Đô thị Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đô thị loại I (Việt Nam))
Jump to navigation Jump to search

Đô thị tại Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn; được các cơ quan nhà nước ở Việt Nam có thẩm quyền ra quyết định thành lập. Mặc dù huyệnxã ở Việt Nam là cấp hành chính tại khu vực Nông thôn Việt Nam, nhưng trong những trường hợp đặc biệt đủ điều kiện về quy mô và tính chất đô thị hóa huyện có thể được công nhận là đô thị (như Thủ tướng quyết định công nhận huyện đảo Phú Quốc là đô thị loại II[1]; Bộ Xây dựng quyết định công nhận huyện Duy Tiên (Hà Nam), huyện Mỹ Hào (Hưng Yên) hay huyện Tịnh Biên (An Giang) là đô thị loại IV cũng như khu vực thị trấn Tĩnh Gia mở rộng thuộc huyện Tĩnh Gia là đô thị loại III), một số xã Việt Nam là các xã huyện lỵ chuẩn bị được nâng cấp lên thị trấn cũng có thể được công nhận là đô thị bởi chính quyền cấp tỉnh. Các đô thị Việt Nam được chia thành sáu loại gồm: loại đô thị đặc biệt và các đô thị từ loại I đến loại V. Các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh (hay thành phố trực thuộc trung ương) công nhận. Hiện tại Việt Nam có 2 đô thị đặc biệt là Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh, 19 đô thị loại I, 24 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 97 đô thị loại IV và hơn 500 đô thị loại V. Khoảng 38% dân số Việt Nam sống ở đô thị.

Đô thị Việt Nam trên bản đồ Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Red pog.svg Thành phố Green pog.svg Thị xã

Phân loại đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 có hiệu lực từ ngày 25 tháng 5 năm 2016 về phân loại đô thị[2].

Tại Việt Nam hiện có sáu loại hình đô thị: loại đặc biệt và từ loại I đến loại V. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP sử dụng số La Mã để phân loại đô thị, nhưng nhiều tài liệu vẫn dùng số Ả Rập: loại 1 đến loại 5.

Một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:[3]

  1. Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
  3. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
  5. Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
  6. Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo thì tiêu chí quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng. Đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia thì tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng. Đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng.

Đô thị loại đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại đặc biệt là các đô thị:[4]

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuấn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết trên.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lến.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết trên.

Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Hải Phòng cũng đang được xem xét là đô thị loại đặc biệt vào năm 2030, muộn nhất là năm 2050. Để hỗ trợ chính quyền hai thành phố này hoàn thành chức năng của đô thị loại đặc biệt, Chính phủ cho phép thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hưởng một số cơ chế tài chính-ngân sách đặc thù[5].

Đô thị loại I[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại I, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những đô thị giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại I gồm:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số: Đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 1.000.000 người trở lên, khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên; đô thị là thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên, khu vực nội thành đạt từ 200.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 85% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuấn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà NẵngCần Thơ, 16 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Bắc Ninh.

Hải Phòng là đô thị trung tâm của vùng duyên hải Bắc Bộ; Đà Nẵng là đô thị trung tâm của miền Trung; Cần Thơ là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ; Thái Nguyên là trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc; Việt Trì là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam và là trung tâm của liên tỉnh phía Bắc; Bắc Ninh là trung tâm công nghiệp, du lịch, dịch vụ tổng hợp của vùng Kinh Bắc, gắn với di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Dân ca quan họ); Hạ Long là thành phố dịch vụ, du lịch biển quốc tế, nơi có kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long; Nam Định là trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng; Thanh Hóa, VinhHuế là ba trung tâm của Bắc Trung Bộ; Nha TrangQuy Nhơn là hai trung tâm của Duyên hải Nam Trung Bộ; Đà LạtBuôn Ma Thuột là hai trung tâm của khu vực Tây Nguyên; Thủ Dầu Một, Biên HòaVũng Tàu là ba trung tâm công nghiệp của vùng Đông Nam Bộ; Mỹ Tho là đô thị trung tâm của vùng bắc sông Tiền.

Đô thị loại II[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 200.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 100.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.800 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 8.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 80% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Hiện nay có 24 thành phố, huyện trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm các thành phố: Pleiku, Long Xuyên, Hải Dương, Phan Thiết, Cà Mau, Tuy Hoà, Uông Bí, Thái Bình, Rạch Giá, Bạc Liêu, Ninh Bình, Đồng Hới, Vĩnh Yên, Lào Cai, Bà Rịa, Bắc Giang, Phan Rang - Tháp Chàm, Châu Đốc, Cẩm Phả, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Trà Vinh, Sa Đéc và huyện Phú Quốc (Kiên Giang).

Quyền quyết định công nhận đô thị loại đặc biệt, loại Iloại II thuộc về Thủ tướng chính phủ Việt Nam.[6]

Đô thị loại III[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 100.000 người trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 50.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.400 người/km2 trở lên; khu vực nội thành, nội thị tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 7.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 60% trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 75% trở lên.
  5. Trình độ phát triển, cơ sở hạ tầng kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh. Đến tháng 2/2018 có 45 đô thị loại III, gồm 30 thành phố: Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên Phủ, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Móng Cái, Sông Công, Hưng Yên, Phủ Lý, Phúc Yên, Yên Bái, Hòa Bình, Tam Điệp, Sầm Sơn, Hà Tĩnh, Đông Hà, Hội An, Kon Tum, Bảo Lộc, Cam Ranh, Tây Ninh, Tân An, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc TrăngVị Thanh; 14 thị xã: Sơn Tây, Phú Thọ, Chí Linh, Bỉm Sơn, Cửa Lò, Gia Nghĩa, Đồng Xoài, Long Khánh, La Gi, Thuận An, Dĩ An, Gò Công, Hà TiênNgã Bảy và thị trấn Tĩnh Gia mở rộng.

Đô thị loại IV[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại IV phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, vãn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện; Cơ cấu và trình độ phát triền kính tế - xã hội đạt các tiêu chuấn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 50.000 người trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 20.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.200 người/km2 trở lên; khu vực nội thị (nếu có) tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 6.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 70% trở lến.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Quyền quyết định đô thị loại III và loại IV thuộc về Bộ Xây dựng Việt Nam xem xét, thẩm định và quyết định công nhận.[7]

Các đô thị loại IV có thể là thị xã hoặc thị trấn. Đến tháng 2/2018 có 97 đô thị loại IV (trong đó có 36 thị xã, 4 huyện và 57 thị trấn).

Các thị xã là đô thị loại IV:

Các huyện được công nhận là đô thị loại IV, định hướng phát triển thành thị xã:

Các thị trấn là đô thị loại IV:

Đô thị loại V[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại V phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên; mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.

Các đô thị loại V là thị trấn.

Quyền quyết định công nhận đô thị loại V thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định số 1676/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc công nhận huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại II
  2. ^ “Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13”. 
  3. ^ Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP
  4. ^ Theo Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13
  5. ^ Xem Nghị định số 123/2004/NĐ-CPNghị định số 124/2004/NĐ-CP
  6. ^ Nghị định 42/2009/NĐ-CP, chương III, điều 17, tiểu mục 1 và 2
  7. ^ Nghị định 42/2009/NĐ-CP, chương III, điều 17, tiểu mục 3
  8. ^ Nghị định 42/2009/NĐ-CP, chương III, điều 18, tiểu mục 2

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]