Đô thị Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đô thị loại II (Việt Nam))
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đô thị Việt Nam là những đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước ở Việt Nam có thẩm quyền ra quyết định công nhận.

Đô thị Việt Nam trên bản đồ Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Red pog.svg Thành phố Green pog.svg Thị xã

Mặc dù huyện ở Việt Nam là cấp hành chính tại khu vực nông thôn nhưng trong những trường hợp đặc biệt, nếu đủ điều kiện về quy mô và tính chất đô thị hóa thì huyện có thể được công nhận là đô thị, như Thủ tướng quyết định công nhận huyện đảo Phú Quốc là đô thị loại II [1], Bộ Xây dựng quyết định công nhận khu vực thị trấn Tĩnh Gia mở rộng thuộc huyện Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa) là đô thị loại III (còn toàn bộ huyện Tĩnh Gia là đô thị loại IV), huyện Duy Tiên (Hà Nam) hay huyện Tịnh Biên (An Giang) là đô thị loại IV. Một số xã ở Việt Nam là các xã huyện lỵ chuẩn bị được nâng cấp lên thị trấn cũng có thể được công nhận là đô thị loại V bởi chính quyền cấp tỉnh. Các đô thị ở Việt Nam được chia thành 6 loại, bao gồm: Đô thị loại đặc biệt và các đô thị từ loại I đến loại V. Các đô thị loại đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các đô thị loại III và loại IV do Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; đô thị loại V do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận.

Đến tháng 10 năm 2018, tổng số đô thị cả nước là 819 đô thị (tăng thêm 6 đô thị so với cuối năm 2017), bao gồm 2 đô thị loại đặc biệt là Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh, 19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV, 646 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 38,4%[2].

Đến ngày 27 tháng 5 năm 2019, cả nước có 833 đô thị, bao gồm 2 đô thị loại đặc biệt là Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh, 20 đô thị loại I, 29 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 85 đô thị loại IV và 652 đô thị loại V, tỉ lệ đô thị hóa đạt 38,5%[3].

Đến ngày 9 tháng 9 năm 2019, cả nước có 2 đô thị loại đặc biệt là Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh, 20 đô thị loại I, 30 đô thị loại II, 44 đô thị loại III và 86 đô thị loại IV.

Phân loại đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị Việt Nam trên bản đồ Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Đô thị Việt Nam
Black pog.svg Thành phố trực thuộc trung ương

Black pog.svg Thành phố trực thuộc tỉnh

Black pog.svg Thị xã

Black pog.svg Huyện

Black pog.svg Thị trấn

Orange pog.svg Đô thị loại đặc biệt

Red pog.svg Đô thị loại I

Green pog.svg Đô thị loại II

Blue pog.svg Đô thị loại III

Purple pog.svg Đô thị loại IV

Tại Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 có hiệu lực từ ngày 25 tháng 5 năm 2016 về phân loại đô thị[4].

Tại Việt Nam, hiện có sáu loại hình đô thị: loại đặc biệt và từ loại I đến loại V. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP sử dụng số La Mã để phân loại đô thị, nhưng nhiều tài liệu vẫn dùng số Ả Rập: loại 1 đến loại 5.

Một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:[5]

  1. Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
  5. Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
  6. Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Đô thị là trung tâm du lịch, khoa họccông nghệ, giáo dục thì tiêu chí quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 70% mức quy định; các tiêu chí khác phải bảo đảm mức quy định của loại đô thị tương ứng.

Đô thị loại III, loại IV và loại V ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia thì tiêu chí quy mô dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí khác tối thiểu đạt 70% mức quy định của loại đô thị tương ứng.

Đô thị ở hải đảo thì tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị tối thiểu đạt 50% mức quy định; các tiêu chí về quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tối thiểu đạt 30% mức quy định của loại đô thị tương ứng.

Đô thị loại đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại đặc biệt là các đô thị:[6]

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết trên.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định.

Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được Chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh. Để hỗ trợ chính quyền hai thành phố này hoàn thành chức năng của đô thị loại đặc biệt, Chính phủ cho phép thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hưởng một số cơ chế tài chính – ngân sách đặc thù[7].

Đô thị loại I[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại I, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những đô thị giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại I bao gồm:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số: Đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 1.000.000 người trở lên, khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên; đô thị là thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên, khu vực nội thành đạt từ 200.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 85% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định.

Đến ngày 15/6/2019, Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, bao gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ; 17 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, bao gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Bắc Ninh, Hải Dương.

Trong các thành phố trên:

Đô thị loại II[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 200.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 100.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.800 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 8.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 80% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định.

Đến ngày 5/9/2019, toàn quốc có 30 đô thị loại II, trong đó có 29 thành phố, bao gồm: Pleiku, Long Xuyên, Phan Thiết, Cà Mau, Tuy Hoà, Uông Bí, Thái Bình, Rạch Giá, Bạc Liêu, Ninh Bình, Đồng Hới, Vĩnh Yên, Lào Cai, Bà Rịa, Bắc Giang, Phan Rang - Tháp Chàm, Châu Đốc, Cẩm Phả, Quảng Ngãi, Tam Kỳ, Trà Vinh, Sa Đéc, Móng Cái, Phủ Lý, Bến Tre, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Sơn La, Tân An và huyện Phú Quốc (Kiên Giang).

Theo chương trình phát triển đô thị quốc gia thì 19 thành phố: Vị Thanh, Hà Giang, Cao Bằng, Sông Công, Tuyên Quang, Yên Bái, Điện Biên Phủ, Hòa Bình, Hưng Yên, Tam Điệp, Hội An, Kon Tum, Cam Ranh, Bảo Lộc, Long Khánh, Tây Ninh, Cao Lãnh, Vĩnh Long, Sóc Trăng và 4 thị xã: Phú Thọ, Sơn Tây, Dĩ An, Thuận An sẽ sớm được nâng cấp lên đô thị loại II.

Quyền quyết định công nhận đô thị loại đặc biệt, loại Iloại II thuộc về Thủ tướng Chính phủ Việt Nam.[8]

Đô thị loại III[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 100.000 người trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 50.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.400 người/km2 trở lên; khu vực nội thành, nội thị tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 7.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 60% trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 75% trở lên.
  5. Trình độ phát triển, cơ sở hạ tầng kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định.

Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh, ngoại lệ là thị trấn Tĩnh Gia mở rộng (tỉnh Thanh Hóa). Đến ngày 5 tháng 9 năm 2019, cả nước có 44 đô thị loại III, gồm:

Đô thị loại IV[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại IV phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện; Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 50.000 người trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 20.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.200 người/km2 trở lên; khu vực nội thị (nếu có) tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 6.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 70% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định.

Quyền quyết định đô thị loại III và loại IV thuộc về Bộ Xây dựng Việt Nam xem xét, thẩm định và quyết định công nhận[9].

Các đô thị loại IV có thể là thị xã, huyện, thị trấn hoặc một khu vực dự kiến thành lập đô thị trong tương lai. Không nên nhầm lẫn một số đô thị loại IV với các thị trấn là đô thị loại IV, vì một thị trấn có thể là một đô thị loại IV, nhưng một đô thị loại IV có thể bao gồm một khu vực nhiều xã, thị trấn (Ví dụ: Đô thị Mộc Châu bao gồm thị trấn Mộc Châu và thị trấn Nông trường Mộc Châu[10], đô thị Lam Sơn - Sao Vàng gồm 2 thị trấn: Lam Sơn, Sao Vàng cùng với một số xã lân cận, Hậu NghĩaĐức Hòa là 2 đô thị loại IV khác nhau cùng thuộc huyện Đức Hòa).

Đến ngày 11 tháng 9 năm 2019, cả nước có 86 đô thị loại IV, bao gồm 33 thị xã, 6 huyện (với 9 thị trấn và 91 xã) và 49 thị trấn (không tính các xã thuộc phần mở rộng của đô thị loại IV).

Các thị xã là đô thị loại IV: Mường Lay, Quảng Trị, Hồng Lĩnh, Nghĩa Lộ, An Khê, Ayun Pa, Thái Hoà, Buôn Hồ, Bình Long, Phước Long, Tân Châu, Hương Thủy, Ninh Hòa, Vĩnh Châu, Hương Trà, Quảng Yên, An Nhơn, Bình Minh, Kiến Tường, Hoàng Mai, Ba Đồn, Cai Lậy, Ngã Năm, Điện Bàn, Đông Triều, Giá Rai, Long Mỹ, Duyên Hải, Kỳ Anh, Phú Mỹ, Mỹ Hào, Kinh Môn, Sa Pa.

Các huyện là đô thị loại IV:

Các đô thị loại IV là thị trấn hoặc thị trấn và khu vực dự kiến thành lập đô thị (thị trấn mở rộng):

Đô thị loại V[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại V phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã; cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên.
  3. Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên; mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên.
  5. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định.

Các đô thị loại V là thị trấn hoặc một số xã, khu vực chuẩn bị nâng cấp thành thị trấn.

Quyền quyết định công nhận đô thị loại V thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.[11].

Tính đến ngày 27 tháng 5 năm 2019, Việt Nam có 652 đô thị loại V.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


[1]