Cao Bằng (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cao Bằng
Thành phố thuộc tỉnh
Cao Bằng skyline.jpg
Một góc thành phố Cao Bằng
Hành chính
VùngĐông Bắc Bộ
TỉnhCao Bằng
Phân chia hành chính8 phường, 3 xã
Thành lập25/9/2012[1]
Loại đô thịLoại III
Năm công nhận2010
Tên cũMục Mã
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDNguyễn Quốc Trung
Chủ tịch HĐNDĐàm Văn Dũng
Bí thư Thành ủyHà Ngọc Giáp
Địa lý
Tọa độ: 22°39′56″B 106°15′30″Đ / 22,66556°B 106,25833°Đ / 22.66556; 106.25833Tọa độ: 22°39′56″B 106°15′30″Đ / 22,66556°B 106,25833°Đ / 22.66556; 106.25833
Diện tích107,6 km²
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng73.549 người
Thành thị61.955 người (84%)
Nông thôn11.594 người (16%)
Mật độ683 người/km²
Dân tộcTày, Kinh...
Khác
Mã hành chính040[2]
Biển số xe11-X1-B1
Websiteubndtp.caobang.gov.vn

Cao Bằng là một thành phố trực thuộc tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.

Thành phố Cao Bằng hiện là đô thị loại III, là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị của tỉnh Cao Bằng và là một trong những trung tâm kinh tế của vùng Đông Bắc.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lý của tỉnh Cao Bằng, có vị trí địa lý:

Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội khoảng 280 km về phía bắc, có vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện trong tỉnh và các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ qua Quốc lộ 3Quốc lộ 4.

Cách các thành phố khác:

Thành phố có diện tích 107,6 km², dân số năm 2019 là 73.549 người[3], trong đó 84% dân số thành thị và 16% dân số nông thôn, với nhiều dân tộc khác nhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa,...

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1677, sau khi đánh dẹp nhà Mạc ở Cao Bằng, chính quyền Lê – Trịnh đặt lại trấn Cao Bình, đồng thời cho xây dựng phố Mục Mã trên một bán đảo rộng khoảng một cây số vuông có ba phía giáp sông (tương ứng với phường Hợp Giang ngày nay) và chuyển các dinh sở từ Hòa An về đây[4]. Từ đây, thành Mục Mã trở thành lỵ sở của trấn Cao Bình và đến thời Nguyễn là tỉnh lỵ tỉnh Cao Bằng.[5][6]

Sau năm 1975, thị xã Cao Bằng là tỉnh lỵ tỉnh Cao Lạng, gồm 4 tiểu khu: Sông Bằng, Sông Hiến, Nội Thị, Nà Phía.

Ngày 27 tháng 12 năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách ra thành 2 tỉnh là Cao BằngLạng Sơn, thị xã Cao Bằng trở thành tỉnh lỵ tỉnh Cao Bằng.

Năm 1979, quân đội Trung Quốc tấn công ồ ạt trong chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979, thị xã Cao Bằng chịu thiệt hại nặng nề.

Ngày 10 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 60-HĐBT[7]. Theo đó:

  • Giải thể tiểu khu Sông Bằng để thành lập phường Sông Bằng và xã Ngọc Xuân
  • Giải thể tiểu khu Sông Hiến để thành lập phường Sông Hiến và xã Hòa Chung
  • Giải thể tiểu khu Nà Phía để thành lập phường Tân Giang và xã Duyệt Trung
  • Giải thể tiểu khu Nội Thị để thành lập phường Hợp Giang.

Từ đó, thị xã Cao Bằng có 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 xã: Duyệt Trung, Hòa Chung, Ngọc Xuân.

Ngày 4 tháng 10 năm 2002, chuyển xã Đề Thám thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý.[8]

Đến cuối năm 2009, thị xã Cao Bằng có 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 4 xã: Duyệt Trung, Đề Thám, Hòa Chung, Ngọc Xuân.

Ngày 18 tháng 10 năm 2010, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định 926/QĐ-BXD về việc công nhận thị xã Cao Bằng là đô thị loại III.[9]

Ngày 1 tháng 11 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết 42/NQ-CP[10]. Theo đó:

  • Chuyển 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý
  • Chuyển 2 xã Đề Thám và Ngọc Xuân thành 2 phường có tên tương ứng.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thị xã Cao Bằng có 10.760,93 ha diện tích tự nhiên và 67.415 người với 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 6 phường: Đề Thám, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 5 xã: Chu Trinh, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.

Ngày 9 tháng 7 năm 2012, chuyển 2 xã Hòa Chung và Duyệt Trung thành 2 phường có tên tương ứng.[11]

Ngày 25 tháng 9 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết 60/NQ-CP về việc thành lập thành phố Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Cao Bằng.[1]

Sau khi thành lập, thành phố Cao Bằng có 10.762,81 ha diện tích tự nhiên và 84.421 người với 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 8 phường và 3 xã như hiện nay.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cao Bằng có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 8 phường: Đề Thám, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Các tuyến Quốc Lộ trên địa bàn thành phố:

  • Quốc Lộ 3
  • Quốc Lộ 34
  • Quốc Lộ 34B

Các cây cầu lớn:

  • Cầu Bằng Giang
  • Cầu Sông Hiến
  • Cầu Hoằng Ngà
  • Cầu Gia Cung
  • Cầu Nà Cáp
  • Cầu Sông Mãng

Các tuyến đường:

  • Đại Lộ Cao Bằng
  • Đường Hoàng Đình Giong
  • Đường Lê Lợi
  • Đường 1-4
  • Đường Phai Khắt - Nà Ngần
  • Đường 3-10
  • Đường Pác Bó
  • Đường Tân An
  • Đường Đông Khê
  • Đường Thanh Sơn - Nà Toòng
  • Đường Hồ Chí Minh

Các tuyến phố:

  • Phố đi bộ Kim Đồng
  • Phố Thầu
  • Phố Bằng Giang (Nước Giáp)
  • Phố Vườn Cam
  • Phố Hoàng Văn Thụ
  • Phố Lý Tự Trọng
  • Phố Bế Văn Đàn
  • Phố Cũ
  • Phố Hiến Giang
  • Phố Đàm Quang Trung
  • Phố Xuân Trường
  • Phố Nguyễn Du
  • Phố Hồng Việt
  • Phố cổ Cao Bình.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chí xây dựng đường giao thông vượt trên 300%. Điều rõ ràng nhất là mỗi con đường mở ra đã rút ngắn khoảng cách từ phường đến xã, từ trung tâm thành phố đến các vùng nông thôn ngoại thành.

Tất cả 17/17 chi tiêu kinh tế, xã hội cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, trong đó thu ngân sách nhà nước vượt 8,2% dự toán giao, lần đầu tiên thành phố Cao Bằng thu ngân sách đạt mốc 600 tỷ đồng; giá trị công nghiệp xây dựng vượt 8,6%; tổng sản lượng lương thực vượt 4,4%, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu thương mại dịch vụ tăng 1,5%, giá trị tiểu thủ công nghiệp vượt 22,8%; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 72 triệu đồng/ha; giải quyết việc làm cho hơn 2.400 lao động, vựơt 44% kế hoạch; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,7%...

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Các đền thờ trên địa bàn thành phố:

  • Thành Bản Phủ (tương truyền do Thục Phán - An Dương Vương xây dựng), chùa Đống Lân (thờ Thạch Sanh), chùa Đà Quận ở xã Hưng Đạo)
  • Đền Kỳ Sầm ở xã Vĩnh Quang.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Nghị quyết 60/NQ-CP năm 2012 về việc thành lập thành phố Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng”.
  2. ^ Tổng cục Thống kê
  3. ^ “Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019” (PDF). Tổng cục Thống kê.
  4. ^ “Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay”. Báo Cao Bằng điện tử. 8 tháng 8 năm 2019.
  5. ^ “Dấu ấn thành Mục Mã - Thị xã Cao Bằng ngày nay”. Báo Cao Bằng điện tử. 13 tháng 7 năm 2012.
  6. ^ “Phố và những di tích ở thành phố Cao Bằng”. Báo Cao Bằng điện tử. 5 tháng 10 năm 2012.
  7. ^ “Quyết định số 60-HĐBT năm 1981 về việc giải thể các tiểu khu để thành lập các phường và xã thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”.
  8. ^ “Nghị định số 77/2002/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”.
  9. ^ “Quyết định số 926/QĐ-BXD năm 2010 về việc công nhận thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng là đô thị loại III do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành”.
  10. ^ “Nghị quyết 42/NQ-CP về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thị xã Cao Bằng, thị trấn Quảng Uyên; thành lập phường thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”.
  11. ^ “Nghị quyết số 27/NQ-CP về việc thành lập các phường: Hòa Chung, Duyệt Trung thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]