Cao Bằng (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cao Bằng

Thành phố trực thuộc tỉnh
Cao-bang.jpg
Thành phố Cao Bằng nhìn từ trên cao
Hành chính
VùngĐông Bắc Bộ
TỉnhCao Bằng
Phân chia hành chính8 phường, 3
Thành lập
Loại đô thịLoại III
Năm công nhận2010
Chính quyền
Chủ tịch UBNDLương Tuấn Hùng
Chủ tịch HĐNDĐàm Văn Dũng
Bí thư Thành ủyDương Quang Văn
Địa lý
Tọa độ: 22°40′12″B 106°00′00″Đ / 22,67°B 106°Đ / 22.670; 106Tọa độ: 22°40′12″B 106°00′00″Đ / 22,67°B 106°Đ / 22.670; 106
Diện tích107,6 km²
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng84.698 người
Thành thị73.423 người
Nông thôn11.275 người
Mật độ787 người/km²
Dân tộcTày, Kinh...
Khác
Biển số xe11-X1-B1

Cao Bằng là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lý của tỉnh Cao Bằng.

Gần như nằm trọn trong huyện Hòa An, thành phố Cao Bằng có vị trí địa lý:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, tách toàn bộ diện tích và dân số thị trấn Hòa An và xã Nà Phía, 7,87 km² của xã Quang Trung, 8,74 km² của xã Đề Thám, huyện Hòa An để thành lập thị xã Cao Bằng

Sau năm 1975, thị xã Cao Bằng là tỉnh lỵ tỉnh Cao Lạng, gồm 4 tiểu khu: Sông Bằng, Sông Hiến, Nội Thị, Nà Phía.

Ngày 27 tháng 12 năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách ra thành 2 tỉnh là Cao BằngLạng Sơn, thị xã Cao Bằng trở thành tỉnh lỵ tỉnh Cao Bằng.

Năm 1979, quân đội Trung Quốc tấn công ồ ạt trong chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979, thị xã Cao Bằng chịu thiệt hại nặng nề.

Ngày 10 tháng 9 năm 1981, giải thể 4 tiểu khu cũ (Sông Bằng, Sông Hiến, Nội Thị, Nà Phía) để thành lập 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 xã: Ngọc Xuân, Duyệt Trung, Hòa Chung.

Ngày 4 tháng 10 năm 2002, chuyển xã Đề Thám thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý[1].

Từ đó đến năm 2010, thị xã Cao Bằng có 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 4 xã: Duyệt Trung, Đề Thám, Hòa Chung, Ngọc Xuân.

Ngày 18 tháng 10 năm 2010, thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III.

Ngày 1 tháng 11 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thị xã Cao Bằng; theo đó, chuyển 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý. Đồng thời chuyển 2 xã Đề Thám và Ngọc Xuân thành 2 phường có tên tương ứng.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thị xã Cao Bằng có 10.760,93 ha diện tích tự nhiên và 67.415 nhân khẩu; bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 6 phường: Đề Thám, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 5 xã: Chu Trinh, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hưng Đạo, Vĩnh Quang[2].

Ngày 9 tháng 7 năm 2012, chuyển 2 xã Hòa Chung và Duyệt Trung thành 2 phường có tên tương ứng[3].

Ngày 25 tháng 9 năm 2012, Chính phủ ra Nghị quyết số 60/NQ-CP về việc thành lập thành phố Cao Bằng trực thuộc tỉnh Cao Bằng. Thành phố Cao Bằng có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 8 phường và 3 xã như hiện nay.[4]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cao Bằng có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 8 phường: Đề Thám, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 : Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.[4]

Đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường Hoàng Đình Giong
  • Đường Lê Lợi
  • Đường 1-4
  • Đường Phai Khắt - Nà Ngần
  • Đường 3-10
  • Đường Pác Bó
  • Đường Tân An
  • Đường Đông Khê
  • Phố đi bộ Kim Đồng
  • Phố Thầu
  • Phố Bằng Giang (Nước Giáp)
  • Phố Vườn Cam
  • Phố Hoàng Văn Thụ
  • Phố Lý Tự Trọng
  • Phố Bế Văn Đàn
  • Phố Cũ
  • Phố Hiến Giang
  • Phố Đàm Quang Trung
  • Phố Xuân Trường
  • Phố Nguyễn Du
  • Phố Hồng Việt

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chí xây dựng đường giao thông vượt trên 300%. Điều rõ ràng nhất là mỗi con đường mở ra đã rút ngắn khoảng cách từ phường đến xã, từ trung tâm thành phố đến các vùng nông thôn ngoại thành.

Tất cả 17/17 chi tiêu kinh tế, xã hội cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, trong đó thu ngân sách nhà nước vượt 8,2% dự toán giao, lần đầu tiên thành phố Cao Bằng thu ngân sách đạt mốc 600 tỷ đồng; giá trị công nghiệp xây dựng vượt 8,6%; tổng sản lượng lương thực vượt 4,4%, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu thương mại dịch vụ tăng 1,5%, giá trị tiểu thủ công nghiệp vượt 22,8%; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 72 triệu đồng/ha; giải quyết việc làm cho hơn 2.400 lao động, vựơt 44% kế hoạch; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,7%…

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]