Trùng Khánh (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trùng Khánh, Cao Bằng)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trùng Khánh

Huyện
Pò Tâu.jpg
Pò Tâu, Trùng Khánh
Hành chính
TỉnhCao Bằng
Huyện lỵThị Trấn Trùng Khánh
Phân chia hành chính1 thị trấn, 18
Địa lý
Tọa độ: 22°50′16″B 106°31′33″Đ / 22,837768°B 106,525913°Đ / 22.837768; 106.525913Tọa độ: 22°50′16″B 106°31′33″Đ / 22,837768°B 106,525913°Đ / 22.837768; 106.525913
Diện tích470,15 km2
Dân số (2018)
Tổng cộng56.000 người [1]
Mật độ190 người/km2
Dân tộcNgười Tày, người Nùng, người Kinh
Khác

Trùng Khánh là một huyện miền núi nằm ở đông bắc tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.

Huyện lỵ của huyện là thị trấn Trùng Khánh, cách thành phố Cao Bằng 62 km theo tỉnh lộ 206. Huyện có 1 cửa khẩu quốc gia với Trung Quốc là cửa khẩu Pò Peo (22°56′30″B 106°32′1″Đ / 22,94167°B 106,53361°Đ / 22.94167; 106.53361 (Pò Peo)) thuộc xã Ngọc Côn và các đường tiểu ngạch khác.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trùng Khánh nằm ở phía đông bắc tỉnh Cao Bằng, có vị trí địa lý:

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trùng Khánh có 20 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Trùng Khánh (huyện lỵ) và 19 xã: Cảnh Tiên, Cao Thăng, Chí Viễn, Đàm Thủy, Đình Minh, Đình Phong, Đoài Côn, Đức Hồng, Khâm Thành, Lăng Hiếu, Lăng Yên, Ngọc Chung, Ngọc Côn, Ngọc Khê, Phong Châu, Phong Nặm, Thân Giáp, Thông Huề, Trung Phúc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trùng Khánh là vùng đất cổ, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Tên gọi Trùng Khánh đã được đề cập từ khá sớm trong sử sách[2].

Thời kỳ nhà Lý (1010-1225) có tên gọi là Tư Lang. Đến thời kỳ nhà Trần (1225-1400) vẫn mang tên gọi như trước.

Đời thuộc Minh, chia Tư Lang làm Thượng Tư Lang và Hạ Tư Lang. Thời nhà Lê đổi làm Thượng Lang. Vào thời kỳ nhà Lê (Lê Thánh Tông), niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) thì phủ Cao Bằng còn thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, gồm 4 châu, trong đó châu Thượng Lang (Trùng Khánh ngày nay) có 29 xã. Thượng Lang từ lúc đó đến thời kỳ nhà Mạc (1592-1677) kéo dài đến năm 1802-1820.

Thời kỳ vua Gia Long thì châu Thượng Lang được ghi rõ hơn, trong sách "Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX" có ghi rằng: châu Thượng Lang có 4 tổng, 35 xã, thôn; trong đó tổng Lăng Yên có 13 xã, thôn; tổng Nga Ổ có 9 xã, thôn; tổng Ỷ Cống có 9 xã, lũng; tổng Dương Châu có 6 xã.

Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), đổi tên phủ Cao Bằng thành phủ Trùng Khánh.

Năm Tự Đức thứ 4 (1831), sau cải cách hành chính, đổi trấn làm tỉnh (1831), đổi châu làm huyện (1834) thì tỉnh Cao Bằng có 1 phủ là phủ Trùng Khánh và 5 huyện. Huyện Thượng Lang thời kỳ này có 4 tổng với 37 xã, thôn.

Những năm cuối thế kỷ XIX, Cao Bằng có phủ Trùng Khánh và phủ Hòa An, trong đó phủ Trùng Khánh có 3 châu là: Thượng Lang, Hạ Lang và Quảng Uyên.

Đầu thế kỷ XX, tỉnh Cao Bằng đổi tên thành Đạo quan binh thứ nhì, gồm phủ Hòa An (phủ lỵ ở Nước Hai) với 7 châu, miền đông vẫn gồm phủ Trùng Khánh, gồm 3 châu. Châu Thượng Lang có châu lỵ đặt ở Trùng Khánh phủ.

Năm 1928, theo cuốn "Danh mục các làng xã Bắc Kỳ" xuất bản tại Hà Nội, thì Cao Bằng có 1 phủ, 38 tổng, 230 xã; khi đó châu Thượng Lang có 6 tổng, 42 xã. Tổng Lăng Yên 11 xã, tổng Nga Ổ 5 xã, tổng Phong Châu 6 xã, tổng Phong Đằng 7 xã, tổng Trà Lĩnh 7 xã, tổng Ỷ Cống 6 xã.

Năm 1942, tổng Trà Lĩnh tách khỏi phủ Trùng Khánh, lập thành châu Trấn Biên.

Năm 1945, tổng Phong Đằng tách khỏi phủ Trùng Khánh và nhập vào châu Hạ Lang.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ Trùng Khánh đổi tên thành huyện Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng.

Sau năm 1975, huyện Trùng Khánh có thị trấn Trùng Khánh (huyện lỵ, tên bản địa là Co Sàu) và 25 xã: Cảnh Tiên, Cao Thăng, Chí Viễn, Đàm Thủy, Đình Minh, Đình Phong, Đoài Côn, Đồng Loan, Đức Hồng, Đức Quang, Khâm Thành, Kim Loan, Lăng Hiếu, Lăng Yên, Lý Quốc, Minh Long, Ngọc Chung, Ngọc Khê, Phong Châu, Phong Nậm, Quang Thành, Thân Giáp, Thắng Lợi, Thông Huề, Trung Phúc.

Ngày 8-10-1980, giải thể xã Quang Thành, địa bàn nhập vào các xã Đình Phong, Chí Viễn, Phong Châu.

Ngày 1-9-1981, 6 xã: Minh Long, Lý Quốc, Đức Quang, Thắng Lợi, Kim Loan và Đồng Loan được tách ra để tái lập huyện Hạ Lang.

Ngày 13-12-2007, thành lập xã Ngọc Côn trên cơ sở điều chỉnh 2.367,63 ha diện tích tự nhiên và 2.226 nhân khẩu của xã Ngọc Khê.

Thác Bản Giốc.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Hai danh lam thắng cảnh nổi tiếng cả nước, toạ lạc trên địa bàn huyện là thác Bản Giốc trên biên giới Việt-Trung và động Ngườm Ngao.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản nổi tiếng của Trùng Khánhhạt dẻ Trùng Khánhbánh khảo Thông Huề.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trùng Khánh là một huyện giàu tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là quặng măng-gan: mỏ Thông Huề (gần đèo Khau Liêu), mỏ Tà Than (xã Lăng Hiếu), mỏ Roọng Tháy (xã Trung Phúc), mỏ Kha Moong (xã Đình Phong), mỏ Bản Piên, mỏ Lũng Phjắc (xã Đàm Thủy), mỏ Nậm Thơm (xã Ngọc Chung, sát biên giới Trung Quốc) và mỏ Pác Chang (xã Khâm Thành). Hầu hết các mỏ quặng măng-gan đều đã và đang bị khai thác dưới nhiều hình thức để xuất khẩu sang Trung Quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.8.
  2. ^ http://trungkhanh.caobang.gov.vn/node/99

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Danh sách xã, thị trấn thuộc huyện Trùng Khánh