Cao Lộc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Lộc
Địa lý
Huyện lỵ Thị trấn Cao Lộc
Vị trí: Phía đông của tỉnh Lạng Sơn
Diện tích: 644 km²
Số xã, thị trấn: 2 thị trấn, 21
Dân số
Số dân: 73.516 người (2009) [1]
Mật độ: … người/km²
Thành phần dân tộc:
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Bí thư Huyện ủy:
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Website:


Cao Lộc là một huyện biên giới của Việt Nam, thuộc tỉnh Lạng Sơn.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở phía bắc tỉnh Lạng Sơn, phía bắc và phía đông là huyện là tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), thành phố Lạng Sơn nằm trọn trong huyện Cao Lộc, phía nam là huyện Lộc BìnhChi Lăng, phía tây là huyện Văn LãngVăn Quan.

Diện tích, dân số, giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có diện tích 644 km2 và dân số là 70.000 người (năm 2004), Cao Lộc có hai thị trấn là Đồng Đăng và Cao Lộc, huyện lỵ là thị trấn Cao Lộc nằm cách thành phố Lạng Sơn 3 km về hướng đông bắc và Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị (Việt Nam - Trung Quốc) nằm ở phía bắc cách thị trấn Cao Lộc khoảng 15 km. Huyện cũng là nơi có quốc lộ 4 (4B) đi qua theo hướng tây bắc - đông nam.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện gồm 2 thị trấn và 21 xã:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, huyện Cao Lộc có 18 xã: Cao Lâu, Công Sơn, Gia Cát, Hải Yến, Hòa Cư, Hoàng Đồng, Hợp Thành, Lộc Yên, Mai Pha, Mẫu Sơn, Quảng Lạc, Tân Liên, Tân Thành, Thạch Đạn, Thanh Lòa, Xuất Lễ, Xuân Long, Yên Trạch.

Ngày 30-8-1977, 3 xã: Hoàng Đồng, Mai Pha, Quảng Lạc được sáp nhập vào thị xã Lạng Sơn (nay là thành phố Lạng Sơn).

Ngày 10-6-1981, chuyển thị trấn Đồng Đăng và 6 xã: Hồng Phong, Phú Xá, Bình Trung, Bảo Lâm, Thụy Hùng A (sau đổi là xã Thụy Hùng), Song Giáp thuộc huyện Văn Lãng về huyện Cao Lộc quản lý.

Ngày 29-8-1994, thành lập thị trấn Cao Lộc - thị trấn huyện lị huyện Cao Lộc từ một phần xã Hợp Thành.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.12.