Tây Ninh (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tây Ninh
Thành phố trực thuộc tỉnh
Phuong 3, Thi Xa Tay Ninh.jpg
Địa lý
Tọa độ: 11°22′4″B 106°07′8″Đ / 11,36778°B 106,11889°Đ / 11.36778; 106.11889Tọa độ: 11°22′4″B 106°07′8″Đ / 11,36778°B 106,11889°Đ / 11.36778; 106.11889
Diện tích 140 km²[1]
Dân số (2013)  
 Tổng cộng 153.537 người[1]
 Mật độ 1.097 người/ km²
Dân tộc Kinh,...
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Tây Ninh
Thành lập 2013
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Phạm Trung Chánh
 Chủ tịch HĐND Thành Từ Dũ
 Bí thư Huyện ủy Trần Hữu Hậu
Phân chia hành chính 7 phường và 3 xã
Mã hành chính 703[1]
Website Tỉnh Tây Ninh

Thành phố Tây Ninh được thành lập theo Nghị quyết số 135/2013/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ, hiện là đô thị loại III và là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, hành chính của tỉnh Tây Ninh cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 100 km về phía Tây Bắc, có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi giao nhau giữa các quốc lộ 22B, đường đi đến cửa khẩu Mộc BàiXa Mát.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Tây Ninh gồm 7 phường: 1, 2, 3, 4, Hiệp Ninh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh và 3 xã: Bình Minh, Tân Bình, Thạnh Tân.

Cáp treo lên núi Bà Đen

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Với Hoà ước Giáp Tuất ngày 15 tháng 3 năm 1874, Nam Kỳ Lục tỉnh trở thành thuộc địa của Pháp. Ngày 5 tháng 6 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ là Đuyprê ra Nghị định chia Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac, thời điểm này Tây Ninh thuộc Sài Gòn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1942, Tỉnh trưởng của tỉnh Tây NinhTờ trình số 2206/A01 gửi Thống đốc Nam kỳ đề nghị thành lập tại xã Thái Hiệp Thạnh khu thị tứ (thị xã) Tây Ninh. Dân số vào thập niên 1930 là 3.700.[2]

Ngày 9 tháng 12 năm 1942, Thống đốc Nam kỳ ban hành Nghị định 8345 ấn định ranh giới Tây Ninh. Sau Cách mạng Tháng Tám tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên ranh giới cũ. Năm 1950, cắt một phần đất của Thái Hiệp Thạnh cũ thành lập thị xã Tây Ninh, nhưng do chưa đủ điều kiện hoạt động nên sau đó giải thể. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, thành lập lại Thị xã Tây Ninh trên địa bàn cũ, do Võ Văn Truyện làm Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Uỷ ban hành chính. Thị xã chỉ giới hạn trong phạm vi xã Thái Hiệp Thạnh và bao gồm phần thị tứ nhất của ba xã Thái Bình, Hiệp NinhNinh Thạnh.

Sau năm 1975, thị xã Tây Ninh có 3 phường: 1, 2, 3.

Ngày 26 tháng 9 năm 1983, thành lập xã Bình Minh[3].

Thực hiện Nghị định 46/2001/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ, thị xã Tây Ninh được mở rộng địa giới hành chính trên cơ sở sáp nhập 5 xã: Hiệp Ninh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh, Tân Bình, Thạnh Tân và 139 ha diện tích tự nhiên với 7.815 nhân khẩu của xã Hiệp Tân thuộc huyện Hòa Thành; thành lập phường 4 trên cơ sở 139 ha diện tích tự nhiên với 7.815 nhân khẩu của xã Hiệp Tân (phần điều chỉnh diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Hiệp Tân về thị xã Tây Ninh quản lý); chuyển xã Hiệp Ninh thành phường Hiệp Ninh.

Ngày 12 tháng 12 năm 2012, Bộ Xây dựngQuyết định số 1112/QĐ-BXD, công nhận thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, là đô thị loại III[4].

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết 135/NQ-CP chuyển 2 xã Ninh Sơn, Ninh Thạnh thành các phường có tên tương ứng và nâng cấp thị xã Tây Ninh thành thành phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh.[5]

Tên đường của Tây Ninh trước 1975

Đường Gia Long, Võ Duy Dương và Phan Thanh Giản nay là đường Cách Mạng Tháng 8

Đường Huyện Vĩnh nay là đường Trần Quốc Toản

Đường Trưng Nữ Vương nay là đường 30 tháng 4

Đường Lãnh Binh Định nay là đường Trương Định

Đường Yết Ma Lượng nay là đường Nguyễn Văn Cừ

Đường Tự Đức nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai

Đường Nguyễn Trãi nay là đường Lê Văn Tám

Đường Võ Tánh nay là đường Lê Lợi

Đường Hồ Huân Nghiệp và công trường Duy Tân nay là đường Nguyễn Đình Chiểu

Đường Trương Huệ nay là đường Võ Văn Truyện

Đường Huỳnh Văn Lai nay là đường Ngô Gia Tự

Đường Nguyễn Văn Buôn nay là đường Yết Kiêu

Một ngôi chùa trên núi Bà Đen

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Tây Ninh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 36.2 36.4 38.5 39.9 39.0 37.6 37.3 35.2 35.6 34.0 34.3 34.8 39,9
Trung bình cao °C (°F) 32.1 33.4 34.8 35.2 34.0 32.5 31.9 31.6 31.3 31.0 31.2 31.0 32,5
Trung bình ngày, °C (°F) 25.6 26.6 27.9 28.8 28.3 27.4 27.0 27.0 26.7 26.4 26.0 25.2 26,9
Trung bình thấp, °C (°F) 20.9 21.9 23.3 24.8 25.0 24.4 24.1 24.2 24.0 23.6 22.7 21.0 23,3
Thấp kỉ lục, °C (°F) 15.3 17.9 16.8 21.4 21.9 19.3 20.8 21.2 20.3 18.5 16.9 13.9 13,9
Giáng thủy mm (inch) 13
(0.51)
11
(0.43)
24
(0.94)
104
(4.09)
203
(7.99)
265
(10.43)
257
(10.12)
234
(9.21)
353
(13.9)
317
(12.48)
139
(5.47)
48
(1.89)
1.967
(77,44)
độ ẩm 70.5 70.8 70.2 73.2 79.7 83.5 84.1 84.5 85.9 85.0 79.4 72.8 78,3
Số ngày giáng thủy TB 1.7 1.6 2.8 7.4 16.0 20.5 21.8 21.6 23.6 21.9 11.6 3.8 154,4
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 257 244 277 250 238 192 201 186 181 194 215 235 2.672
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[6]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Tây Ninh sở hữu nhiều rạch từ con sông Vàm Cỏ Đông nên đường thủy khá thông dụng trong các dịp lễ để vận chuyển hàng hóa khi nhu cầu đường bộ không đáp ứng đủ.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Là tỉnh lỵ của tỉnh Tây Ninh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và vùng lân cận.

Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011, giá trị sản xuất của thị xã Tây Ninh luôn ở mức cao, đạt bình quân 15,3%/năm, thu ngân sách năm 2011 là 297 tỷ đồng,trong đó khu vực thương mại, dịch vụ đạt bình quân 16,8%/năm; công nghiệp, xây dựng đạt 13,8%/năm, nông lâm, ngư nghiệp đạt 8,5%/năm[7].

Nơi thờ cúng Bà Đen

Theo định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, thành phố Tây Ninh là đô thị quan trọng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một cực tăng trưởng chủ đạo trong hệ thống đô thị Việt Nam với Thành phố Hồ Chí Minh, là đô thị động lực chính. Đô thị này còn nằm trong vùng đối trọng phát triển kinh tế phía Bắc, định hướng đến năm 2020 sẽ nâng lên đô thị loại II[7].

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ Gauthier, Julien. L'Indochine au travail dans la paix française. Paris: Eyrolles, 1949. Tr 198
  3. ^ QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 93/HĐBT NGÀY 26-9-1981 VỀ VIỆC PHÂN VẠCH ĐỊA GIỚI MỘT SỐ XÃ THUỘC TỈNH TÂY NINH
  4. ^ Quyết định 1112/QĐ-BXD năm 2012 công nhận thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh là đô thị loại III, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành.
  5. ^ Nghị quyết 135/NQ-CP năm 2013 thành lập các phường Ninh Sơn, Ninh Thạnh thuộc thị xã Tây Ninh và thành lập thành phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh
  6. ^ “Vietnam Building Code Natural Physical & Climatic Data for Construction” (PDF). Vietnam Institute for Building Science and Technology. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018. 
  7. ^ a ă Thị xã Tây Ninh được công nhận đô thị loại III, Đài phát thanh và truyền hình Bình Dương - BTV.