Cai Lậy (thị xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thị xã Cai Lậy
Thị xã
Địa lý
Tọa độ: 10°24′20″B 106°06′5″Đ / 10,40556°B 106,10139°Đ / 10.40556; 106.10139Tọa độ: 10°24′20″B 106°06′5″Đ / 10,40556°B 106,10139°Đ / 10.40556; 106.10139
Diện tích 140,2 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 123.775 người
 Mật độ 883 người/km²
Dân tộc Kinh,...
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho cũ)
Phân chia hành chính 6 phường và 10 xã

Cai Lậy là một thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang (trước đây nằm trong huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho và từ năm 1976 thuộc tỉnh Tiền Giang), Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Thị xã Cai Lậy có 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và dân số là 123.775 người.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang:

Nguồn gốc địa danh Cai Lậy[sửa | sửa mã nguồn]

Cai Lậy ban đầu chỉ là tên một giồng cát nằm ở ấp Hữu Hòa (ngày nay thuộc phường 1, thị xã Cai Lậy) do ông Cai cơ Ngô Tấn Lễ chỉ huy khai khẩn. Cai cơ Ngô Tấn Lễ là tướng của chúa Nguyễn Ánh, dưới quyền Võ Tánh. Từ Cai Lễ nói trại thành Cai Lậy. Chợ Cai Lậy được lập từ cuối thế kỷ XVIII.

Ban đầu, địa danh Cai Lậy chỉ là tên một ngôi chợ tại thôn Thanh Sơn (sau này là làng Thanh Sơn) thuộc tỉnh Định Tường và sau đó là tỉnh Mỹ Tho. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Cai Lậy do lấy theo tên gọi Cai Lậy vốn là nơi đặt quận lỵ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành nghị quyết số 130/NQ-CP[1] điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại. Nội dung Nghị quyết về việc thành lập thị xã Cai Lậy như sau:

1. Thành lập thị xã Cai Lậy thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và 123.775 nhân khẩu của huyện Cai Lậy, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và các xã Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Bình, Tân Hội, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Thanh Hòa, Phú Quý, Long Khánh.

Thị xã Cai Lậy có 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và 123.775 nhân khẩu.

2. Điều chỉnh địa giới hành chính thị trấn Cai Lậy và các xã Nhị Mỹ, Tân Bình để thành lập 6 phường thuộc thị xã Cai Lậy:

  • Thành lập phường 1 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 68,36 ha diện tích tự nhiên, 10.027 nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy; 79,15 ha diện tích tự nhiên, 995 nhân khẩu của xã Tân Bình và 73,02 ha diện tích tự nhiên, 405 nhân khẩu của xã Nhị Mỹ. Phường 1 có 220,53 ha diện tích tự nhiên và 11.427 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 2 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 215,54 ha diện tích tự nhiên, 3.854 nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và 133,65 ha diện tích tự nhiên, 1.562 nhân khẩu của xã Tân Bình. Phường 2 có 349,19 ha diện tích tự nhiên và 5.416 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 3 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 278,19 ha diện tích tự nhiên, 2.778 nhân khẩu của xã Tân Bình và 57,56 ha diện tích tự nhiên, 545 nhân khẩu của xã Nhị Mỹ. Phường 3 có 335,75 ha diện tích tự nhiên và 3.323 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 4 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 85,57 ha diện tích tự nhiên, 4.858 nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và 118,17 ha diện tích tự nhiên, 1.181 nhân khẩu của xã Nhị Mỹ. Phường 4 có 203,74 ha diện tích tự nhiên và 6.039 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 5 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 255,62 ha diện tích tự nhiên và 7.499 nhân khẩu còn lại của thị trấn Cai Lậy. Phường 5 có 255,62 ha diện tích tự nhiên và 7.499 nhân khẩu.
  • Thành lập phường Nhị Mỹ thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 553,84 ha diện tích tự nhiên và 4.586 nhân khẩu còn lại của xã Nhị Mỹ. Phường Nhị Mỹ có 553,84 ha diện tích tự nhiên và 4.586 nhân khẩu.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Cai Lậy, thị xã Cai Lậy có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: Phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường Nhị Mỹ và các xã Tân Bình, Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Hội, Nhị Quý, Thanh Hòa, Phú Quý, Long Khánh.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã Cai Lậy có 16 đơn vị hành chính, gồm:

  1. Phường 1
  2. Phường 2
  3. Phường 3
  4. Phường 4
  5. Phường 5
  6. Phường Nhị Mĩ
  7. Long Khánh
  8. Mỹ Hạnh Đông
  9. Mỹ Hạnh Trung
  10. Mỹ Phước Tây
  11. Nhị Quý
  12. Phú Quý
  13. Tân Bình
  14. Tân Hội
  15. Tân Phú
  16. Thanh Hoà.
Nhà thờ Tin Lành ở Cai Lậy

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã Cai Lậy là trung tâm kinh tế, chính trị xã hội quan trọng của khu vực phía Tây Tỉnh Tiền Giang, là cực đối trọng kinh tế với thị xã Gò Công. Thị xã Cai Lậy từ lâu được biết đến là trung tâm mua bán, trao đổi hàng hóa sầm uất của khu vực Đồng Tháp Mười.

Định hướng phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quy hoạch phát triển chung của tỉnh, thị xã Cai Lậy sẽ được nâng cấp phát triển thành đô thị văn minh, hiện đại của tỉnh Tiền Giang.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nghị quyết 130/NQ”. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015.