An Khê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
An Khê
Thị xã
280px
Địa lý
Diện tích 199,12 km2
Dân số  
 Tổng cộng 63.118
 Mật độ 316,98
Dân tộc Kinh, Bahnar
Hành chính
Tỉnh Gia Lai
 Trụ sở UBND đường Quang Trung, phường Tây Sơn, thị xã An Khê
Phân chia hành chính 6 phường, 5
Website Gia Lai

An Khê là một trong hai thị xã của tỉnh Gia Lai, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã An Khê nằm trên quốc lộ 19 từ phường Bình Định (thị xã An Nhơn, Bình Định) đi Pleiku, cách Pleiku 90 km, cách Quy Nhơn 79 km. Nằm giữa 2 đèo An Khê (Giáp huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), Mang Yang (Giáp với huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai)

Thị xã An Khê phía đông giáp tỉnh Bình Định, phía tây và nam giáp huyện Đắk Pơ, phía bắc giáp huyện K'Bang và tỉnh Bình Định.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Diện tích: 19.912,10 ha
  • Dân số: 63.118 người

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã An Khê có 11 đơn vị hành chính bao gồm 6 phường: An Bình, An Phú, An Phước, An Tân, Ngô Mây, Tây Sơn và 5 xã: Cửu An, Song An, Thành An, Tú An, Xuân An.

Xã Song An là một xã vùng ba có nền kinh tế phát triển sau 5 phường. Hoạt động kinh tế chủ yếu ở đây là nông nghiệp với các vùng chuyên canh cây mía, ngô, chăn nuôi gia súc.

An Khê với một số di tích lịch sử như: Khu di tích Tây Sơn Thượng Đạo, Khu di tích Cửu An thuộc xã Cửu An và nhiều khu di tích, danh lam thắng cảnh khác đang dần được tu sửa và chỉnh trang sẽ là những nơi du lịch bổ ích cho khách thập phương. An Khê nằm giữa Gia Lai và Bình Định là cầu nối giữa Tây Nguyên với vùng duyên hải Nam trung Bộ Với quốc lộ 19, một trong những tuyến đường huyết mạch của tỉnh Gia Lai đang ngày càng được nâng cấp để trở thành những tuyến đường tốt nhất.

Quy hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Quy hoạch xây dựng thị xã An Khê đến năm 2020:

  1. Tính chất: Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng của vùng phía Đông tỉnh Gia Lai. Là đô thị loại IV.
  2. Dự báo quy mô dân số: năm 2015 là 80.000 dân (nội thị 50.000 dân); Đến năm 2020 là 90.000 dân (nội thị 60.000 dân).
  3. Quy mô đất đai: Tổng diện tích tự nhiên là 19.912ha, trong đó gồm: 7 phường (4.477 ha); 6 xã (15.553 ha). Trong đó đất xây dựng đô thị là 2.661 ha.

Phát triển không gian đô thị:

  • thị xã An Khê đến năm 2020 có 7 phường và 6 xã. Phát triển và mở rộng đô thị lõi về phía Đông Bắc thị xã.
  • đến năm 2015 xây dựng đường tránh Quốc lộ 19 đi lên phía Bắc của thị xã, hình thành một tuyến đường vành đai phía Nam. Giai đoạn hai (sau 2015) định hướng tuyến đường tránh Quốc lộ 19 về phía Bắc của thị xã, trên tuyến đường tránh giai đoạn đầu của thị xã khoảng 2 km.
  • Khu vực nội thị lấy trục đường Quang Trung, Đường Đỗ Trạc làm trục trung tâm hướng Đông - Tây của đô thị; lấy Sông Ba làm trục công viên cây xanh và mặt nước trung tâm theo hướng Bắc - Nam của đô thị.
  • Hình thành khu liên hợp TDTT phía nam khu đô thị An Tân, bố trí các khu công viên cây xanh, khu TDTT cho từng khu ở và chuyển đổi 80 ha đất thuộc Khu CN tập trung An Khê (Phường An Bình) để hình thành khu công viên cây xanh TDTT phía tây sông Ba. Đầu tư xây dựng Khu di tích Tây Sơn thượng đạo, khu du lịch hồ bến Tuyết. Đầu tư và đưa vào sử dụng sân vận động hiện có. Thu hút đầu tư thêm các loại hình dịch vụ vào Khu công viên hồ thủy tạ phường Tây Sơn (Ao cá Bác Hồ).
  • Về nhà ở: Các khu nhà ở của thị xã An Khê được hình thành theo 2 hình thức chính sau:
  1. Khu nhà ở xây dựng dạng đô thị tập trung dọc theo quốc lộ 19 và khu nội thị;
  1. Khu nhà ở xây dựng dạng thị tứ dọc theo các tuyến giao thông chính, trung tâm xã ngoại thị.
  • Về công nghiệp:

Hình thành khu TTCN phường An Bình (20 ha). Hình thành khu Công nghiệp tập trung tại xã Song An với quy mô 200-300 ha.

  • Về Thương mại - Du lịch:

Đầu tư chợ trung tâm thị xã. Hình thành 02 chợ đầu mối thu mua nông thổ sản tại thôn Cửu Định và thôn Tân Lập. Hình thành khu siêu thị tại khu Đô thị An Tân

Phát triển du lịch trên cơ sở đầu tư khai thác tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, làng nghề truyền thống.

Bến xe: Bến xe khách liên tỉnh bố trí tại khu Đô thị An Tân, hình thành thêm hai bến xe buýt ở khu trung tâm nội thị. Hình thành 01 bến bãi xe tải tại thôn Tân Lập phường Ngô Mây

Hạ tầng kỹ thuật:

  • Quy hoạch hệ thống giao thông:

- Đường vành đai Bắc giai đoạn dài hạn: Chỉ giới 50m. Đường vành đai Nam: Chỉ giới 36m.

- Đường Quang Trung: Chỉ giới 30m

- Đường Tỉnh lộ 669 đoạn từ khu đô thị An Tân đi về phía Bắc: Chỉ giới 35m

- Các trục giao thông chính trong khu nội thị: Chỉ giới 20 - 27m

- Các trục giao thông chính trong khu ở: Chỉ giới 13 - 17,5m

  • Quy hoạch hệ thống nước thải - vệ sinh môi trường:

Xây dựng một trạm xử lý nước thải nằm phía đông nam Sông Ba.

- Rác thải:

Rác được tập trung về bãi chôn rác thuộc địa phận xã Song An diện tích dự kiến 20-50 ha.

  • Quy hoạch hệ thống cấp nước:

Lưu lượng cấp trung bình = 17825 m3/ngày. Nguồn cấp nước từ sông Ba, hai tháng cao điểm mùa khô mỗi năm sẽ được lấy từ nguồn nước hồ thủy điện An Khê - Knak.

- Thông tin liên lạc: Đến năm 2020 đạt chỉ tiêu 20 máy điện thoại/100 dân, phủ sóng toàn thị xã các mạng điện thoại di động. Bố trí các điểm Bưu điện với từng khu dân cư.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

An Khê vốn là thị trấn huyện lị huyện Tân An, tỉnh Kon Tum thời thuộc Pháp.

Thời Việt Nam Cộng hòa, ban đầu nó là quận lị quận Tân An, tỉnh Pleiku. Ngày 13/3/1959, nó trở thành quận lị quận An Túc (là quận Tân An cũ) và được nhập vào tỉnh Bình Định.

Thời kỳ 1976-1991, An Khê là huyện lị huyện An Khê, thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum, sau đó thuộc tỉnh Gia Lai. Huyện An Khê ban đầu gồm có 22 xã: Chơ Long, Cư An, Cửu An, Đắk Song, Đông, Hà Tam, K’rong, Lơ Ku, Nam, Nghĩa An, Phú An Cư, Sơ Pai, Sơn Lang, Song An, Sró, Tân An, Tú An, Ya Hội, Ya Ma, Yang Bắc, Yang Nam, Yang Trung.

Theo sự điều chỉnh địa giới ngày 2/3/1979, thị trấn An Khê được lập trên cơ sở chia tách xã Phú An Cư thành xã Phú An và thị trấn An Khê. Địa giới thị trấn An Khê: phía bắc giáp 3 xã Cửu An, Cự An, Tú An; phía đông giáp núi Hòn Nhọn, phía tây giáp các xã Tân An, Cư An; phía nam giáp các xã Tân An, Phú An. Chia xã Yang Trung thành hai xã lấy tên là xã Yang Trung và xã An Trung.

Ngày 17/8/1981, chia xã An Trung thành 2 xã lấy tên là xã An Trung và xã Chư Krey.

Ngày 29/10/1983, chia xã Nam thành 3 xã lấy tên là xã Kông Pla, xã Kông Lơng Khơng và xã Tơ Tung.

Ngày 28/12/1984, chuyển 2 xã Đắk Rong và Kon Pne thuộc huyện Kon Plông về huyện An Khê quản lý. Cùng năm, tách 11 xã Đắk Rong, Kon Pne, Sơn Lang, Sơ Pai, K'rong, Tơ Tung, Kông Lơng Khơng, Kong Pla, Đông, Nghĩa An, Lơ Ku để thành lập huyện K'Bang. Huyện An Khê còn lại 17 xã: Cư An, Cửu An, Song An, Tân An, Hà Tam, Tú An, Phú An, Ya Hội, Yang Bắc, Yang Nam, Yang Trung, An Trung, Chư Krey, Chơ Long, Sró, Đắk Song, Ya Ma và 1 thị trấn An Khê.

Ngày 30/5/1988, tách 8 xã: An Trung, Chư Long, Chư Krey, Đắk Song, Sró, Ya Ma, Yang Nam, Yang Trung để thành lập huyện Kông Chro. Huyện An Khê còn lại 9 xã: Cửu An, Hà Tam, Phú An, Song An, Tân An, Tú An, Ya Hội, Yang Bắc, An Cư và 1 thị trấn An Khê.

Ngày 29/8/1994, chia xã Cư An thành 2 xã: Cư An và Thành An; chia xã Hà Tam thành 2 xã: Hà Tam và An Thành.

Cuối năm 2002, huyện An Khê có 12 đơn vị hành chính gồm thị trấn An Khê và 11 xã: Tú An, Cửu An, Song An, Thành An, Phú An, Tân An, Cư An, Ya Hội, Yang Bắc, An Thành, Hà Tam.

Thị xã An Khê được thành lập ngày 9 tháng 12 năm 2003, khi huyện An Khê được chia thành thị xã An Khê và huyện Đắk Pơ theo Nghị định số 155/2003/NĐ-CP của Chính phủ, thành lập 4 phường: An Bình, Tây Sơn, An Phú, An Tân trên cơ sở giải thể thị trấn An Khê[1].

Ngày 19 tháng 1 năm 2009, theo Nghị định 02/NĐ-CP của Chính phủ thành lập xã Xuân An trên cơ sở điều chỉnh 2.793,00 ha diện tích tự nhiên và 3.504 nhân khẩu của xã Tú An; thành lập phường An Phước trên cơ sở điều chỉnh 1.879,22 ha diện tích tự nhiên và 2.970 nhân khẩu của xã Cửu An, thành lập phường Ngô Mây trên cơ sở điều chỉnh 1.004,10 ha diện tích tự nhiên và 4.750 nhân khẩu của xã Song An.[2].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]