Đồng Nai
|
Đồng Nai
|
|||
|---|---|---|---|
| Thành phố trực thuộc trung ương | |||
Biểu trưng | |||
| Tên khác | Xứ Trấn Biên | ||
| Biệt danh | |||
| Tên cũ | Biên Hòa, Long Khánh, Bình Phước, Bình Long, Phước Long, Sông Bé | ||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng |
| ||
| Trụ sở UBND | Số 2, đường Nguyễn Văn Trị, khu phố Hoà Bình, phường Trấn Biên | ||
| Phân chia hành chính | 33 phường, 62 xã | ||
| Trung tâm hành chính | Phường Trấn Biên | ||
| Loại đô thị | Loại I | ||
| Năm công nhận | 2026[1] | ||
| Đại biểu Quốc hội | 11 | ||
| Lịch sử hình thành | |||
| Thành lập | 30/4/2026[2] | ||
| Tổ chức lãnh đạo | |||
| Bí thư Thành ủy | Vũ Hồng Văn | ||
| Chủ tịch UBND | Nguyễn Văn Út | ||
| Hội đồng nhân dân | 81 đại biểu | ||
| Chủ tịch HĐND | Tôn Ngọc Hạnh | ||
| Chủ tịch UBMTTQ | Huỳnh Thị Hằng | ||
| Viện trưởng VKSND | Huỳnh Văn Lưu | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 11°03′16″B 107°08′49″Đ / 11,05443°B 107,146912°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 12.737,18 km²[3][4] | ||
| Dân số (31/12/2025) | |||
| Tổng cộng | 4.836.798 người[3][4] | ||
| Mật độ | 379 người/km² | ||
| Dân tộc | Kinh, Hoa, Khmer, Xtiêng, Chơ-ro, Chăm, Mường, Dao, Thái, Ơ Đu, Si La, Nùng, Tày | ||
| Kinh tế (2025) | |||
| GRDP | 710.197 tỉ đồng (28.246 tỉ USD[5] | ||
| GRDP đầu người | 152,88 triệu đồng (6.080,4 USD)[6] | ||
| Khác | |||
| Mã địa lý | VN-39 | ||
| Mã hành chính | 75[7] | ||
| Mã bưu chính | 81xxxx | ||
| Mã điện thoại | 251 | ||
| Biển số xe | 39, 60, 93 | ||
| Website | dongnai | ||
Đồng Nai là một trong bảy thành phố trực thuộc trung ương thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam và hiện là thành phố có diện tích lớn nhất Việt Nam. Thành phố được xem là cửa ngõ nối liền giữa vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với vùng Đông Nam Bộ. Đồng Nai hiện là đô thị loại I, là thành phố trung tâm cấp vùng và cấp quốc gia.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Vị trí địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ. Thành phố có tọa độ từ 10o30'03"B đến 11o34'57"B và từ 106o45'30"Đ đến 107o35'00"Đ, có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp tỉnh Lâm Đồng
- Phía tây và nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh
- Phía tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh
- Phía bắc giáp các tỉnh Tbong Khmum, Kratié, Mondulkiri, Campuchia.
Đồng Nai được xem là một thành phố cửa ngõ đi vào vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ – vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Đồng thời, Đồng Nai là một trong 4 góc nhọn của Tứ giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (gồm Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu cũ) – Đồng Nai.
Dân cư của thành phố tập trung phần lớn ở trung tâm khu vực thành thị với các phường Trấn Biên, Tam Hiệp, Long Bình với tổng dân số trên 550 ngàn dân và ở khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp với các phường Trảng Bom, Nhơn Trạch với tổng dân số trên 250 ngàn dân.[8]
Trung tâm hành chính của thành phố đặt tại phường Trấn Biên, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 1.684 km theo đường Quốc lộ 1.
Điều kiện thiên nhiên
[sửa | sửa mã nguồn]
Thành phố Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và trung du với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều vùng trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8°, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15°. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới. Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30,4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2,1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5,4%.[9]
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27 °C, nhiệt độ cao cực trị khoảng 40 °C và thấp cực trị 12,5 °C và số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình luôn cao 80 – 82%.[9]
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng[9],...
Tài nguyên
[sửa | sửa mã nguồn]Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... Ngoài ra, Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323 km² và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi....[10]
Tài nguyên nước
[sửa | sửa mã nguồn]Thành phố Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km², song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m³/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%.[10] Các con sông chính chảy qua thành phố Đồng Nai như: Sông Đồng Nai, và các phụ lưu lớn của nó như sông La Ngà và Sông Bé đổ vào dòng chính gần hồ Trị An. Ngoài ra còn có sông lớn khác như sông Lá Buông, sông Ray, sông Xoài và sông Thị Vải.
Tổng trữ lượng nước dưới đất của thành phố Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m³/ngày. Bao gồm, trữ lượng nước tĩnh vào khoảng 793.379 m³/ngày, trong đó, trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m³/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m³/ngày. Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m³/ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. Tuy có trữ lượng nước dưới đất phong phú, nhưng phân bố không đều, và nhu cầu khai thác tăng cao vào các tháng mùa khô nên việc khai thác nước dưới đất cần phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.[10]
Tài nguyên khoáng sản
[sửa | sửa mã nguồn]Các loại tài nguyên khoáng sản ở Đồng Nai gồm có: khoáng sản kim loại, phi kim, đá quý, và nước khoáng.[10] Các khoáng sản kim loại chủ yếu phân bố ở Đồng Nai gồm vàng, bô xít, thiếc, chì, kẽm...Các mỏ vàng nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An và các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm. Quặng bauxit phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà với trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m³. Thiếc chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật, hàm lượng thấp, tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray. Chì kẽm đa kim được phát hiện ở núi Chứa Chan.
Các khoáng sản không kim loại như: Kaolin, đá xây dựng và ốp lát, cát xây dựng, sét gạch ngói, Puzolan, và keramzit phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.
Đá quý chỉ được phát hiện có quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp như: Ziricon (Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong), Xa phia (Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm), Pyrop-ziricon, Opan- canxedon (núi Chứa Chan), tecfic (bắc Tài Lài).
Tài nguyên nước khoáng bao gồm các loại; nước khoáng – nước nóng ở Phú Lộc và Kay; nước khoáng Magie – bicarbonat ở suối Nho; nước khoáng siêu nhạt ở Tam Phước và Nhơn Trạch; nước khoáng sắt ở phía Nam Thành Tuy Hạ; nước mặn loại Clorua – Natri ở Nam Tuy Hạ;
Tài nguyên rừng
[sửa | sửa mã nguồn]Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên với những giá trị nổi bật toàn cầu của khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% diện tích tự nhiên, năm 1981 còn 21,5%. Năm 2006, độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45 – 50% trong thời kỳ đến năm 2010.[10]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Những cư dân sớm nhất
[sửa | sửa mã nguồn]Loài người đã cư trú trên vùng đất Đồng Nai từ khoảng 600 nghìn đến 700 nghìn năm trước Công nguyên,[11] với những di tích sớm nhất là các công cụ ghè đẽo hai mặt giống rìu tay thuộc thời kỳ đồ đá cũ. Trên địa bàn tỉnh Bình Phước trước đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện được một số di tích có niên đại từ 100 nghìn đến 150 nghìn năm về trước.[12] Vào thời kỳ này, những cư dân sống dựa vào việc săn bắt và hái lượm.
Đến thời kỳ đồ đá mới, cư dân nơi đây đã mở rộng địa bàn cư trú và bắt đầu định cư lâu dài ở một khu vực nhất định. Các cư dân bắt đầu trồng lúa, nhiều loại cây ăn quả, cây lấy củ và chăn nuôi nhiều loài động vật. Nghề thủ công phát triển, nhất là nghề chế tác đá và làm gốm.
Khoảng 2000–2500 năm trước, nền văn hóa Đồng Nai xuất hiện.
Nam tiến
[sửa | sửa mã nguồn]Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ ải Nam Quan đến vùng Bắc Đèo Ngang (Hà Tĩnh ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa láng giềng lúc bấy giờ. Để mở rộng bờ cõi về phía Nam, nước Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.
Nước Việt Nam lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua Lê – Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.
Năm 1621, Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) sai sứ sang gặp vua Chân Lạp Chey Chetta II, yêu cầu cho người Việt vào sinh sống, buôn bán ở Đồng Nai.[13] Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.
Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Tần đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, và Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
Năm 1802, dinh Trấn Biên được vua Gia Long đổi thành trấn Biên Hòa, nhưng vẫn thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành Gia Định, đặt Phước Long thành phủ, đặt ra các tổng Phước Chính, Phước An, Bình An, Long Thành làm huyện. Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Biên Hòa. Năm 1837, lập thêm hai phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, Long Khánh, Phước Bình.
Thời kỳ Pháp thuộc
[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi và Tân Thuận. Năm 1851, Vua Tự Đức nhập hai huyện Phước Bình và Long Khánh vào các phủ Phước Long và Phước Tuy. Năm 1862, sau khi Hòa ước Nhâm Tuất được ký, triều đình Nhà Nguyễn cắt 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa cho Pháp. Sau đó, Pháp chia Biên Hòa thành ba tỉnh là Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Đến thời Việt Nam Cộng hòa, đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy.
1976–2026: Tỉnh Đồng Nai
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 24 tháng 2 năm 1976, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa. Cùng năm, chuyển thị xã Biên Hòa thành thành phố Biên Hòa trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ban đầu, tỉnh Đồng Nai có tỉnh lỵ là thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 9 huyện: Châu Thành, Duyên Hải, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Xuyên Mộc. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất vào thành phố Biên Hòa.[14] Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Duyên Hải về Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI.[15]
Ngày 30 tháng 5 năm 1979, điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Vũng Tàu và xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành để thành lập đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo[16] trực thuộc Trung Ương. Ngày 9 tháng 12 năm 1982, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Long Đất để thành lập huyện Trường Sa. Ngày 28 tháng 12 năm 1982, chuyển huyện Trường Sa về tỉnh Phú Khánh. Ngày 23 tháng 12 năm 1985, chuyển huyện Vĩnh Cửu thành thị xã Vĩnh An.[17] Ngày 10 tháng 4 năm 1991, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Xuân Lộc để thành lập huyện Long Khánh; điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Tân Phú để thành lập huyện Định Quán.[18] Đến năm 1991, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Biên Hòa (tỉnh lỵ), thị xã Vĩnh An và 9 huyện: Châu Thành, Định Quán, Long Đất, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết tách 3 huyện: Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc để sáp nhập với đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.[19] Tỉnh Đồng Nai còn lại 1 thành phố Biên Hòa (tỉnh lị), 1 thị xã Vĩnh An và 6 huyện: Định Quán, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc. Năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Đồng Nai.
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Long Thành để thành lập huyện Nhơn Trạch.[20] Ngày 29 tháng 8 năm 1994, giải thể thị xã Vĩnh An để tái lập huyện Vĩnh Cửu.[21] Ngày 21 tháng 8 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2003/NĐ-CP, giải thể huyện Long Khánh để thành lập thị xã Long Khánh và huyện Cẩm Mỹ, điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Thống Nhất để thành lập huyện Trảng Bom.[22] Đến thời điểm này, tỉnh Đồng Nai có 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện.
Ngày 30 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2488/QĐ-TTg công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai.[23] Ngày 1 tháng 6 năm 2019, chuyển thị xã Long Khánh thành thành phố Long Khánh.[24] Từ đó, tỉnh Đồng Nai có 2 thành phố: Biên Hòa (tỉnh lị), Long Khánh và 9 huyện: Cẩm Mỹ, Định Quán, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[25] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Bình Phước vào tỉnh Đồng Nai. Sau khi sáp nhập, tỉnh Đồng Nai có 12.737,18 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.491.408 người. Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15[26] về việc kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1662/NQ-UBTVQH15[27] về việc thành lập 88 xã, phường mới thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở 263 đơn vị hành chính cấp xã và giữ 7 đơn vị hành chính cấp xã. Tỉnh Đồng Nai có 23 phường và 72 xã.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 237/NQ-UBTVQH[28] về việc thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở giữ nguyên trạng diện tích và dân số của 10 xã: Dầu Giây, Đồng Phú, Long Thành, Lộc Ninh, Nhơn Trạch, Tân Khai, Tân Phú, Trảng Bom, Trị An, Xuân Lộc. Tỉnh Đồng Nai có 33 phường và 62 xã. Ngày 16 tháng 4 năm 2026, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 502/QĐ-BXD[1] về việc công nhận tỉnh Đồng Nai đạt tiêu chí đô thị loại I.
2026–nay: Thành phố Đồng Nai
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 24 tháng 4 năm 2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 30/2026/QH16[2] về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương trên cơ sở toàn bộ 12.737,18 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.491.408 người của tỉnh Đồng Nai (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 30 tháng 4 năm 2026).[29]
Thành phố Đồng Nai có 33 phường và 62 xã như hiện nay.
Hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Thành phố Đồng Nai có 95 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 33 phường và 62 xã.[4][28]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đồng Nai | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Đồng Nai có diện tích: 12.737 km², xếp thứ 9; dân số: 4.491.408 người, xếp thứ 5; GRDP 2024: 609.176.602 triệu VNĐ, xếp thứ 4; thu ngân sách 2024: 73.458.454 triệu VNĐ, xếp thứ 4; thu nhập bình quân: 78,04 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 4.[30]
Đồng Nai là một thành phố cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ – vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Trong đó, Đồng Nai là một trong hai cực tăng trưởng của vùng liên kết phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai. Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Đồng Nai tăng 15,22% so với năm 2024.[31] Đồng Nai nằm trong tốp đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tính đến cuối năm 2025, nơi đây có trên 2,2 ngàn dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 42 tỷ USD từ 51 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Singapore là những quốc gia dẫn đầu về số dự án và tổng vốn đầu tư.[32] Đồng Nai là một trong những thành phố có quy mô khu công nghiệp lớn nhất Việt Nam.[33] Có 57 khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn thành phố Đồng Nai, trong đó 42 khu đã xây dựng hạ tầng đồng bộ. Các khu công nghiệp tiêu biểu bao gồm: Nhơn Trạch, Long Thành, Biên Hòa, Amata, Lộc An – Bình Sơn...[34]
Nông nghiệp và nông thôn
[sửa | sửa mã nguồn]Về nông nghiệp, Đồng Nai là thủ phủ sản xuất chè, cà phê, ca cao, cam, bưởi, quýt, sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,.... Đây là thành phố có sản lượng nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ và là một trong những thành phố sản xuất ra khối lượng nông sản lớn nhất Việt Nam. Đồng Nai có diện tích cây công nghiệp, cây ăn trái lớn với tổng diện tích hơn 609 ngàn hécta.[35] Trong đó, một số cây công nghiệp chủ lực có diện tích thuộc tốp đầu cả nước như: cao su, điều, hồ tiêu... đã hình thành được các vùng chuyên canh lớn. Đồng Nai hiện cũng là thành phố dẫn đầu cả nước về chăn nuôi với tổng đàn hơn 4 triệu con heo và gần 33 triệu con gà (92% nuôi tại các trang trại quy mô lớn). Thành phố đang dịch chuyển mạnh mẽ từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang hình thức trang trại tập trung, khép kín, ứng dụng công nghệ cao và an toàn sinh học.[36]
Danh sách các khu công nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]- Khu công nghiệp Biên Hòa I (hiện đang được quy hoạch lại để thay đổi công năng thành trung tâm dịch vụ thương mại nhằm bảo vệ môi trường sông Đồng Nai)
- Khu công nghiệp Biên Hòa II
- Khu công nghiệp Long Bình Tân (Loteco)
- Khu công nghiệp Amata
- Khu công nghiệp AGTEX Long Bình
- Khu công nghiệp Tam Phước
- Khu công nghiệp Long Khánh
- Khu công nghiệp Suối Tre
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch I
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch II
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch II – Lộc Khang
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch II – Nhơn Phú
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch III
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch IV
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch V
- Khu công nghiệp Nhơn Trạch VI
- Khu công nghiệp Ông Kèo
- Khu công nghiệp Dệt May Nhơn Trạch
- Khu công nghiệp Long Thành
- Khu công nghiệp Tam Phước
- Khu công nghiệp Long Đức
- Khu công nghiệp Gò Dầu
- Khu công nghiệp An Phước
- Khu công nghiệp Lộc An – Bình Sơn (500ha)
- Khu công nghiệp Phước Bình 190 ha (theo văn bản số 964/TTg-KTN ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ)
- Khu công nghiệp Hố Nai
- Khu công nghiệp Sông Mây
- Khu công nghiệp Bàu Xéo (Hiện là khu công nghiệp có diện tích quy hoạch lớn nhất thành phố Đồng Nai với hơn 500ha)
- Khu công nghiệp Giang Điền (đã được Chính phủ quy hoạch và trong giai đoạn hoàn thiện đi vào hoạt động)
- Khu công nghiệp Xuân Lộc (xã Xuân Hòa)
- Khu công nghiệp Tân Phú (phường Tân Phú)
- Khu công nghiệp Định Quán (xã La Ngà)
- Khu công nghiệp Dầu Giây (phường Dầu Giây)
- Khu công nghiệp Thạnh Phú (phường Tân Triều)
- Khu công nghiệp Cẩm Mỹ 300 ha (xã Xuân Đường) (theo văn bản số 964/TTg-KTN ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ)
Thương mại dịch vụ
[sửa | sửa mã nguồn]Ngành thương mại và dịch vụ của Đồng Nai là một trong những ngành tương đối còn mới mẻ và chưa được quan tâm đầu tư đúng mức tối đa mà tiềm lực Đồng Nai có thể đáp ứng.
Một minh chứng rõ ràng cho thấy là Đồng Nai dù có dân số đông thứ hai ở miền Nam chỉ xếp sau thành phố Hồ Chí Minh nhưng các trung tâm thương mại, các siêu thị vẫn còn thưa thớt và không có đầu tư nhiều. Phát triển chủ yếu của tình là các chợ truyền thống như chợ loại I: chợ Long Khánh (Long Khánh), chợ Biên Hòa (Biên Hòa), chợ Tân Hiệp (Biên Hòa) chợ Đông Hòa (Trảng Bom), chợ Long Khánh, chợ Sông Ray (Cẩm Mỹ), chợ Tân Biên (Biên Hòa, chợ Long Thành (Long Thành) và nhiều chợ loại 2, 3 và 4.[37]
Các trung tâm thương mại lớn và sầm uất gần như tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn của thành phố như Trung tâm thương mại Big C (Biên Hòa), Coorpmart, Vinatext mới đây tập đoàn Metro Cash and Carry mới đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Metro tại Biên Hòa.[38]
Gần đây, khi nhận ra sự phát triển thiếu đồng bộ và chênh lệch giữa các ngành trong thành phố, và để đáp ứng nhu cầu phát triển về thương mại dịch vụ, các dự án và quy hoạch phát triển các trung tâm thương mại được hình thành như Trung tâm thương mại Long Khánh (Long Khánh).[39], trung tâm thương mại Mũi Tàu (Long Thành) [40], Trung tâm thương mại Trảng Bom [41] ...
Hiện nay, khi hội nhập kinh tế thế giới, cam kết lộ tình thay đổi chính sách kinh tế khi vào WTO của Việt Nam, các tập đoàn bán lẻ bắt đầu xem xét và đổ bộ ngành thương mại dịch vụ vào Việt Nam. Đồng Nai cũng đã có những tầm nhìn rộng và mới cho ngành "công nghiệp không khói" hấp dẫn này, đặc biệt là các cao ốc văn phòng, cao ốc chung cư, các dự án trung tâm thương mại rộng khắp.
Y tế
[sửa | sửa mã nguồn]Đồng Nai là một trong những thành phố có vị trí gần Thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong các lĩnh vực công nghệ khoa học. Trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển.
Thêm vào đó, gần như hệ thống y tế của Đồng Nai đều tổ chức tốt từ thành phố đến các cấp cơ sở. Cụ thể mỗi xã đều có một Trạm y tế.
Khu vực các huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Nhơn Trạch, Long Thành, Cẩm Mỹ, Định Quán là các khu vực có 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế [42][43].
Mục tiêu phát triển của Đồng Nai là đến năm 2010 toàn thành phố có các Trạm y tế cơ sở đạt chuẩn quốc gia, có bác sĩ khám chữa bệnh và có cơ sở hoạt động, thiết bị y tế đầy đủ khang trang nhằm chăm sóc y tế toàn dân tốt hơn [44]
Danh sách bệnh viện tại Đồng Nai
[sửa | sửa mã nguồn]
|
|
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) có 745 trường học, trong đó Trung học phổ thông có 84 trường, Trung học cơ sở có 273 trường, Tiểu học có 362 trường, trung học có 23 trường, có 4 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 327 trường mẫu giáo.[45] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục tại phương tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ[45]. Trên địa bàn còn có cơ sở 2 của Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh nằm tại phường Long Hưng.
Sau khi được nâng cấp thành thành phố, thành phố Ðồng Nai có quy mô trên 1,2 triệu học sinh và trên 1,3 ngàn cơ sở giáo dục. Ðồng Nai thuộc nhóm 5 tỉnh, thành có số lượng học sinh đông nhất cả nước, sau thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thanh Hóa. Toàn ngành giáo dục của thành phố có tổng số hơn 65,2 ngàn cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các cấp học mầm non, phổ thông. Trong đó, có hơn 3,2 ngàn cán bộ quản lý, hơn 49,6 ngàn giáo viên và hơn 12,3 ngàn nhân viên.[46]
Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, tỷ lệ tốt nghiệp của tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay), ở hệ giáo dục phổ thông là 99,65%, hệ giáo dục thường xuyên là 92,62%, bình quân chung là 98,37%. Tính đến năm 2025, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 69,78%.[47]
So với mặt bằng chung của cả nước, thành phố Đồng Nai là địa phương đã thực hiện tốt về công tác xã hội hóa giáo dục với tỷ lệ học sinh ngoài công lập là 20,6%, trong khi toàn quốc hơn 6,68%. Tính đến năm học 2025 – 2026 này, mạng lưới trường ngoài công lập có 190 trường, từ mầm non đến THPT. Trong đó, mầm non có 150 trường, tiểu học 6 trường, THCS 5 trường và THPT có 29 trường. Các trường ngoài công lập đã huy động 145 ngàn học sinh các cấp ra lớp, chiếm tỷ lệ khoảng 20,6% so với tổng số học sinh toàn thành phố.[46]
Dân số
[sửa | sửa mã nguồn]Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) có diện tích 5.863,62 km² và quy mô dân số là 3.393.186 người.[48]
Tính đến năm 2024, tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) có diện tích tự nhiên 5.863,62 km²,[49] dân số trung bình là 3.365.450 người,[49] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 1.694.120 người chiếm (50,34%),[49] dân số nữ ước tính đạt khoảng 1.671.320 người chiếm (49,66%),[49] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 1.526.570 người chiếm (45,36%),[49] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.838.880 người chiếm (54,64%),[49] với mật độ dân số là 573 người/km².[49]
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) có diện tích 12.737,18 km² và quy mô dân số là 4.491.408 người,[25] mật độ dân số đạt 352 người/km².
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2025, tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) có diện tích 12.737,18 km², quy mô dân số là 4.836.798 người, mật độ dân số đạt 379 người/km².[3][4] Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2026 đạt 54,10%.
Tính đến 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2019, tổng số người dân tộc Kinh trên toàn địa bàn tỉnh (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) là 2.898.088 người, chiếm 93,6% dân số toàn tỉnh, tổng số người dân tộc khác là 199.019 người, chiếm 6,4%.[50] Người Chơ Ro tại Đồng Nai là cộng đồng đông nhất cả nước, chiếm 56,70% tổng số người Chơ Ro tại Việt Nam.[51]
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đồng Nai (đơn vị tiền thân của thành phố Đồng Nai hiện nay) có 13 tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Công giáo có 1.015.315 người, Phật giáo có 440.556 người, Đạo Cao Đài có 34.670 người, các tôn giáo khác như Tin Lành có 43.690 người, Hồi giáo 6.220 người, Phật giáo hòa hảo có 5.220 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 530 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 36 người, Minh Sư Đạo có 39 người, Bahá'í có 63 người, Bà-la-môn có 15 người, Minh Lý Đạo có 12 người, còn lại là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có hai người.[52]
Đồng Nai là thành phố có sự đa dạng về các đặc trưng tôn giáo, tín ngưỡng. Phần lớn dân cư theo sau Công cuộc Mở mang bờ cõi của Chúa Nguyễn và đánh dấu là sự khai hoang lập ấp của Nguyễn Hữu Cảnh. Cư dân ban đầu mang theo tín ngưỡng thờ cúng ông bà mà phần lớn người dân Việt Nam hiện nay đều có. Song song đó là sự có mặt của Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo,... dần dần đến các cuộc chiến tranh Việt Nam chống ngoại ban xâm lược thì sự du nhập các tôn giáo, tín ngưỡng theo sự di dân do chiến tranh và hoàn cảnh bắt đầu xuất hiện.
Công giáo ra đời và phát triển mạnh mẽ đến ngày nay trên đất Đồng Nai là sau cuộc di dân năm 1954. Rồi Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài, v.v.. dần xuất hiện theo sự di cư của người dân. Các nơi có đông giáo dân ở Đồng Nai là khu vực thành phố Biên Hoà, huyện Trảng Bom cũ, trải dài tới Xuân Lộc, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, với hơn 900.000 giáo dân, Đồng Nai là nơi có số lượng người theo Công giáo rất lớn.
Phật giáo tại Đồng Nai phát triển mạnh sau sự kiện Thích Quảng Đức vị quốc thiêu thân năm 1963, làm phát khởi tinh thần Từ Bi – Trí tuệ của người Phật tử, hiện nay hàng loạt các ngôi chùa, tự viện, thiền viện được ra đời đáp ứng nhu cầu tu học của người dân, đăc biệt là Hệ thống Thiền viện thuộc Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam.
Theo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai (nay là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đồng Nai), năm 2025 toàn tỉnh hiện có 2,65 triệu tín đồ thuộc 11 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo đang hoạt động. Đồng Nai là địa phương có số tín đồ các tôn giáo chiếm số lượng lớn nhất cả nước. Cụ thể, tín đồ Công giáo có trên 1,31 triệu người. Tín đồ Phật giáo hơn 1 triệu người. Người theo đạo Tin Lành có trên 80 nghìn người.[53] Các tôn giáo khác gồm có Cao Đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo... chiếm tỉ lệ nhỏ hơn trong tổng số tín đồ. Ngoài ra, trên địa bàn còn xuất hiện một số hiện tượng "tôn giáo mới" như Tổ Tiên Chính thống giáo, đạo Dừa, Thanh Hải vô thượng sư, Vô vi Phật tử Như lai, Pháp Luân công...[54]
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Đồng Nai sở hữu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú, phản ánh đậm nét đời sống tâm linh và các nghi lễ nông nghiệp của cộng đồng cư dân đa sắc tộc. Trong đó, Đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản tiêu biểu đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Thành phố Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh (cụ thể hơn là khu vực phía bắc thành phố) là hai thành phố miền Đông Nam Bộ có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ.[55] Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.
Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương, các làng nghề khác như bánh đa, hủ tíu, gò thùng thiếc làng Kim Bích. Theo dòng chảy của lịch sử, Đồng Nai đã hình thành nên những làng nghề nổi tiếng như: làng nghề đá Bửu Long, gốm Tân Vạn (Biên Hòa), đúc gang Thạnh Phú, trồng nấm (Long Khánh), trầm hương (Tân Phú), gỗ mỹ nghệ (Trảng Bom, Xuân Lộc),...[56]
Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại.[57]
Các lễ hội tiêu biểu tại địa phương thường gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng thần linh và tổ tiên. Đáng chú ý nhất là lễ hội Sayangva (Mừng lúa mới) của người Chơ Ro đang được lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bên cạnh đó, lễ hội Kỳ Yên tại các đình làng như đình Tân Lân, đình Bình Kính là dịp cầu mưa thuận gió hòa cho cộng đồng. Các nhóm dân tộc khác cũng duy trì những lễ hội đặc thù như lễ Tả Tài Phán của cộng đồng người Hoa (nhóm Hẹ) mang đậm dấu ấn Đạo giáo, lễ hội Lơh-yang-rơ tạ ơn sau mùa thu hoạch của người Kơ Ho, và lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng.[58][59]
Di tích
[sửa | sửa mã nguồn]Những di tích lịch sử được công nhận cấp quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn]Di tích được xếp hạng cấp quốc gia có 24 di tích (xếp theo thứ tự thời gian xếp hạng), gồm:
- Mộ cự thạch Hàng Gòn (1982)
- Địa điểm chiến thắng La Ngà (1986)
- Nhà Xanh (1986)
- Đài Chiến sĩ/Đài Kỷ Niệm (1988)
- Danh thắng Đá chồng Định Quán (1988)
- Toà Hành chánh Long Khánh (1988)
- Đình An Hoà (1989)
- Danh thắng Bửu Long (1990)
- Chùa Đại Giác (1990)
- Lăng mộ Trịnh Hoài Đức (1990)
- Đình Tân Lân (1991)
- Đền thờ và Mộ Nguyễn Hữu Cảnh (1991)
- Chùa Long Thiền (1991)
- Nhà hội Bình Trước (1991)
- Quảng trường Sông Phố (1991)
- Đền thờ Nguyễn Tri Phương (1992)
- Nhà lao Tân Hiệp (1994)
- Mộ Nguyễn Đức Ứng và 26 nghỉa binh (1994)
- Căn cứ Khu uỷ miền Đông Nam Bộ (1997)
- Mộ – đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh (1998)
- Địa đạo Suối Linh (1999)
- Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (2001)
- Chùa Ông/Thất phủ cổ miếu (2001)
- Địa đạo Nhơn Trạch (2001)
Những di tích lịch sử được công nhận cấp tỉnh
[sửa | sửa mã nguồn]Di tích được xếp hạng cấp tỉnh có 16 di tích (xếp theo thứ tự thời gian xếp hạng), gồm:
- Bửu Hưng tự/chùa Cô hồn (1979)
- Toà bố Biên Hoà (1979)
- Địa điểm Ngã ba Giồng Sắn (2001)
- Đình Bình Quan (2004)
- Đình Phú Mỹ (2005)
- Nhà cổ Trần Ngọc Du (2005)
- Địa điểm Căn cứ Tỉnh uỷ Biên Hoà (2005)
- Địa điểm thành lập chi bộ Đảng cộng sản Bình Phước Tân Triều và Tỉnh uỷ Lâm thời Biên Hoà (2007)
- Đình Phước Lộc (2007)
- Thành Biên Hoà (2008)
- Đình Xuân Lộc – chùa Xuân Hoà (2008)
- Miếu Tổ sư/Thiên hậu cổ miếu (2008)
- Đình Hưng Lộc (2008)
- Đình Phước Thiền (2009)
- Núi Chứa Chan (2009)
- Vườn Cao su đầu tiên, sân điểm đồn điền cao su Dầu Giây (2009)
Phân bố các di tích trong thành phố
[sửa | sửa mã nguồn]Di tích phân bố trên các địa bàn thành phố như sau:
Phường Biên Hòa
[sửa | sửa mã nguồn]- Chùa Long Thiền
- Đền thờ Nguyễn Tri Phương
- Nhà cổ Trần Ngọc Du
Phường Dầu Giây
[sửa | sửa mã nguồn]- Đình Hưng Lộc
- Vườn cao su đầu tiên
- Sân điểm đồn điền cao su Dầu Giây
Phường Hàng Gòn
[sửa | sửa mã nguồn]- Mộ Cự thạch Hàng Gòn
Phường Long Bình
[sửa | sửa mã nguồn]- Mộ – đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh (cùng với phường Tam Hiệp)
Phường Long Hưng
[sửa | sửa mã nguồn]- Đình An Hoà
Phường Long Khánh
[sửa | sửa mã nguồn]- Toà hành chánh Long Khánh
- Đình Xuân Lộc – chùa Xuân Hoà
Phường Nhơn Trạch
[sửa | sửa mã nguồn]- Đình Phú Mỹ
- Đình Phước Thiền
Phường Tam Hiệp
[sửa | sửa mã nguồn]- Nhà lao Tân Hiệp
- Mộ – đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh (cùng với phường Long Bình)
Phường Tân Triều
[sửa | sửa mã nguồn]- Địa điểm thành lập chi bộ Bình Phước – Tân Triều và Tình ủy lâm thời Biên Hoà
Phường Trấn Biên
[sửa | sửa mã nguồn]- Bửu Hưng tự/chùa Cô hồn
- Toà bố Biên Hoà
- Nhà hội Bình Trước
- Quảng trường Sông Phố
- Nhà Xanh
- Đài Chiến sĩ
- Lăng mộ Trịnh Hoài Đức
- Danh thắng Bửu Long
- Miếu Tổ sư/Thiên hậu cổ miếu
- Chùa Đại Giác
- Đền thờ – mộ Nguyễn Hữu Cảnh
- Chùa Ông/Thất phủ cổ miếu
- Đình Bình Quan
- Đình Tân Lân
- Thành Biên Hoà
Phường Trị An
[sửa | sửa mã nguồn]- Căn cứ khu uỷ miền Đông Nam Bộ
- Địa đạo Suối Linh
Phường Xuân Lộc
[sửa | sửa mã nguồn]- Núi Chứa Chan
Xã Bàu Hàm
[sửa | sửa mã nguồn]- Căn cứ Tỉnh uỷ Biên Hoà
Xã Định Quán
[sửa | sửa mã nguồn]- Địa điểm chiến thắng La Ngà
- Danh thắng Đá chồng
Xã Long Phước
[sửa | sửa mã nguồn]- Mộ Nguyễn Đức Ứng và 26 nghĩa binh
Xã Phú Lý
[sửa | sửa mã nguồn]- Căn cứ Trung ương Cục miền Nam
Xã Phước An
[sửa | sửa mã nguồn]- Địa đạo Nhơn Trạch
Du lịch
[sửa | sửa mã nguồn]phường Trảng Bom

Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Văn miếu Trấn Biên (phường Trấn Biên), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, khu du lịch sinh thái Thác Mai – hồ nước nóng, Đảo Ó, chiến khu Đ, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thác Giang Điền, khu du lịch Long Châu Viên (phường Hàng Gòn), khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấp quốc gia núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le (phường Xuân Lộc) Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Núi Cúi (xã Thống Nhất), khu du lịch Suối Mơ, làng du lịch Tre Việt, khu du lịch Bò Cạp Vàng, khu du lịch sinh thái Thủy Châu.
Ẩm thực
[sửa | sửa mã nguồn]Các đặc sản ẩm thực nổi tiếng của Đồng Nai gồm có: Bưởi Tân Triều (được chế biến thành gỏi bưởi, rượu bưởi), Mít tố nữ Long Khánh, Chôm chôm Long Khánh, gỏi cá Biên Hòa, cơm gà cá mặn Long Khánh, lẩu khổ qua rừng, chả lụi Biên Hòa, bánh gai Hố Nai, nấm mối, trái ươi rừng, cá kìm khô hồ Trị An, hạt điều...[60]
Công trình kiến trúc
[sửa | sửa mã nguồn]| Số năm
cao nhất |
Tòa nhà | Hình ảnh | Chiều cao (m) |
Vị trí |
|---|---|---|---|---|
| 2018 – Nay | The Mira Central Park | 96 | Tam Hiệp | |
| 2012 – 2018 | Tòa nhà Sonadezi | 91 | Trấn Biên | |
| 2013 – nay | Tòa nhà Pegasus Plaza | 91 | Trấn Biên | |
| 2011 – 2012 | Long Thành Plaza | 74 | Long Thành | |
| 2009 – 2011 | Aurora Hotel Plaza | 47 | Tam Hiệp | |
| 1989 – 2009 | Tháp chuông nhà thờ Bùi Chu | 25 | Bình Minh | |
| 1967 – 1989 | Tháp nước Biên Hòa | 20 | Trấn Biên | |
| 1837 – 1967 | Thành Biên Hòa | 3,6 | Trấn Biên |
Ngành du lịch và các điểm du lịch nổi tiếng
[sửa | sửa mã nguồn]Du lịch không phải là một thế mạnh của Đồng Nai. Đồng Nai là một vùng đất mới nhưng nhanh chóng phát triển nên không có nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Tuy vậy, Đồng Nai lại có những khu du lịch còn hoang sơ mang đậm vẻ đẹp thiên nhiên, nổi bật nhất là khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Trong quy hoạch vùng thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa – Vũng Tàu được quy hoạch trở thành trung tâm du lịch của toàn khu vực. Đến Đồng Nai chỉ có những khu du lịch được đầu tư sơ sài. Gần đây, Đồng Nai đã bắt đầu chú trọng đến du lịch và khai thác khả năng tiềm tàng của nó. Năm 2009, Đồng Nai đón chào 1.7 triệu lượt khách đến du lịch tăng 19% so với năm 2008 và vượt kế hoạch định hướng là 0.5%. Trong năm 2010, Đồng Nai đặt ra một mục tiêu là phát triển ngành du lịch để làm tăng 19% lượt khách và doanh thu so với năm 2009. Nhìn chung, du lịch tại Đồng Nai chưa góp nhiều cho ngân sách thành phố này nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng của ngành kinh tế.[61]
Kết nghĩa
[sửa | sửa mã nguồn]Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Đồng Nai là một trong những tỉnh thành có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh hàng đầu cả nước. Thêm vào đó, Đồng Nai nằm ngay cửa ngõ từ Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế của cả nước.
Đồng Nai có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như Quốc lộ 1, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc – Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và đường vành đai 3 vùng đô thị TP.HCM đều đi qua Đồng Nai.
Đường bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Có những dự án lớn như đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, đường cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt, đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết,...
Ngoài ra, Đồng Nai cũng vừa khánh thành xong hai cây cầu lớn kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với Đồng Nai là cầu Thủ Biên nhằm tạo đà phát triển chung cho hai thành phố và cầu Đồng Nai mới cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng cầu Hóa An mới, đường quốc lộ 1A tránh khu vực thành phố Biên Hòa cũ...
Hiện trạng giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Đồng Nai có một hệ thống giao thông phát triển khá đồng bộ, theo thống kê nếu tính cả giao thông nông thôn và giao thông khu phố thì Đồng Nai có 3.058 tuyến đường với tổng chiều dài 6.266,763 km. Trong đó, đường Quốc lộ gồm 6 tuyến quốc lộ chính là Quốc lộ 13, Quốc lộ 1, Quốc lộ 51, Quốc lộ 20, Quốc lộ 56, Quốc lộ 14.
- Chiều dài Quốc lộ 13 (tính theo số Km là từ Km 0 – Km 140+500) dài 149,5 km, là quốc lộ theo hướng Nam – Bắc, bắt đầu từ ngã 5 Đài Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đi qua các phường và xã thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó lại đi qua các phường, xã của thành phố Đồng Nai, kết thúc tại cửa khẩu Hoa Lư (biên giới Việt Nam – Campuchia), quốc lộ 13 nối với quốc lộ 7 của Campuchia và quốc lộ này lại nối với quốc lộ 13 của Lào.
- Chiều dài Quốc lộ 1 (tính theo số Km là từ Km 1.770 – Km 1.802) dài 102 km, chạy qua khu vực thành phố Biên Hòa cũ (chiều dài đi qua là 13 km), khu vực 2 huyện cũ: Trảng Bom (chiều dài đi qua là 19 km), Thống Nhất (chiều dài đi qua là 8 km), khu vực thành phố Long Khánh cũ (chiều dài đi qua là 15 km), khu vực huyện Xuân Lộc cũ (chiều dài đi qua là 47 km).
- Chiều dài Quốc lộ 51 (tính theo số Km là từ Km 0 – Km 38), dài 38 km, chạy qua khu vực thành phố Biên Hòa cũ (chiều dài đi qua là 15 km), khu vực huyện Long Thành cũ (chiều dài đi qua là 23 km).
- Chiều dài Quốc lộ 20 (tính theo số Km là từ Km 0 – Km 75) dài 75 km, chạy qua khu vực 3 huyện cũ: Thống Nhất (chiều dài đi qua là 20 km), Định Quán (chiều dài đi qua là 26 km), Tân Phú (chiều dài đi qua là 29 km).
- Chiều dài Quốc lộ 56 (tính theo số Km là từ Km0 – Km 18), dài 18 km, chạy qua khu vực thành phố Long Khánh cũ (chiều dài đi qua là 4 km), khu vực huyện Cẩm Mỹ cũ (chiều dài đi qua là 14 km).
- Đường Hồ Chí Minh (QL14) qua các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và thành phố Đồng Nai được nâng cấp, mở rộng từ Đăk Tô (Quảng Ngãi) đến Chơn Thành (Đồng Nai) với tổng chiều dài 553 km, gồm 6 dự án trái phiếu Chính phủ và 5 dự án BOT. Điển hình trong việc tăng tốc tiến độ phải kể đến gói thầu của Liên danh Toàn Mỹ 14 – Băng Dương (TP.HCM) làm chủ đầu tư bằng hình thức BOT đoạn qua tỉnh Lâm Đồng.
Đường hàng không
[sửa | sửa mã nguồn]Dự án sân bay quốc tế Long Thành
[sửa | sửa mã nguồn]Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cửa ngõ đường hàng không vào Việt Nam cho khu vực Đông Nam Á và thế giới. Sân bay này được xây dựng trên khu đất rộng 5000 ha thuộc địa phận phường Long Thành, thành phố Đồng Nai. Cách sân bay Tân Sơn Nhất 43 km về phía đông nam; trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 40 km; cách trung tâm thành phố Biên Hòa: 24 km.
Cảng hàng không quốc tế Long Thành có năng lực tiếp nhận 80 – 100 triệu hành khách/năm (30,000 HK/GCĐ) và 5 triệu tấn hàng hóa/năm, và các loại máy bay lớn A380-800, A380F. Chi phí đầu tư khoảng 6,6 tỷ USD – trong đó thực hiện giai đoạn 1 khoảng 2,1 tỷ USD. Dự kiến đưa vào sử dụng (trong khoảng thời gian 2011 – 2015) hỗ trợ cho cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất.
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Trung tâm phường Long Khánh Trung tâm phường Trảng Bom Phường Xuân Lộc Rừng cây cao su ở phường Long Thành Cổng chính Văn Miếu
Trấn BiênKhuê Văn Các ở
Văn Miếu Trấn BiênChùa Đại Giác ở
phường Trấn BiênĐền Nguyễn Hữu Cảnh
Cù lao Phố, Trấn BiênĐình Tân Lân ở
Chợ Biên Hoà, phường Trấn BiênNhà thờ chính tòa Xuân Lộc, phường Long Khánh Đá Ba Chồng ở xã Định Quán Cầu Long Thành trên
Cao tốc TP.HCM –
Long Thành – Dầu Giây- Di tích cấp tỉnh Đình Phước Thiền, phường Nhơn Trạch
Danh nhân
[sửa | sửa mã nguồn]- Nguyễn Hữu Cảnh là vị quan nhà Nguyễn có công khai khẩn đất hoang, lập ra dinh Phiên Trấn, đặt nền móng cho sự phát triển của vùng đất Đồng Nai.
- Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ, nhà văn yêu nước, người đã có công lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần chống Pháp của nhân dân Đồng Nai.
- Nguyễn Tri Phương là danh tướng nhà Nguyễn, có công lao to lớn trong việc chống Pháp xâm lược, bảo vệ thành Biên Hòa.
- Trịnh Hoài Đức là nhà bác học uyên thâm, có nhiều đóng góp to lớn cho lĩnh vực lịch sử, địa lý, văn hóa.
- Bùi Hữu Nghĩa là nhà thơ yêu nước, nhà văn hóa lớn của Nam Bộ.
- Nguyễn Duy là thủ lĩnh phong trào nông dân Đồng Nai, lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại ách áp bức của thực dân Pháp.
- Nguyễn Đức Ứng là một trong những thủ lĩnh chủ chốt của phong trào Bãi Sậy, góp phần làm nên chiến thắng vang dội của nghĩa quân trong trận chiến chống quân Pháp.
- Thái Bảo là chính trị gia, Ông hiện là Phó Bí thư Thành ủy Đồng Nai, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Đồng Nai.
- Phạm Xuân Ẩn là thiếu tướng quân đội, ông là một trong những nhà tình báo vĩ đại trong lịch sử. Quê hương ông ở Trấn Biên, Đồng Nai
- Huỳnh Văn Nghệ là một Thượng tá của quân đội, nổi tiếng về tài thơ ca nên ông thường được gọi là "thi tướng"
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Quyết định số 502/QĐ-BXD về việc công nhận tỉnh Đồng Nai đạt tiêu chí đô thị loại I.
- 1 2 "Nghị quyết số 30/2026/QH16 năm 2026 về việc thành lập thành phố Đồng Nai". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 24 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2026.
- 1 2 3 "Đề án thành lập phường và thành lập tỉnh Đồng Nai trực thuộc Trung ương". Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai. ngày 24 tháng 3 năm 2026. tr. 68. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 4 "Bản đồ Phương án thành lập thành phố Đồng Nai". Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai. ngày 24 tháng 3 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 12 và 12 tháng năm 2025". Cục thống kê tỉnh Đồng Nai. ngày 6 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Đồng Nai tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt 9,63%, vượt mục tiêu Nghị quyết Chính phủ giao". Sở Công thương tỉnh Đồng Nai. ngày 3 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Phân bố dân số hợp lý để phát triển bền vững". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2026.
- 1 2 3 Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%., Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- 1 2 3 4 5 "Tài nguyên tỉnh Đồng nai". Dongnai.gov.vn. ngày 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ Lê, Xuân Diệm; Phạm, Quang Sơn; Bùi, Chí Hoàng (1991). Khảo cổ Đồng Nai - thời tiền sử. Nhà xuất bản Đồng Nai. tr. 13.
- ↑ Đào, Linh Côn (1980). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1978. Nxb. Khoa học Xã hội. tr. 123–126.
- ↑ Cổng TTĐT thành phố. "Niên biểu Quảng Nam- Đà Nẵng thế kỷ 17, từ năm 1600 đến năm 1698". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Quyết định 272-CP năm 1978 về việc sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào thành phố Biên Hòa
- ↑ "Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2014.
- ↑ Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
- ↑ "Quyết định 284-HĐBT năm 1985 về việc thành lập thị xã Vĩnh An thuộc tỉnh Đồng Nai". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Quyết định 107-HĐBT ngày 10 tháng 4 năm 1991 chia các huyện Xuân Lộc và Tân Phú thành 4 huyện lấy tên là huyện Xuân Lộc, huyện Long Khánh, huyện Tân Phú và huyện Định Quán.
- ↑ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành[liên kết hỏng]
- ↑ Nghị định 51-CP năm 1994 về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai
- ↑ Nghị định 109-CP ngày 29 tháng 8 năm 1994 tái lập huyện Vĩnh Cửu; điều chỉnh địa giới một số xã phường thuộc thành phố Biên Hòa và các huyện Long Khánh, Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc
- ↑ Nghị định số 97/2003/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc; thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai[liên kết hỏng], Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- ↑ "Quyết định số 2488/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận thành phố Biên Hòa là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đồng Nai".
- ↑ "Nghị quyết 673/NQ-UBTVQH14 năm 2019 về việc thành lập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính một số đơn vị hành chính cấp xã và thành lập thành phố Long Khánh thuộc tỉnh Đồng Nai".
- 1 2 "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Nghị quyết số 1662/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đồng Nai năm 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 "Nghị quyết số 237/NQ-UBTVQH16 năm 2026 về việc thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai". Cổng thông tin điện tử Quốc hội. ngày 14 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Trình Quốc hội việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương, dự kiến hiệu lực từ 30/4/2026". Báo Điện tử Chính phủ. ngày 20 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "Đồng Nai: Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15,22% so với năm 2024". Sở Công Thương. ngày 7 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Đồng Nai thu hút FDI vượt kế hoạch năm 2025". Cổng thông tin điện tử Đồng Nai. ngày 27 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Hạ tầng công nghiệp Đồng Nai trước nhu cầu phát triển mới". Vnexpress.
- ↑ "Danh sách các KCN". Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế tỉnh Đồng Nai. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Nông nghiệp Đồng Nai bứt phá phát triển". Đồng Nai : Cổng thông tin điện tử. ngày 31 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Phát triển nông nghiệp bền vững ở Đồng Nai: "Con đường" tất yếu từ hữu cơ đến công nghệ cao". Tạp chí Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Danh bạ chợ ở Đồng Nai". Xttmdn.com. ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Khai trương Trung tâm thương mại Metro Biên Hòa". Dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Long Khánh trên đường công nghiệp hóa". Longkhanh-dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Địa hội Đảng bộ Long Thành". Daihoi.dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Quy hoạch phát triển thương mại Trảng Bom". Baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Trảng Bom có 100% y tế cơ sở đạt chuẩn quốc gia". Dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Các huyện đạt chuẩn quốc gia về y tế". Baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Mục tiên về y tế cơ sở của Đồng Nai". Baodongnai.com.vn. ngày 27 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- 1 2 Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
- 1 2 "Ngành giáo dục Đồng Nai tạo nền móng vững chắc tiến vào kỷ nguyên mới". Báo điện tử Đồng Nai. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 của Đồng Nai đạt 98,37%". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Phương án số 01/PA-UBND về về tổng thể sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 – 2025 của tỉnh Đồng Nai" (PDF). ngày 2 tháng 11 năm 2023. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
- 1 2 3 4 5 6 7 Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
- ↑ Cục thống kê tỉnh Đồng Nai (2019). Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Đồng Nai (PDF). Nhà xuất bản thống kê (xuất bản ngày 1 tháng 4 năm 2019).
- ↑ "Đồng Nai là địa phương có số lượng người Chơro đông nhất cả nước". Cổng thông tin điện tử Đồng Nai. ngày 15 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
- ↑ "Đồng bào các tôn giáo chung sức vì Đồng Nai phát triển". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Nai. Báo cáo số 403/BC-BTG ngày 30/10/2017 về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2017, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2018.
- ↑ "Gốm sứ truyền thống Bình Dương và Đồng Nai". Baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ↑ "Những làng nghề nổi tiếng". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Cụm công nghiệp nghề truyền thống của Đồng Nai". Dongnai.gov.vn. ngày 28 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Lan tỏa hình ảnh Ðồng Nai qua lễ hội". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Đồng Nai: Giữ bản sắc văn hóa qua các lễ hội truyền thống". Cục du lịch quốc gia Việt Nam.
- ↑ "Ẩm thực góp phần quảng bá du lịch địa phương". baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Du lịch Đồng Nai đón khách". Dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Thông tin Xã hội Kinh tế Lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2006 tại Wayback Machine
- Phát triển công nghiệp Đồng Nai Lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine
- Báo Đồng Nai Lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại Wayback Machine

