thời Việt Nam Cộng hòa, đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy.

Đầu năm 1975, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.

Năm 1976, Thị xã Biên Hòa được nâng cấp thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ban đầu, tỉnh Đồng Nai có tỉnh lị là thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 9 huyện: Châu Thành, Duyên Hải, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất vào thành phố Biên Hòa[4].

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ) về thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI[5].

Ngày 30 tháng 5 năm 1979, tách thị xã Vũng Tàu để thành lập đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo[6].

Ngày 23 tháng 12 năm 1985, chuyển huyện Vĩnh Cửu thành thị xã Vĩnh An[7].

Ngày 10 tháng 4 năm 1991, chia huyện Xuân Lộc thành 2 huyện: Xuân LộcLong Khánh; chia huyện Tân Phú thành 2 huyện: Tân PhúĐịnh Quán[8].

Đến năm 1991, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Biên Hòa (tỉnh lị), thị xã Vĩnh An và 9 huyện: Châu Thành, Định Quán, Long Đất, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Đồng Nai thành 2 tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu[9]:

Năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 2, trực thuộc tỉnh Đồng Nai.

Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chia huyện Long Thành thành 2 huyện: Long ThànhNhơn Trạch. Cùng năm, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc huyện Định Quán[10].

Ngày 29 tháng 8 năm 1994, giải thể thị xã Vĩnh An để thành lập lại huyện Vĩnh Cửu[11].

Ngày 21 tháng 8 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2003/NĐ - CP, thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc thị xã Long Khánh, thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom[12].

Ngày 5 tháng 2 năm 2010, điều chỉnh địa giới thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành[13].

Năm 2014, thị xã Long Khánhhuyện Xuân Lộc được công nhận là 2 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới đầu tiên của cả nước

Ngày 30 tháng 12 năm 2015, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 1thị xã Long Khánhđô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Đồng Nai.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện, được phân chia thành 171 đơn vị hành chính cấp xã gồm có 29 phường, 6 thị trấn và 136 xã.

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Biên Hòa
Thị xã
Long Khánh
Huyện
Trảng Bom
Huyện
Long Thành
Huyện
Nhơn Trạch
Huyện
Xuân Lộc
Huyện
Định Quán
Huyện
Tân Phú
Huyện
Thống Nhất
Huyện
Cẩm Mỹ
Huyện
Vĩnh Cửu
Diện tích (km²) 264,08 195 326,11 431,01 411 725,84 966,5 774 247,2 468 1.092,01,21
Dân số (người) 1.250.000 215.040 432.270 405.120 351.030 253.140 225.160 170.670 165.280 158.010 153.530
Mật độ dân số 5377 1103 1883 1379 1204 458 443 386 830 390 380
Số đơn vị hành chính 23 phường, 7 xã 6 phường, 9 xã 16 xã, 1 thị trấn 14 xã, 1 thị trấn 12 xã 14 xã, 1 thị trấn 13 xã, 1 thị trấn 17 xã, 1 thị trấn 10 xã 13 xã 11 xã, 1 thị trấn
Năm thành lập 1976 2003 2003 1994 1994 1991 1991 1991 2003 2003 1994

Biển số xe[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1/ Thành phố Biên Hòa:
    60-AA • 60-B1-F1-F2-F3
    39-F1-F2-F3-F4-F5-F6-T1
  • 2/ Thị xã Long Khánh: 60-AB; 60-B2
  • 3/ Huyện Tân Phú: 60-AC; 60-B3
  • 4/ Huyện Định Quán: 60-AD; 60-B4
  • 5/ Huyện Xuân Lộc: 60-AE; 60-B5
  • 6/ Huyện Cẩm Mỹ: 60-AF; 60-B6
  • 7/ Huyện Thống Nhất: 60-AH; 60-B7
  • 8/ Huyện Trảng Bom: 60-AK; 60-B8-H1
  • 9/ Huyện Vĩnh Cửu: 60-AL; 60-B9
  • 10/ Huyện Long Thành: 60-AM; 60-C1-G1
  • 11/ Huyện Nhơn Trạch: 60-AN; 60-C2

Hiện nay, Biên Hòa đã chuẩn bị lên biển số 60-F4 do dân số ngày càng đông và nhu cầu sử dụng của người dân ngày càng nhiều. Thống kê trung bình của mỗi nhà ở thành phố có từ 2 đến 3 xe máy hay tay ga.

Bênh cạnh Biên Hòa, Trảng Bom và Long Thành cũng là hai địa phương có lượng xe cơ giới lớn do sự phát triển của các địa phương và nhu cầu của người sử dụng. Huyện Trảng Bom và huyện Long Thành là 2 địa phương cấp huyện đầu tiên vượt qua mã biển số lần thứ 2 cụ thể là 60-H1 và 60-G1 của Đồng Nai nói riêng và khu vực phía Nam nói chung.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ – vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Trong đó, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai. Đồng Nai có nhiều cụm công nghiệp nghề truyền thống và hơn 32 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đi vào hoạt động như Long Thành, An Phước, Nhơn Trạch II, Biên Hòa II, Amata,...[14]

Năm 2011, mặc dù kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tăng vẫn 13,32% so với năm 2010, trong đó, dịch vụ tăng 14,9%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9% công nghiệp - xây dựng tăng 14,2%[15].

Quy mô GDP năm 2011 toàn tỉnh đạt 96.820 tỷ đồng[16], GDP thu nhập bình quân đầu người|bình quân đầu người đạt 36,6 triệu đồng, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh hầu hết đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 7,5%, dịch vụ chiếm 35,2%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 9,8 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ, thu ngân sách trên địa bàn đạt 22.641,2 tỷ đồng. đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 900 triệu USD, vốn đầu tư trong nước đạt 15.000 tỷ đồng...Cũng trong năm 2011, toàn tỉnh có 5.200 lượt hộ nghèo được vay vốn với số tiền 67 tỷ đồng. Số hộ nghèo năm 2011 giảm 7.800 hộ, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%[15].

Trong 9 tháng đầu năm 2012, theo đánh giá, hầu hết các lĩnh vực đều tăng chậm hơn so với cùng kỳ các năm trước do ảnh hưởng từ những khó khăn chung của nền kinh tế trong và ngoài nước, ngoại trừ lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng mạnh[17]. Sản xuất công nghiệp trong 9 tháng tăng hơn 7% với 12 ngành công nghiệp tăng và 4 ngành giảm. Tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 11,87% so với cùng kỳ năm 2012, đạt trên 70% kế hoạch, trong đó lĩnh vực dịch vụ tăng cao nhất với 14,51% so với cùng kỳ. Ngoài ra, tổng mức bán lẻ tăng 20% so với 9 tháng đầu năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng tăng 6.14% so với cuối năm 2011. Xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 đạt trên 7,9 tỷ USD, nhập khẩu đạt hơn 7,5 tỷ USD.[17].

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát triển dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
Năm Số dân
(người)
1995
1.884.800
2000
2.054.100
2005
2.263.800
2009
2.499.700
1996
1.882.200
2001
2.093.700
2006
2.314.900
2010
2.575.100
1997
1.920.000
2002
2.132.200
2007
2.372.600
2011
2.665.100
1998
1.959.300
2003
2.176.100
2008
2.432.700
2016
2.963.800
1999
1.999.500
2004
2.220.500

Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Đồng Nai đạt 2.963.800 người, mật độ dân số đạt 505 người/km²

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đồng Nai có 13 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Công giáo có 797.702 người, Phật giáo có 339.623 người, Đạo Cao Đài có 13.978 người, các tôn giáo khác như Tin Lành có 11.577 người, Hồi giáo 2.868 người, Phật giáo hòa hảo có 1.514 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 118 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 36 người, Minh Sư Đạo có 39 người, Bahá'í có 63 người, Bà-la-môn có 15 người, Minh Lý Đạo có 12 người, còn lại là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có hai người[18].

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đồng Nai có 51 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó người Kinh có 2.311.315 người, người Hoa có 95.162 người, người Nùng có 19.076 người, người Tày có 15.906 người, người Khmer có 7.059 người, còn lại là những dân tộc khác như Mường, Dao, Chăm, Thái... Ít nhất là người Si LaƠ Đu chỉ có một người[18]...

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Đồng Nai [19].

Tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua dài 87,5 km với 8 ga: Biên Hoà, Hố Nai, Trảng Bom, Dầu Giây, Long Khánh, Bảo Chánh, Gia RayTrảng Táo. Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh[20]. Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cửa ngõ đường hàng không vào Việt Nam cho khu vực Đông Nam Á và thế giới.[21] Về giao thông đường thủy thì trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 3 khu cảng gồm có Khu cảng trên sông Đồng Nai, Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu, và Khu cảng trên sông Thị Vải. Trong đó Khu cảng trên sông Đồng Nai gồm có các cảng là Cảng Đồng Nai, cảng SCTGAS-VN và cảng VTGAS (sử dụng bốc xếp hàng lỏng quy mô cho tàu 1000 DWT), Cảng tổng hợp Phú Hữu II, Cảng tại khu vực Tam Phước, Tam An. Các cảng tại Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu gồm có cảng gỗ mảnh Phú Đông, cảng xăng dầu Phước Khánh, cảng nhà máy đóng tàu 76, cảng tổng hợp Phú Hữu 1, cảng cụm Công nghiệp Vật liệu xây dựng Nhơn Trạch, cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh, cảng VIKOWOCHIMEX, cảng Sun Steel – China Himent, và các cảng chuyên dùng khác. Các cảng Khu cảng trên sông Thị Vải gồm có cảng Phước An, cảng Phước Thái, cảng Gò Dầu A, cảng Gò Dầu B, cảng Super Photphat Long Thành, cảng nhà máy Unique Gas.

Y tế & Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trường THPT Trấn Biên
ở thành phố Biên Hòa

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011 trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai có 635 trường học, trong đó có Trung học phổ thông có 70 trường, Trung học cơ sở có 226 trường, Tiểu học có 316 trường, trung học có 20 trường, có 3 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 291 trường mẫu giáo[22]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[22].

Ở một số huyện, thị, thành phố có các trường điểm, nổi tiếng có nhiều học sinh ưu tú từ đây cống hiến cho quê hương đất nước như: THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, THCS Trần Hưng Đạo, THCS Thạnh Phú, THCS Lê Quý Đôn, THPT Chuyên Lương Thế Vinh, THPT Ngô Quyền, THPT Long Khánh...

Một số trường Đại học, Cao đẳng, THPT, THCS và Tiểu học[sửa | sửa mã nguồn]

Stt Tên trường Hệ cấp Địa điểm Stt Tên trường Hệ cấp Địa điểm
1
Lương Thế Vinh
THPT[23]
Chuyên
Biên Hòa
23
Ngô Thời Nhiệm
THCS[24]
Đinh Quán
2
Ngô Quyền
THPT
Biên Hòa
24
Lê Thánh Tông
nt
nt
3
Nam Hà
THPT
Biên Hòa
25
Lê Lợi
THCS
Biên Hòa
4
Lê Hồng Phong
THPT
Biên Hòa
26
Trần Hưng Đạo
THCS
Biên Hòa
5
Đồng Nai
PTTH
SPĐH[25]
Biên Hòa
27
Nguyễn Bỉnh Khiêm
THCS
Biên Hòa
6
Trấn Biên
THPT
Biên Hòa
28
Võ Trường Toản
THCS
Vĩnh Cửu
7
Tam Hiệp
THPT
Biên Hòa
29
Cẩm Đường
nt
Long Thành
8
Nguyễn Hữu Cảnh
THPT
Biên Hòa
30
Lê Quý Đôn
nt
Long Khánh
9
Long Khánh
THPT
Long Khánh
31
Hùng Vương
THCS
Trảng Bom
10
Thống Nhất A
nt
Trảng Bom
32
Lê Quang Định
THCS
Biên Hòa
11
Vĩnh Cửu
nt
Vĩnh Cửu
33
Lục Quân 2
Đại học
Biên Hòa
12
Long Thành
nt
Long Thành
34
Đồng Nai
nt
nt
13
Nhơn Trạch
nt
Nhơn Trạch
35
Lạc Hồng
Đại Học
Biên Hòa
14
Chu Văn An
THPT
Biên Hòa
36
Đồng Nai
ĐHLN[26]
Trảng Bom
15
Tân Phú
nt
Đinh Quán
37
Đồng Nai
ĐHCN[27]
Biên Hòa
16
Định Quán
nt
nt
38
Miền Đông
nt
Thống Nhất
17
Thạnh Phú
Tiểu học
Vĩnh Cửu
39
Đồng Nai
Cao đẳng
Y tế
Biên Hòa
18
Tân Mai
Tiểu học
Biên Hòa
40
Sonadezi
Biên Hòa
Cao đẳng
CN&QT[28]
19
An Hòa
nt
nt
41
Đồng Nai
Cao đẳng
MT&TT[29]
nt
20
Thạnh Phú
THCS
Vĩnh Cửu
42
Đồng Nai
Cao đẳng
KTCN[30]
nt
21
An Bình
nt
Biên Hòa
43
Hòa Bình
TCDN[31]
Trảng Bom
22
Hòa Hưng
nt
nt
44
Số 8/BQP
CĐDN[32]
nt

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai là một trong những tỉnh có vị trí gần Thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong các lĩnh vực công nghệ khoa học, trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển. Cho đến nay, Đồng Nai đã thành lập được 11 bệnh viện tuyến huyện trên 11 huyện, thị xã và thành phố Biên Hòa.

Danh sách bệnh viện tại Đồng Nai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất
    (Bệnh viện Thánh Tâm)
  • Bệnh viện Tâm thần Trung ương II
    (còn gọi là bệnh viện Biên Hòa)
  • Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai
  • Bệnh viện Phổi tỉnh
  • Bệnh viện Y học cổ truyền
  • Bệnh viện 7B
  • Bệnh viện Da liễu Tỉnh
  • Bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark
  • Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai
  • Bệnh viện Đồng Nai
  • Bệnh viện Long Khánh
  • Bệnh viện Phụ sản Âu Cơ
  • Bệnh viện Răng-Hàm-Mặt Việt Anh Đức
  • Bệnh viện đa khoa Tâm Hồng Phước
  • Bệnh viện Quốc tế Đồng Nai
  • Bệnh viện ITO Sài Gòn Đồng Nai

Bên cạnh đó còn có Hệ thống phòng khám và chăm sóc sức khỏe Quốc tế Sỹ Mỹ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận khám chữa bệnh mà các bệnh viện, phòng khám khác không đáp ứng được nhu cầu.

Tôn Giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai từ lâu đời là một địa bàn sinh tụ và cư trú của nhiều dân tộc với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, có sự giao lưu và ảnh hưởng tôn giáo lẫn nhau.

Vào khai hoang lập ấp ở Đồng Nai, người Việt đã trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Ngoài văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống được mang theo vào vùng đất mới, người Việt đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của các cộng đồng cư dân mà họ cùng sinh sống. Khi người phương Tây vào truyền giáo, họ lại tiếp nhận văn hóa Ki tô giáo. Do điều kiện lịch sử, địa lý nhân văn nên tín ngưỡng tôn giáo Đồng Nai không mang tính cổ điển mà được hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía tạo nên sắc thái riêng. Dù theo tôn giáo này hay tôn giáo khác thì truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ những người có công với dân, với nước, nhớ ơn nghĩa người xưa theo đạo lý "uống nước nhớ nguồn" vẫn là truyền thống phổ biến nhất, sâu rộng nhất.

Hiện nay Đồng Nai là một địa bàn đa tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi giáo... Trong đó, Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất. Công giáo tập trung đông đúc ở TP. Biên Hòa và huyện Trảng Bom. Đồng Nai là địa phương có số tín đồ công giáo đông nhất cả nước với gần 1 triệu tín đồ chiếm 1/3 dân số tỉnh.

Một số ngôi Chùa ở tỉnh Đồng Nai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Bửu Long (F.Bửu Hòa, Biên Hòa)
  • Chùa Long Thiền (Biên Hòa)
  • Chùa Đại Phước (Biên Hòa)
  • Chùa Ông Cù Lao Phố (X.Hiệp Hòa, Biên Hòa)
  • Chùa Cổ Tự (1657) (H.Vĩnh Cửu)
  • Chùa Đại Giác (Biên Hòa)
  • Chùa Bửu Đức (Biên Hòa)
  • Chùa Từ Tôn (Biên Hòa)

Một số nhà thờ Công giáo ở tỉnh Đồng Nai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thờ chính tòa Xuân Lộc (Tx.Long Khánh)
  • Nhà thờ Tân Triều (H.Vĩnh Cửu)
  • Nhà thờ Biên Hòa (F.Quyết Thắng, Biên Hòa)
  • Nhà thờ Cẩm Đường (X.Cẩm Đường, H.Long Thành)
  • Nhà thờ Tân Mai (F.Tân Mai, Biên Hòa)
  • Nhà thờ Kim Bích (F.Hố Nai, Biên Hòa)
  • Nhà thờ Kẻ Sặt (F.Tân Biên, Biên Hòa)
  • Nhà thờ Đông Vinh (X.Hố Nai 3, H.Trảng Bom)
  • Nhà thờ Bạch Lâm (X.Gia Tân 2, H.Thống Nhất)
  • Nhà thờ Bình An (F.An Bình, Biên Hoà)
  • Nhà thờ Phúc Hải (F.Tân Phong, Biên Hòa)
  • Nhà thờ Bùi Hiệp (F.Tam Hiệp, Biên Hòa)
  • Nhà thờ Bùi Chu (H.Trảng Bom)
  • Nhà thờ Bình Lộc (H.Thống Nhất)
  • Nhà thờ Ngũ Phúc (X.Hố Nai 3, H.Trảng Bom)

Văn hóa & Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Miếu Trấn Biên

Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Văn miếu Trấn Biên (Biên Hòa), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, khu du lịch sinh thái Thác Mai - hồ nước nóng, Đảo Ó, chiến khu Đ, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thác Giang Điền, khu du lịch Long Châu Viên (Xuân Tân, Long Khánh), khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấp quốc gia núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le (Xuân Lộc), trung tâm hành hương Đức Mẹ núi Cúi (Gia Kiệm).

Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh miền Đông Nam Bộ có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ[33]. Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.

Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp tiểu thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương, các làng nghề khác như bánh đa, hủ tíu, gò thùng thiếc làng Kim Bích.

Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại [34]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh, thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc Đông Nam Bộ, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  2. ^ Tỉnh Đồng Nai nằm ở cực bắc miền Đông Nam Bộ, có toạ độ địa lý từ 10o30’03 đến 11o34’57’’vĩ độ Bắc và từ 106o45’30 đến 107o35’00 kinh độ Đông., Cổng thông tin tỉnh Đồng Nai.
  3. ^ a ă â Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%., Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  4. ^ Quyết định 272-CP năm 1978 về việc sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào thành phố Biên Hòa
  5. ^ Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành
  6. ^ Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  7. ^ Quyết định 284-HĐBT năm 1985 về việc thành lập thị xã Vĩnh An thuộc tỉnh Đồng Nai
  8. ^ Quyết định 107-HĐBT ngày 10 tháng 4 năm 1991 chia các huyện Xuân Lộc và Tân Phú thành 4 huyện lấy tên là huyện Xuân Lộc, huyện Long Khánh, huyện Tân Phú và huyện Định Quán
  9. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  10. ^ Nghị định 51-CP năm 1994 về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai
  11. ^ Nghị định 109-CP ngày 29 tháng 8 năm 1994 tái lập huyện Vĩnh Cửu; điều chỉnh địa giới
  12. ^ Nghị định số 97/2003/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc; thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  13. ^ Nghị quyết 05/NQ-CP năm 2010 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai
  14. ^ “Ban Quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai”. 
  15. ^ a ă Năm 2012, Đồng Nai phấn đấu tăng trưởng 12-13%, Theo trang CaeF.
  16. ^ Ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho biết
  17. ^ a ă Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 11,87%, Theo Báo Đồng Nai.
  18. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  19. ^ “Dự án đường Cao tốc Dầu Giây - Long Thành - thành phố Hồ Chí Minh”. Dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  20. ^ “Dự án và đường sắt Đồng Nai trên trang web sở GTVT Đồng Nai”. Dongnai.gov.vn. Ngày 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  21. ^ “Dự án Sân bay Long Thành trên trang web Sở GTVT Đồng Nai”. Dongnai.gov.vn. Ngày 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  22. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  23. ^ Trường Trung học Phổ thông (cấp III)
  24. ^ Trường Trung học Cơ sở (cấp II)
  25. ^ Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm Đại học
  26. ^ Trường Đại học Lâm Nghiệp, phân hiệu tại Đồng Nai
  27. ^ Trường Đại học Công Nghệ
  28. ^ Trường Cao đẳng Công nghiệp và Quản trị Biên Hòa
  29. ^ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai
  30. ^ Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ
  31. ^ Trường Trung cấp dạy nghề
  32. ^ Trường Cao đẳng dạy nghề số 8 của Bộ Quốc Phòng
  33. ^ “Gốm sứ truyền thống Bình Dương và Đồng Nai”. Baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  34. ^ “Cụm công nghiệp nghề truyền thống của Đồng Nai”. Dongnai.gov.vn. Ngày 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

[[Thể loại: Đồng Nai]