Chi Lăng (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Lăng (huyện)
Huyện
Địa lý
Diện tích 703
Dân số  
 Tổng cộng 73.887 người (2009) [1]
 Mật độ 105
Hành chính
Tỉnh Lạng Sơn
Huyện lỵ Thị trấn Đồng Mỏ
Phân chia hành chính 2 thị trấn, 19
Website http://www.langson.gov.vn/chilang/

Chi Lăng là huyện nằm ở phía nam tỉnh Lạng Sơn, phía đông giáp với huyện Lộc Bình, phía bắc giáp huyện Cao Lộc, huyện Văn Quanthành phố Lạng Sơn, phía tây giáp một phần huyện Văn Quan, phía tây nam giáp huyện Hữu Lũng, phía nam giáp với huyện Lục Ngạn của tỉnh Bắc Giang. Huyện có diện tích 703 km2 và dân số là 73.887 người (2009) Huyện có hai thị trấn Chi LăngĐồng Mỏ, huyện lỵ là thị trấn Đồng Mỏ nằm trên đường quốc lộ 1A cách thành phố Lạng Sơn 35 km về hướng tây nam và gồm 19 xã.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm các xã: Bắc Thủy, Bằng Hữu, Bằng Mạc, Chi Lăng, Chiến Thắng, Gia Lộc, Hòa Bình, Hữu Kiên, Lâm Sơn, Liên Sơn, Mai Sao, Nhân Lý, Quan Sơn, Quang Lang, Thượng Cường, Vân An, Vạn Linh, Vân Thủy, Y Tịch và 2 thị trấn: Đồng Mỏ (huyện lị), Chi Lăng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Chi Lăng được thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1964 trên cơ sở hợp nhất huyện Ôn Châu và một phần huyện Bằng Mạc, gồm 1 thị trấn Đồng Mỏ và 20 xã: Bắc Thủy, Bằng Hữu, Bằng Mạc, Chi Lăng, Chiến Thắng, Gia Lộc, Hòa Bình, Hữu Kiên, Hữu Liên, Lâm Sơn, Liên Sơn, Mai Sao, Nhân Lý, Quan Sơn, Quang Lang, Thượng Cườn, Vân An, Vạn Linh, Vân Thủy, Y Tịch.

Ngày 28 tháng 3 năm 1983, thành lập thị trấn Chi Lăng từ một phần xã Chi Lăng.

Ngày 11 tháng 9 năm 1989, chuyển xã Hữu Liên về huyện Hữu Lũng quản lý.

Từ đó, huyện Chi Lăng có 2 thị trấn và 19 xã, giữ ổn định cho đến nay.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chi Lăng là huyện miền núi của tỉnh Lạng sơn, nơi có ải Chi Lăng lịch sử, huyện cách thủ đô Hà Nội 106 km. Địa hình Chi Lăng bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, sông suối. Huyện Chi lăng có địa hình dốc dần từ đông bắc xuống tây nam, độ dốc khá lớn, đặc biệt là các xã nằm ven khối núi Hữu Kiên. Nơi cao nhất nằm ở phía đông huyện cũng là ranh giới giữa huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn và huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang với đỉnh núi cao nhất là 975m, nơi thấp nhất nằm ở phía nam huyện với độ cao là 35m ở thị trấn Chi Lăng.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Chi lăng nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa tiểu vùng khí hậu ẩm và mưa nhiều ở phía tây, tiểu vùng lạnh và mưa ít ở phía đông, chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía bắc. Nhiệt độ trung bình năm 22,7 °C lượng mưa trung bình năm 1.379mm.

Nguồn nhân lực[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, dân số trung bình của Chi Lăng là 73.887 người, chiếm 10% dân số cả tỉnh, mật độ dân số trung bình là 105 người/km2, cao hơn mức trung bình của tỉnh, với nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Gần 84% dân số sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp, dân số thành thị chỉ có trên 16%.

Tổng số lao động trong độ tuổi của Chi Lăng năm 2009 là 35.346 người, chiếm 48% dân số đa số là lao động trẻ, khoẻ, đây là nguồn nhân lực lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Chi Lăng. Song số lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng rất nhỏ (5,11%) trong tổng số lao động là cản trở lớn với Chi Lăng trong việc tiếp nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Do đó, vấn đề đặt ra là cần thiết phải tăng cường đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

quốc lộ 1A, quốc lộ 279, đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn chạy qua.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.12.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]