Việt Yên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Việt Yên
Huyện
Địa lý
Diện tích 171,4[1]
Dân số  
 Tổng cộng 181 034 (2016) [2]
 Mật độ mật độ bình quân 910 người/km² , các xã phía bắc huyện mật độ 700người/km² còn các xã phía nam như Mật Ninh có mật độ 1689 người/km² Tăng Tiến có 1506 người/km²
Hành chính
Tỉnh Bắc Giang
Huyện lỵ Thị trấn Bích Động
Phân chia hành chính 2 thị trấn, 17

Việt Yên là một huyện đồng bằng, nằm ở phía tây tỉnh Bắc Giang. Đây là huyện có nhiều làng quan họ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc với 19 làng quan họ đã được UNESCO đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Yên là huyện trung du miền núi , nằm giữa lưu vực sông Cầu và Sông Thương , ở khoảng 20 độ 16 phút - 21 độ 17 phút vĩ độ Bắc 106 độ 01 phút - 107 độ 07 phút độ kinh đông , có diện tích khoảng 171,4 km² (bằng 4,5% diện tích tỉnh Bắc Giang)

Việt Yên là huyện nằm ven sông Cầu, có địa giới hành chính như sau:

  • Phía nam và tây nam giáp huyện Yên Phong , thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ của tỉnh Bắc Ninh
  • Phía tây và tây bắc giáp huyện Hiệp Hòa,
  • Phía đông giáp huyện Yên Dũng và thành phố Bắc Giang
  • Phía bắc giáp huyện Tân Yên

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị hành chính gồm:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Yên là một vùng đất cổ, xuất hiện trên bản đồ Tổ quốc từ khá sớm. Thời Hùng Vương - An Dương Vương, Việt Yên thuộc huyện Tây Vu, bộ Vũ Ninh của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc.

Thời Bắc thuộc, Việt Yên vẫn thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Thời Lý, sau chiến thắng quân Tống vào mùa xuân năm 1077, một vùng đất ven tả ngạn sông Cầu đối diện với Như Nguyệt - Thị Cầu, Vạn Xuân được lập ra thành một đơn vị hành chính mới - huyện Yên Việt, thuộc phủ Bình Lỗ, lộ Bắc Giang.

Yên Việt cùng với phòng tuyến sông Như Nguyệt là những cái tên ghi lại trang sử oanh liệt của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống thế kỷ 11. Tên gọi Yên Việt tồn tại tới thế kỷ 19.

Tháng 7 năm 1820, (năm Minh Mệnh thứ nhất), huyện Yên Việt đổi tên thành huyện Việt Yên.

Trải qua thời gian, địa giới hành chính huyện Việt Yên đã có nhiều thay đổi. Dư­ới các triều đại phong kiến Việt Nam, huyện Việt Yên có 5 tổng: Ngọ Xá, Đông Lỗ, Tiên Lát, Quang Biểu, Hư­ơng Tảo, chạy dài theo tả ngạn sông Cầu, huyện lỵ đặt ở Yên Viên (làng Vân) thuộc xã Vân Hà ngày nay.

Khi thực dân Pháp xâm lược n­ước ta, để phục vụ cho chính sách cai trị, chúng điều chỉnh lại đơn vị hành chính các địa ph­ương, trong đó huyện Việt Yên có sự điều chỉnh khá lớn: Hai tổng Ngọ Xá, Đông Lỗ cắt về huyện Hiệp Hòa, tổng Hư­ơng Tảo cắt về huyện Yên Dũng, đồng thời Việt Yên nhận về 5 tổng của huyện Yên Dũng: Mật Ninh, Dĩnh Sơn, Tự Lạn, Thiết Sơn, Hoàng Mai.

Sau khi điều chỉnh lại đơn vị hành chính, từ đầu thế kỷ 20, chính quyền thực dân rời huyện lỵ về Bích Động. Trư­ớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, huyện Việt Yên có 7 tổng: Quang Biểu, Tiên Lát, Mật Ninh, Dĩnh Sơn, Tự Lạn, Thiết Sơn, Hoàng Mai, gồm 67 xã. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ đơn vị hành chính tổng, thành lập đơn vị hành chính liên xã hoặc xã. Từ 67 xã nay sáp nhập thành 21 xã với các tên gọi­: Chấn Hưng, Cộng Hòa, Hồng Phong, Kính Ái, Hà Lạn, Ph­ương Lạn, Cai Vàng, Mỏ Ngân, Nghĩa Hạ, Thiết Th­ượng, Chu Ngàn, Quang Tiến, Quang Trung, Khả Cao, Tăng Long, Thần Chúc, Tiên Sơn, Yên Hà, Tự Lạn, Thiện Mỹ, Ninh Sơn.

Trong kháng chiến chống Pháp, để phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo được thuận tiện, Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu I đã hợp nhất các liên xã hoặc xã thành những xã lớn hơn nh­ư ba xã Chấn Hưng, Cộng Hòa, Vân Trung thành Hồng Phong; hai xã Hà Lạn, Phư­ơng Lạn thành xã Việt Tiến; hai xã Cai Vàng, Mỏ Ngân thành xã Minh Đức; hai xã Chu Ngàn, Quang Tiến thành xã Quang Châu; hai xã Tự Lạn, Thiện Mỹ thành xã Lan Đình; ba xã Ninh Sơn, Khả Cao, Quang Trung thành xã Quảng Minh; ba xã Yên Hà, Thần Chúc, Tiên Sơn thành xã Sơn Hà. Cuối năm 1950, xã Song Mai cắt từ huyện Lạng Giang nhập vào huyện Việt Yên.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, theo chủ trư­ơng của cấp trên, các xã lớn lại được chia thành các xã nhỏ hơn: xã Việt Tiến chia thành Việt Tiến, Hòa Tiến; xã Kính Ái chia thành Hồng Thái, Tăng Tiến; xã Hồng Phong chia thành Dân Tiến, Hòa Bình; xã Quảng Minh chia thành Quảng Minh, Ninh Sơn; xã Sơn Hà chia thành Vân Hà, Tiên Sơn; xã Lan Đình chia thành Thượng Lan, Tân Tiến.

Ngày 15-10-1957, Bộ Nội vụ ra Thông tư­ số 5904 về việc đặt tên xã, xóm ở nông thôn. Căn cứ vào thông t­ư của Bộ Nội vụ, tên một số xã ở huyện Việt Yên đã đư­ợc đổi lại. Năm 1968, xã Tân Tiến đổi thành xã Tự Lạn; xã Dân Tiến đổi thành xã Vân Trung. Năm 1973, xã Hòa Bình đổi thành xã Hoàng Ninh. Năm 1974, xã Hòa Tiến đổi thành xã Hương Mai. Từ đó, huyện Việt Yên có 18 xã: Bích Sơn, Hoàng Ninh, Hồng Thái, Hương Mai, Minh Đức, Nghĩa Trung, Ninh Sơn, Quang Châu, Quảng Minh, Song Mai, Tăng Tiến, Thượng Lan, Tiên Sơn, Trung Sơn, Tự Lan, Vân Hà, Vân Trung, Việt Tiến.

Ngày 27-10-1962, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1963, huyện Việt Yên thuộc tỉnh Hà Bắc.

Ngày [[1]], Bộ Nội vụ ra Quyết định số 127/NV cắt hai thôn Đa Mai và Thanh Mai thuộc xã Song Mai để thành lập tiểu khu Đa Mai trực thuộc thị xã Bắc Giang (nay là phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang).

Ngày 3-5-1985, xã Song Mai được sáp nhập vào thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang). Huyện Việt Yên có 17 xã: Bích Sơn, Hoàng Ninh, Hồng Thái, Hương Mai, Minh Đức, Nghĩa Trung, Ninh Sơn, Quang Châu, Quảng Minh, Tăng Tiến, Thượng Lan, Tiên Sơn, Trung Sơn, Tự Lan, Vân Hà, Vân Trung, Việt Tiến.

Ngày 6-11-1996, tỉnh Bắc Giang được tái lập từ tỉnh Hà Bắc cũ, huyện Việt Yên trở lại thuộc tỉnh Bắc Giang.

Ngày 22-12-1997, thành lập thị trấn Bích Động - thị trấn huyện lỵ huyện Việt Yên trên cơ sở 526,95 ha diện tích tự nhiên và 6243 nhân khẩu của xã Bích Sơn.

Ngày [[2]], thành lập thị trấn Nếnh trên cơ sở 348,58 ha diện tích tự nhiên và 4.271 nhân khẩu của xã Hoàng Ninh; 211,97 ha diện tích tự nhiên và 2.861 nhân khẩu của xã Quảng Minh.

Dự kiến năm 2020, xã Tăng Tiến sẽ được sáp nhập vào thành phố Bắc Giang.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

quốc lộ 1A, quốc lộ 37, đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn, sông Cầu chạy qua , tỉnh lộ 295 B , tuyến đường sắt xuyên việt chạy qua huyện , nối liền Việt Yên với thủ đô Hà Nội và biên giới Việt Nam - Trung Quốc . Tỉnh lộ 172,289,398 cùng mạng lưới đường liên xã , liên thôn nối liền các thôn xã với nhau và các vùng xung quanh

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Yên có nhiều ngôi đình không những mang giá trị lịch sử, văn hoá tiêu biểu mà còn trở thành biểu trưng văn hóa của làng xã Việt Nam như đình Thổ Hà (Vân Hà - Việt Yên) xây dựng năm 1686; đình Đông (Bích Động - Việt Yên), đình Mật Ninh. Nhiều ngôi chùa ở Việt Yên cũng đã được ghi nhận trong lịch sử Phật giáo Việt Nam như: chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn - Việt Yên).chùa Vĩnh Hưng (thôn Khả Lý thượng, xã Quảng Minh, Việt Yên), chùa Sùng Nghiêm và đình làng Vân Cốc (thôn Vân Cốc, xã Vân Trung, Việt Yên) được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đặc biệt vào ngày 16 17 18 tháng 2 âm lịch tại 2 chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn) và Sùng Nghiêm (thôn Vân Cốc, xã Vân Trung) có ngày hội lớn, tại thôn Vân Cốc, xã Vân Trung có lễ rước thánh rất trang nghiêm. Tại làng Đồng, xã Trung Sơn, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra di tích cổ là Miếu cổ bên trong Cây Xanh.[cần dẫn nguồn]

Các làng quan họ Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Yên là huyện có nhiều làng quan họ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc. Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có 24 làng quan họ, thì Việt Yên có tới 20 làng quan họ cổ (Toàn vùng Kinh Bắc hiện có 68 làng, trong đó: Yên Phong có 16 làng, Từ Sơn có 3 làng, Tiên Du có 11 làng, thành phố Bắc Ninh có 14 làng, Yên Dũng có 2 làng, Hiệp Hòa có 2 làng).

20 làng quan họ Bắc Giang ở Việt Yên gồm: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ, Mật Ninh, Quang Biểu, Núi Hiểu, Tam Tầng, Thổ Hà, Tiên Lát Thượng, Tiên Lát Hạ, Thần Chúc, Yên Ninh, Trung Đồng, Vân Cốc, Đình Cả, Đông Long, Khả Lý Thượng, Đạo Ngạn, Văn Xá.[3]

Kinh tế và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay Việt Yên đang trên đà phát triển. Điển hình là khu công nghiệp Đình Trám (Nhà máy ô tô Hyundai lớn nhất Việt Nam), Khu công nghiệp Đình Trám. Khu công nghiệp Quang Châu đã đưa vào sử dụng, với số lượng công nhân làm việc lên tới hơn 10.000 lao động (số liệu tháng 11/2011). Ngoài ra còn có Quảng Minh với những làng rau xanh lớn vào loại nhất khu vực miền bắc: Đông Long, Mật Ninh, Khả lý Thượng, Hạ... cung cấp ra cho cho hầu hết miền bắc và xuất khẩu. Nơi phát lưu truyền những làn điệu quan họ của Kinh Bắc xưa ven dòng sông Cầu huyền thoại và lịch sử. Giáo dục có tất cả bốn trường thpt: Việt Yên Số 1, 2, Lý Thường Kiệt, Trường TH, THCS, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, và một trường Đại học Nông Lâm, chất lượng giáo dục của trường thpt Việt Yên số 1 được xếp vào tốp đầu của tỉnh!

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân Nhân Trung.
  • Anh hùng Nguyễn Văn Cốc.
  • Quận công Dương Quốc Cơ (người làng Vân Cốc, xã Vân Trung - sinh trưởng trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học. Quận công Dương Quốc Cơ là đời thứ 8 của Hoàng giáp Ngô Văn phòng
  • Nhà văn Đỗ Chu
  • Ông Chu Bá Phượng, Bộ trưởng bộ Cứu Tế xã hội năm 1945 đến 1946. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, năm 1946 ông là Ủy viên quốc hội khóa I (1946-1960) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Trong chính phủ ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh Tế.
  • Thân Nhân Trung.
  • Anh hùng Nguyễn Văn Cốc.
  • Quận công Dương Quốc Cơ (người làng Vân Cốc, xã Vân Trung - sinh trưởng trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học. Quận công Dương Quốc Cơ là đời thứ 8 của Hoàng giáp Ngô Văn phòng
  • Nhà văn Đỗ Chu[4]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản đồ tỉnh Bắc Giang, Nhà xuất bản Bản đồ, 2016
  2. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.13.
  3. ^ Quyết định số 57/QD - ủy ban nhân dân về việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa Bắc Giang
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Phiên bản Đỗ Chu, báo Bắc Giang

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]