Hòa An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hòa An
Huyện
Địa lý
Diện tích 667km2
Dân số  
 Tổng cộng 63.515 người (2009) [1]
 Mật độ 95
Hành chính
Tỉnh Cao Bằng
Huyện lỵ Thị trấn Nước Hai
Phân chia hành chính 01 thị trấn, 20

Hòa An là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý

Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng, bao quanh thành phố Cao Bằng, Liền kề Thành phố với Phục Hòa phía bắc giáp huyện Hà Quảng, phía đông bắc giáp huyện Trà Lĩnh, phía đông giáp huyện Quảng Uyên, phía nam giáp huyện Thạch An, Phục Hòa và phía tây giáp 2 huyện Nguyên BìnhThông Nông.Là huyện kín

Diện tích, dân cư, giao thông

Huyện có diện tích 667 km² và dân số là 73.000 người (năm 2004). Huyện ly là thị trấn Nước Hai nằm trên tỉnh lộ 203 cách thị xã Cao Bằng 15 km về hướng Tây Bắc, tỉnh lộ 203 theo hướng tây bắc đi huyện Hà Quảng, Thông Nông, quốc lộ 4 theo hướng nam đi huyện Thạch An và tỉnh Lạng Sơn, quốc lộ 34 theo hướng tây đi huyện Nguyên Bình, quốc lộ 3 theo hướng nam đi Bắc Kạn, tỉnh lộ

209 theo hướng đông nam đi Đức Vân

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

1 thị trấn: Nước Hai (Huyện lỵ)

20 xã: Bạch Đằng, Bế Triều, Bình Dương, Bình Long, Công Trừng, Đại Tiến, Dân Chủ, Đức Long, Đức Xuân, Hà Trì, Hoàng Tung, Hồng Nam, Hồng Việt, Lê Chung, Nam Tuấn, Ngũ Lão,Nguyễn Huệ, Quang Trung, Trưng Vương, Trương Lương.

Bản Đồ Huyện Hòa An (Tổng thế)

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đất Hòa An vào đời Lý đặt là châu Thái Nguyên, cuối đời Lê Hồng Đức đổi làm châu Thạch Lâm.[2] Đời Lý, Trần và đời Lê sơ, châu Thái Nguyên lần lượt thuộc các phủ Lạng Sơn, phủ Bắc Bình của trấn Thái Nguyên. Cuối đời Lê Hồng Đức, châu Thạch Lâm thuộc phủ Cao Bằng, trấn Thái Nguyên.[3]

Đến thời Minh Mạng, năm 1834, đổi các châu thành huyện, châu Thạch Lâm trở thành huyện Thạch Lâm. Năm 1835, huyện Thạch Lâm được chia thành huyện Thạch Lâm và huyện Thạch An, đặt phủ Hòa An, kiêm quản 2 huyện. Năm Tự Đức thứ 4 (1851), phủ Hòa An bị bãi. Tỉnh Cao Bằng bấy giờ chỉ còn một phủ là Trùng Khánh gồm 5 huyện: Thạch Lâm, Thạch An, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang.[4]

Từ năm 1886, quân Pháp kiểm soát toàn bộ miền Bắc từ Thanh Hóa trở ra. Mặc dù vẫn duy trì bộ máy hành chính của triều đình Huế, nhưng thực dân Pháp đặt quyền cai trị trực tiếp dưới các quân khu so một sĩ quan Pháp chỉ huy. Tỉnh Cao Bằng bấy giờ thuộc Quân khu Cao Bằng. Đến năm 1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ các quân khu và thiết lập các đạo quan binh. Cao Bằng thuộc Đạo quan binh thứ 2.[5]

Về phía Nam triều, đến cuối thế kỷ XIX, tỉnh Cao Bằng gồm có phủ Trùng Khánh (với 3 châu: Thượng Lang, Hạ Lang, Quảng Uyên) và phủ Hòa An (với 3 châu: Thạch Lâm, Thạch An, Nguyên Bình).[6]

Năm 1926, theo sách "Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ", mô tả "Cao Bằng là Đạo quan binh thứ nhì" gồm 1 phủ: Hòa An (phủ lỵ ở Nước Hai); 7 châu: Hà Quảng, Thạch An, (châu lỵ ở Đông Khê), Nguyên Bình, Phục Hòa (châu lỵ ở Tà Lùng), Quảng Uyên, Thượng Lang (châu lỵ ở Trùng Khánh phủ) và Hạ Lang; 3 đại lý: Quảng Uyên, Nguyên Bình và Đông Khê.[7]

Theo sách "Danh mục các làng xã Bắc Kỳ" của Ngô Vi Liễn, xuất bản tại Hà Nội năm 1928, tỉnh Cao Bằng gồm: 1 phủ, 8 châu, 33 tổng, 230 xã. Phủ Hòa An gồm 7 tổng, 54 xã (An Lại: 6 xã, Cao Bằng: 7 xã, Hà Đàm: 5 xã, Nhượng Bạn: 11 xã, Tĩnh Oa: 9 xã, Tượng Yên: 11 xã, Xuân Sơn: 5 xã).[8]

Sau Cách mạng tháng 8, năm 1948, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định bãi bỏ cấp tổng, phủ, đạo, châu. Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnh nhất loạt gọi là huyện. Phủ Hòa An đổi thành huyện Hòa An. Phần phủ lỵ phủ Hòa An được tách ra để thành lập thành thị xã Cao Bằng nằm trọn trong huyện Hòa An.

Từ năm 1954 đến 2002, huyện Hòa An gồm thị trấn Nước Hai và 24 xã: Bạch Đằng, Bế Triều, Bình Dương, Bình Long, Chu Trinh, Công Trừng, Dân Chủ,Đại Tiến, Đề Thám, Đức Long, Đức Xuân, Hà Trì, Hoàng Tung, Hồng Nam, Hồng Việt, Hưng Đạo, Lê Chung, Nam Tuấn, Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Quang Trung, Trưng Vương, Trương Lương, Vĩnh Quang.

Năm 1971, thị xã Cao Bằng mở rộng địa giới, sáp nhập các xóm: Nà Chướng, Nà Lắc, Nà Rụa, Nà Hoàng, Nà Gà, Nà Phía, Nà Đoỏng, Mỏ Muối, Khuổi Tít (thuộc xã Lê Chung); Vằng Ngà, Nà Cạn (thuộc xã Quang Trung); Giả Ngẳm, Gia Cung, Nà Pế, Nà Lum, Thắc Thúm (thuộc xã Vĩnh Quang); Nà Toòng, Nà Cáp (thuộc xã Đề Thám); Nà Kéo (thuộc xã Ngũ Lão); thuộc huyện Hòa An vào thị xã Cao Bằng.

Ngày 4 tháng 10 năm 2002, xã Đề Thám được sáp nhập vào thị xã Cao Bằng

Ngày 1 tháng 11 năm 2010, 3 xã: Hưng Đạo, Vĩnh Quang, Chu Trinh được sáp nhập vào thị xã Cao Bằng.

Tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng bằng

Cánh đồng trung tâm huyện trải dài trên 20 km (Từ xã Nam Tuấn đến xã Đề Thám) .

Ruộng bậc thang gồm các xã phía nam của huyện như Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Trưng Vương, Hồng Nam, Bạch Đằng...

Núi

Núi đồi chiếm 2/3 diện tích huyện, Độ cao trung bình là 300m , thấp dần từ tây sang đông.

Khau Mjà (xã Đức Long) cao 508m, Khau Hân (xã Bình Long) cao 524m, Khau Sầm (xã Vĩnh Quang) cao 618m, Khau Luôn (xã Lê Chung) cao 769m, Nà Mấn (xã Ngũ Lão) cao 1.011, Pá Diển (xã Quang Trung) cao 1.000m, Lũng Xen (xã Công Trừng) cao 854m. Dãy núi đá vôi Lam Sơn ( dãy Phja Ngả) nằm án ngữ phía tây huyện, địa hình hiểm trở, nhiều hang sâu.

Sông suối, hồ

Sông Bằng Giang (Đề Thám gọi là Mãng Giang), Dẻ Rào, Hiến Giang (Sông Nhiêm)

Hồ Khuổi Lái (Bạch Đằng), hồ Nà Tấu ở xã Bế Triều.

Dị tích - Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ

Pú Lương Quân thờ cha Báo Luông, mẹ Slao Cải ở Tả Sẩy xã Bế Triều.

Thành Bản Phủ của Thục Phán - An Dương Vương, chùa Đống Lân ( Thạch Sanh), chùa Đà Quận (xã Hưng Đạo),

Đền Kỳ Sầm (xã Vĩnh Quang ), 

Đền Vua Lê, Nặm Lìn (xã Hoàng Tung).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]