Hòa Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hòa Thành
Huyện
280px
Thị trấn Hòa Thành
Địa lý
Diện tích 81,8 km2
Dân số (2014)  
 Tổng cộng hơn 144.000 người
 Mật độ khoảng 1710 người/ km2
Dân tộc kinh,..
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Tây Ninh
Huyện lỵ thị trấn Hòa Thành
Phân chia hành chính 1 thị trấn và 7 xã
Mã hành chính [1]
Mã bưu chính 840000
Website Huyện Hòa Thành

Hòa Thành là một huyện thuộc tỉnh Tây Ninh, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Hoà Thành là huyện của tỉnh Tây Ninh. Nằm ở vị trí trung tâm giáp với 5 huyện thị trong tỉnh. Đông Bắc giáp huyện Dương Minh Châu, Tây giáp TP Tây NinhChâu Thành. Nam và Đông Nam giáp huyện Bến CầuGò Dầu. Xưa là huyện Phú Khương.

Diện tích, dân số, giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích: 81,8 km2.

Dân số: 135200 người.

Mật độ: 1653 người/km2.

Huyện lị: thị trấn Hòa Thành.

Huyện gồm thị trấn Hòa Thành và 7 xã khác: Hiệp Tân, Long Thành Bắc, Long Thành Nam, Long Thành Trung, Trường Đông, Trường Hòa, Trường Tây. Dân cư trong huyện gồm các dân tộc: Kinh, Chăm, Khmer và người Hoa.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1698, Hòa Thành là phần đất nằm trong đạo Quang Phong thuộc phủ Gia Định. Vào thời kỳ này, đất đai Hòa Thành phần lớn là rừng rậm hoang vu. Hạt Tây Ninh, lúc bấy giờ mới có 2 quận: Trảng BàngThái Bình. Năm 1942, quận Thái Bình đổi tên là quận Châu Thành thì Hòa Thành chỉ là phần đất Đông Nam huyện gồm 4 xã. Sau năm 1954, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia huyện Châu Thành là 2 quận: Phú Khương và Phước Ninh. Quận Phú Khương gồm 11 xã. Hòa Thành ngày nay, gồm phần lớn diện tích đất của quận Phú Khương xưa.

Chính quyền cách mạng, thời kỳ 1955-1956, thành lập huyện Tòa Thánh gồm 4 xã. Cuối năm 1960, huyện Tòa Thánh, sáp nhập với huyện Dương Minh Châu, lấy tên là huyện Phú Khương. Nhưng sau huyện Tòa Thánh lại tách ra khỏi huyện Phú Khương. Đến năm 1979, huyện Phú Khương được đổi tên lại thành huyện Hòa Thành, trên cơ sở chữ cuối của các xã Trường Hòa và Long Thành ghép lại, cho đến ngày nay, mặc dù số lượng xã có thay đổi.

Ngày 4 tháng 4 năm 1979, địa giới huyện Hòa Thành có sự điều chỉnh như sau:

  • Chia xã Long Thành thành các xã Long Thành Bắc, Long Thành Trung, Long Thành Nam và thị trấn Hòa Thành.
  • Chia xã Hiệp Ninh thành xã Hiệp Ninh và xã Hiệp Tân.
  • Chia xã Ninh Thạnh thành xã Ninh Thạnh và xã Ninh Sơn.
  • Chia xã Trường Hòa thành xã Trường Hòa, xã Trường Đông và xã Trường Tây.
  • Xã Suối Vàng Cạn đổi tên thành xã Tân Bình.

Ngày 10 tháng 8 năm 2001, các xã Tân Bình, Ninh Sơn, Ninh Thạnh, Thạnh Tân, Hiệp Ninh và 139 ha diện tích tự nhiên với 7.815 nhân khẩu của xã Hiệp Tân được sáp nhập vào thị xã Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh). Từ đó, huyện Hòa Thành còn lại 8.816 ha diện tích tự nhiên và 129.040 nhân khẩu, có 8 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Long Thành Nam, Long Thành Trung, Long Thành Bắc, Trường Tây, Trường Đông, Trường Hòa, Hiệp Tân và thị trấn Hòa Thành.

Kinh tế, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa Thành là một huyện trọng điểm của Tây Ninh. Chợ Long Hoa là trung tâm thương mại nằm trên cửa ngõ giao lưu giữa Tây Ninhthành phố Hồ Chí Minh. Tòa Thánh Cao Đài thuộc huyện Hòa Thành là một địa điểm du lịch, hành hương khá nổi tiếng với lễ tết Trung thu hằng năm thu hút hơn 100.000 khách tham quan [cần dẫn nguồn].

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình Hoà Thành tương đối bằng phẳng, có xu hướng nghiêng dần từ bắc xuống nam. Đất đai, khí hậu Hoà Thành rất thuận lợi cho việc phát sinh, phát triển nhanh, mạnh, đa dạng và phong phú các chủng loại cây rừng và các loài sinh vật khác. Rừng Hoà Thành có nhiều gỗ quý, thú rừng, do đường giao thông thuận lợi nên việc khai thác rất dễ dàng.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hoà Thành có mạng lưới giao thông thuỷ bộ khá dày đặc. Phía nam huyện có sông Vàm Cỏ Đông chảy qua, dài 11 km với cảng Bến Kéo. Trong thời gian chiến tranh, quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng Bến Kéo như một quân cảng với "giang thuyền" hoạt động tuần tra liên tục. Ngoài ra, có rạch Tây Ninh, suối Rạch Rễ phân bố đều trong huyện phục vụ tốt cho nông nghiệp, giao thông, công nghiệp và nhu cầu dân sinh. Đường bộ, ngoài các trục lộ chính như quốc lộ 22B đoạn qua huyện dài 12,8 km, đường tỉnh 781, 785, 790, 793, 797, 798, 799, còn có mạng lưới đường nông thôn chằng chịt từ thị trấn toả đi các xã trong và ngoài huyện. Hệ thống giao thông này, rất thuận lợi phục vụ cho nhu cầu đi lại giữa các vùng và các khu vực sản xuất, góp phần mở rộng giao lưu về kinh tế - văn hoá giữa huyện với các huyện khác trong tỉnh, với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác.

Bản mẫu:Các huyện thị Đông Nam Bộ (Việt Nam)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012.