Hòa Bình (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thành phố Hòa Bình
Địa lý
Tọa độ: 20°51′7″B 105°20′30″Đ / 20,85194°B 105,34167°Đ / 20.85194; 105.34167Tọa độ: 20°51′7″B 105°20′30″Đ / 20,85194°B 105,34167°Đ / 20.85194; 105.34167
Diện tích

133,34 km² (2015) [1];

[2]
Dân số (154.006)  
 Tổng cộng 139.876 người
 Thành thị 89,69 % (2015)
 Nông thôn 11,31 % (2015)
 Mật độ 1049 người/km²
Dân tộc Kinh, Mường, Dao và Hoa
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Hòa Bình
Thành lập 2006 [1]
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Quách Tùng Dương[3]
 Chủ tịch HĐND Phạm Xuân Kiều
 Bí thư Huyện ủy Trần Văn Hoàn[4]
Phân chia hành chính 8 phường, 7 xã

Thành phố Hòa Bình là tỉnh lỵ tỉnh Hòa Bình, Việt Nam.

Thị xã Hòa Bình được Chính phủ Việt Nam công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh vào ngày 27 tháng 10 năm 2006.[5]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hòa Bình có 133.34 km² diện tích tự nhiên và dân số 139.876 người (tháng 6 năm 2015), .[6]

Địa giới hành chính thành phố Hòa Bình: phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi; phía Tây giáp huyện Cao Phong và huyện Đà Bắc; phía Nam giáp huyện Cao Phong; phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hòa Bình bao gồm 15 đơn vị hành chính gồm 8 phường: Chăm Mát, Đồng Tiến, Hữu Nghị, Phương Lâm, Tân Hòa, Tân Thịnh, Thái Bình, Thịnh Lang và 7 xã: Dân Chủ, Hòa Bình, Sủ Ngòi, Thái Thịnh, Thống Nhất, Trung Minh, Yên Mông.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1886, trung tâm của tỉnh Mường Hoà Bình được đặt ở Chợ Bờ, sau được chuyển về xã Phương Lâm (thuộc huyện Bất Bạt, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây lúc bấy giờ) .[7] Thị xã Hòa Bình được thành lập năm 1896 theo Sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương.

Sau năm 1975, thị xã Hòa Bình thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 6 phường: Chăm Mát, Đồng Tiến, Hữu Nghị, Phương Lâm, Tân Hòa, Tân Thịnh.

Ngày 3-8-1978, chuyển 2 xã Hòa Bình và Thịnh Lang thuộc huyện Kỳ Sơn về thị xã Hòa Bình quản lý.

Ngày 11-11-1983, chuyển xã Thái Bình thuộc huyện Kỳ Sơn về thị xã Hòa Bình quản lý.

Ngày 24-4-1988, chuyển 4 xã: Dân Chủ, Sủ Ngòi, Thống Nhất, Yên Mông thuộc huyện Kỳ Sơn về thị xã Hòa Bình quản lý.

Năm 1990, thành lập xã Thái Thịnh từ một phần các xã Thái Bình, Thịnh Lang.

Ngày 12-8-1991, tái lập tỉnh Hòa Bình từ tỉnh Hà Sơn Bình cũ, thị xã Hòa Bình trở lại là tỉnh lị tỉnh Hòa Bình.

Ngày 22-10-2002, chuyển 2 xã Thái Bình và Thịnh Lang thành 2 phường có tên tương ứng.

Ngày 4-11-2005, thị xã Hòa Bình được công nhận là đô thị loại III.

Ngày 27-10-2006[5], thị xã Hòa Bình được Chính phủ Việt Nam công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Hòa Bình.

Ngày 14-7-2009, chuyển xã Trung Minh thuộc huyện Kỳ Sơn về thành phố Hòa Bình quản lý.

Dự kiến năm 2019, các xã Thống Nhất, Yên Mông sẽ được chuyển thành 2 phường có tên tương ứng để thành phố Hòa Bình trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Hòa Bình vào năm 2020.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Hòa Bình
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34.1 35.7 38.5 39.7 41.2 39.9 39.3 39.0 36.7 39.0 35.2 33.2 41,2
Trung bình cao °C (°F) 20.5 21.4 24.6 29.1 32.7 33.6 33.6 32.8 31.6 29.0 25.8 22.6 28,1
Trung bình ngày, °C (°F) 16.5 17.6 20.7 24.5 27.3 28.4 28.5 28.0 26.8 24.3 20.9 17.7 23,4
Trung bình thấp, °C (°F) 13.8 15.2 18.2 21.6 23.8 25.1 25.3 25.1 23.9 21.2 17.8 14.6 20,5
Thấp kỉ lục, °C (°F) 1.9 5.0 7.2 11.1 16.7 18.6 19.6 21.9 16.1 10.8 5.1 2.0 1,9
Giáng thủy mm (inch) 20
(0.79)
15
(0.59)
38
(1.5)
101
(3.98)
242
(9.53)
277
(10.91)
295
(11.61)
323
(12.72)
297
(11.69)
195
(7.68)
62
(2.44)
17
(0.67)
1.880
(74,02)
độ ẩm 84.1 84.5 84.9 84.3 82.6 83.0 83.3 85.1 85.2 84.5 83.2 82.5 83,9
Số ngày giáng thủy TB 8.8 9.6 11.5 14.0 18.0 18.3 18.9 18.2 14.2 11.8 7.3 5.0 155,5
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 85 65 73 113 184 165 187 171 170 160 139 129 1.641
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[8]

Văn hóa - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa Bình là một trong những cái nôi của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, thành phố còn hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mường. Đây là lợi thế rất lớn để khai thác, phát triển kinh tế du lịch.

Một trong những tâm điểm phát triển du lịch của thành phố là Công viên văn hóa khoảng 100 ha. Đây được coi là 1 làng bảo tàng văn hóa, trong đó có 6 làng văn hóa là dân tộc Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao và Mông. Trong đó, người dân sẽ được đào tạo cơ bản về du lịch nhằm bảo tồn những nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc.

Hiện nay thành phố Hòa Bình đang triển khai đầu tư xây dựng khu đô thị Bắc Trần Hưng Đạo nằm trên địa bàn phường Đồng Tiến.

H

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nghị định số 126/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Hòa Bình thuộc tỉnh Hòa Bình.
  2. ^ Sau khi mở rộng, theo Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 1 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện và thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  3. ^ Danh sách cán bộ
  4. ^ Đảng bộ Hòa Bình
  5. ^ a ă Theo Nghị định số 126/2006/NĐ-CP ban hành ngày 27 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ Việt Nam.
  6. ^ Theo Nghị định số 32/NQ-CP ban hành ngày 1 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ Việt Nam.
  7. ^ http://hoabinh.gov.vn/web/guest/dia_chi_hoa_binh/-/vcmsviewcontent/YuHJ/2207.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  8. ^ “Vietnam Building Code Natural Physical & Climatic Data for Construction” (PDF). Vietnam Institute for Building Science and Technology. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

Bản mẫu:Thành phố Hòa Bình