Người Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Người Kinh)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Người Việt
Vietnamese people.png
từ trái sang phải: Trẻ em ở miền trung Việt Nam, Nguyễn Huệ, Nguyễn Trãi, Hàm Nghi, Hồ Chí Minh, Ông đồ viết chữ, Thiếu nữ mặc áo dài, Nam Phương, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Doan, Ngô Bảo Châu.
Tổng số dân
86 triệu
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam     81,328,696 (2015)[1]
 Hoa Kỳ2,067,527 (2016)[2]
 Campuchia750,000–800,000[3][4]
 Pháp350,000[5]
 Úc294,798[6]
 Nhật Bản262,495 (2017)[7]
 Canada174.200 (2001)[8]
 Đài Loan200,000 (2014)[9]
 Hàn Quốc155,553 (2017)[10]
 Đức150,000[11]
 Lào100,000
 Malaysia70,000[12]
 Vương quốc Anh28,000
(Vietnam-born, 2014 est.)[13]
"At least 55,000"
(total, 2007 est.)[14]
 Cộng hòa Séc58,080 (2016)[15]
 Ba Lan50,000[16]
 Nga36,225[17]
 Trung Quốc36,205[a][18]
 Philippines27,600
 Thụy Điển24,465 (2016)[19][20]
 Na Uy21,721 (2014)[21]
 Hà Lan20,603 (2014)[22]
 Thái Lan17,662 (2010)[23][24]
 Đan Mạch14,669 (2014)[25]
 Thụy Sĩ14,496
 Qatar8,000 (2008)[26]
 Macau7,199 (2011)[27]
 Bỉ7,151 (2001)[25]
 New Zealand4,875 (2006)[28]
 Phần Lan4,645[29]
 Ukraina3,850 (2001)[30]
 Hungary3,019 (2011)[31]
 Slovakia3,000[32]
 Ý3,000
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tôn giáo
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáoTín ngưỡng dân gian[33][34][35]
Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và các tôn giáo khác.
Sắc tộc có liên quan

Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Còn nếu tính cả người Việt hải ngoại thì họ định cư ở Hoa Kỳ là đông nhất.[36]

Nguồn gốc

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết dân tộc Kinh, những người Việt đầu tiên là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là "cùng bọc" (hay còn gọi là Đồng bào) và "đồng bào" là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc.

Nhân chủng học

Có hai luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ[37] bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ[38]. Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc - mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt.

Vào năm 257 TCN An Dương Vương thành lập vương quốc Âu Lạc, tại miền Bắc Việt Nam bây giờ. Vào năm 208 TCN vua nước Nam ViệtTriệu Đà tiến đánh Âu Lạc, tiêu diệt An Dương Vương. Triệu Đà hợp nhất Âu Lạc với các lãnh thổ tại miền cực nam Trung Quốc thành vương quốc Nam Việt.

Phân bố

Trên thế giới

Vào thế kỷ 16, một số người Việt di cư lên phía bắc vào Trung Quốc. Tuy đã bị ảnh hưởng Trung Hoa nhiều hơn, con cháu những người này vẫn còn nói tiếng Việt và được công nhận là một dân tộc thiểu số tại Trung Quốc.

Trong thời Pháp thuộc, một số người Việt làm công nhân đồn điền, khai mỏ tại Tân Đảo[39] (nay là Nouvelle-Calédonie và Vanuatu)... Ngoài ra còn một số cộng đồng người Việt ở Réunion, Haiti... thành lập từ những chí sĩ yêu nước bị đày ải. Tại Xiêm, Trung Quốc, Lào, Cao Miên cũng có khá nhiều người Việt sinh sống. Cũng trong thời kỳ này, một số người Việt yêu nước đã sang Xiêm, Trung Quốc, Liên Xô... thành lập các tổ chức cách mạng nhằm tránh sự bắt bớ của chính quyền thuộc địa tại Việt Nam.

Khi thực dân Pháp rời khỏi Việt Nam vào năm 1954, một số người Việt di cư sang Pháp, gần 900.000 người từ miền Bắc di cư vào miền nam.

Sau Chiến tranh Việt Nam, hơn 1 triệu người Việt di tản và vượt biên. Phần lớn những người này tái định cư tại Bắc Mỹ, Tây ÂuÚc. Tại Hoa Kỳ có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt khá lớn.

Tại Việt Nam

Bài chi tiết: Nguyễn HoàngNam tiến

Tuy gốc từ miền Bắc Việt Nam, người Việt đã Nam tiến và chiếm đất đai của vương quốc Chiêm Thành qua thời gian. Hiện nay họ là dân tộc đa số trong phần lớn các tỉnh tại Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Kinh ở Việt Nam có dân số 73.594.427 người, chiếm 85,7% dân số cả nước, cư trú tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Các tỉnh, thành phố có số lượng người Kinh lớn nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh (6.699.124 người), Hà Nội (6.370.244 người), Thanh Hóa (2.801.321 người), Nghệ An (2.489.952 người), Đồng Nai (2.311.315 người), An Giang (2.029.888 người).

Người Kinh là dân tộc đa số tại Việt Nam, tuy nhiên tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, người Kinh lại là dân tộc thiểu số: Lào Cai (212.528 người, chiếm 34,6% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Hòa Bình (207.569 người, chiếm 26,4% dân số toàn tỉnh, người Mường là dân tộc đa số ở Hòa Bình, chiếm 63,9%), Sơn La (189.461 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh, người Thái là dân tộc đa số ở Sơn La), Lạng Sơn (124.433 người, chiếm 17,0% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Hà Giang (95.969 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Điện Biên (90.323 người, chiếm 18,4% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Lai Châu (56.630 người, chiếm 15,3% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Bắc Kạn (39.280 người, chiếm 13,4% dân số toàn tỉnh, người Tày là dân tộc đa số ở tỉnh này), Cao Bằng (29.189 người, chỉ chiếm 5,76% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số).

Kinh tế - văn hóa - xã hội

Kinh tế

Có thể nói nền kinh tế mạnh nhất là nền nông nghiệp lúa nước. Nền văn minh lúa nước đã được khai sinh từ rất ngàn đời xưa và đạt được trình độ nhất định. Nền nông nghiệp phát triển cũng nhờ một phần vào sự đào đê, đào nương. Ngoài nghề nông nghiệp, người Kinh cũng làm một số các nghề khác ví dụ như chăn nuôi gia súc, làm đồ thủ công...

Văn hóa

Văn học

Văn học của người Kinh đã từng tồn tại từ rất lâu và được truyền miệng qua truyển cổ, ca dao, tục ngữ... Nghệ thuật phong phú như ca hát, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, múa, diễn xướng... Hàng năm thì theo truyền thống các làng đều tổ chức hội làng với các sinh hoạt cộng đồng. Khoảng sau Công nguyên, người Kinh bị Bắc thuộc nên đã dùng chữ Hán nhưng sau này tự tạo chữ viết riêng là chữ Nôm. Tuy nhiên chữ Hán vẫn là ngôn ngữ chính thức được dùng trong hành chính và giáo dục. Từ khoảng thế kỷ thứ 16 các giáo sĩ truyền giáo đến từ phương Tây thấy cần dùng chữ cái Latin để ký âm tiếng Việt. Từ đó xuất hiện chữ Quốc Ngữ được sử dụng rộng rãi ngày nay.[40] Năm 1945, 95% dân số Việt Nam mù chữ[41] nhưng đến năm 2010 tỷ lệ biết chữ ở người lớn là 97,3%[42]. Tuy nhiên tỷ lệ đọc sách của người Việt khá thấp ở mức 0,8 cuốn sách/người/năm[43]. Với mức này, có thể nói người Việt chưa có văn hóa đọc[44].

Người Kinh có truyền thống ăn trầu cau, hút thuốc lá, nước vối, nước chè, hút thuốc lào, các loại cơm, cháo, xôi, mắm tôm, thịt chó, trứng vịt lộn. Việc hút thuốc lá, thuốc lào có lẽ sau thế kỷ 16, sau khi cây thuốc lá nhập vào Việt Nam từ châu Mỹ. Ngoài các giá trị vật chất, người Việt còn có những giá trị tâm linh như việc thờ cúng tổ tiên, giỗ và các lễ hội như Tết. Các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Công giáo Rôma, đạo Cao Đài...

Trang phục

Trang phục truyền thống trong đám cưới của người Việt

Nói chung người Việt Nam dù ở Bắc, Trung hay Nam đều có cách mặc gần giống nhau. Các loại quần áo như áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng, quần có cạp hoặc dùng dây rút. Thời xưa thì đàn ông để tóc dài, búi tó, hoặc thắt khăn đầu rìu,... Vào các lễ hội đặc biệt thì mặc áo dài khăn đống, mùa áo đơn giản không có văn hoa. Chân thì đi guốc mộc.

Vào thời xưa thì phụ nữ người Kinh ai cũng mặc yếm. Váy thì váy dài với dây thắt lưng. Các loại nón thông thường như thúng, ba tầm... Trong những ngày hội thì người phụ nữ thường mặc áo dài. Các thiếu nữ thì hay làm búi tóc đuôi gà. Các đồ trang sức truyền thống như trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay mang phong cách tùy theo từng vùng. Phụ nữ Nam Bộ thường mặc áo bà ba với các kiểu cổ như tròn, trái tim, bà lai với các khăn trùm đầu. Nón lá có thể nói là nón được sử dụng rộng rãi nhất cho phụ nữ thời xưa do nó có thể tự làm và che nắng rất tốt.

Xã hội

Theo truyền thống ngàn đời thì người Kinh sống theo làng. Nhiều làng họp lại thì thành một . Mỗi làng có thể có nhiều xóm. Nếu tính ra một thôn của miền Bắc thì bằng với một ấp của miền Nam. Trong các làng và xã đều có luật lệ riêng mà mọi người đều phải thi hánh. Các làng miền Bắc thường được che chắn bằng cách trồng tre hoặc xây cổng kiên cố. Mỗi làng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung. Một số làng có đình thờ thành hoàng làng, là người được coi là thần bảo hộ của làng. Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấm không được đến đình làng.

Tầm vóc

Hiện nay, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam là 164 cm, thấp nhất Châu Á, thua 8 cm so với Nhật và 10 cm so với Hàn Quốc.[45] Còn chiều cao của nữ giới thì gần 154 cm.

Theo tiến sĩ Lê Bạch Mai, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia Việt Nam cho biết tại buổi họp báo sáng 8 tháng 10 năm 2014, người Việt thấp bé nhẹ cân không phải thuộc tính di truyền mà có thể cải thiện nhờ chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Nhà cửa

Phong cách và hình dạng nhà cửa tùy theo từng vùngmiền. Chủ yếu là nhà được xây dựng bằng những vật liệu sẵn có như cỏ khô, rơm rạ, tre nứa. Nhà điển hình là nhà lá 3 gian hoặc 5 gian. Tuy nhiên do điều kiện thời tiết khí hậu nên nhà cửa ở miền trung và miền nam có chút ít khác biệt nhưng nhìn chung vẫn là kết cấu nhà 5 gian. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân nên nhà ở đã có sự thay đổi cả về kết cấu và vật liệu xây dựng. Hầu như nhà nào cũng có phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn và nhà bếp (đôi khi phòng ăn và nhà bếp là một).

Hôn nhân gia đình

Theo truyền thống thì người đàn ông là trụ cột gia đình. Các đứa con đều lấy họ cha và được coi là nối nghiệp tông đường. Dòng họ của bố là "họ nội" còn dòng họ bên mẹ là "họ ngoại". Đứa con trai đầu thường là người giao cho trọng trách nhiều nhất trong gia đình. Mỗi họ đều có chỗ thờ họ và người trưởng họ sẽ lo việc chung. Cháu trai của đời con trai đầu được gọi là "cháu đích tôn". Hôn nhân chỉ được chấp nhận dưới dạng một chồng một vợ. Quan hệ đồng tính hiện chưa được chính phủ chấp nhận tại Việt Nam.[46][47] Việc cưới xin thì thưởng phải đi qua các nghi thức truyền thống của người Việt. Người Kinh coi trong sự trinh trắng và đức hạnh của người con gái và còn quan tâm đến gia thế của họ.

Đánh giá

Những đánh giá về người Việt Nam hiện đại (thế kỷ 20-21) đã được một số học giả trong và ngoài nước đưa ra trong các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, các tiểu luận hay các công trình nghiên cứu xã hội học và dân tộc học. Các đánh giá này được nêu tại những thời điểm lịch sử khác nhau, trong đó có một phần đáng kể về vai trò và tính hai mặt, ưu và nhược điểm trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán người Việt trong tiến trình phát triển của dân tộc. Các tổng kết dựa trên các nghiên cứu còn một số khác là nhận định cá nhân hay suy diễn logic của các học giả nổi tiếng. Tính hai mặt của người Việt Nam đã được đa số các học giả thừa nhận và khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tâm lý, văn hóa, xã hội và lịch sử dân tộc. Những đặc điểm phổ biến trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán của người Việt mà các tác giả đã chỉ ra cũng không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện xã hội cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng, học thuật với thế giới.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “The world factbook”. 
  2. ^ “ASIAN ALONE OR IN ANY COMBINATION BY SELECTED GROUPS: 2016”. U.S. Census Bureau. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017. 
  3. ^ Ponnudurai, Parameswaran (19 tháng 3 năm 2014). “Ethnic Vietnamese in Cambodia Left in Limbo Without Citizenship”. Radio Free Asia. RFA Khmer Service. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^ “Vietnamese in Cambodia”. Joshua Project. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2018. 
  5. ^ Étude de la Transmission Familiale et de la Practique du Parler Franco-Vietnamien (in French) Retrieved on 22-12-2015.
  6. ^ Statistics, c=AU; o=Commonwealth of Australia; ou=Australian Bureau of. “Main Features - Country of birth”. www.abs.gov.au. 
  7. ^ “法務省:【在留外国人統計(旧登録外国人統計)統計表】”. www.moj.go.jp. 
  8. ^ “Census Profile, 2016 Census”. Statistics Canada. 7 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  9. ^ Vietnamese in Taiwan fear an anti-Vietnam backlash may soon ensue Lưu trữ May 17, 2014, tại Wayback Machine.
  10. ^ “출입국・외국인정책 통계월보 (2017년 4월호)”. Korea Immigration Service. 
  11. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2016. 
  12. ^ “Malaysia to raise minimum wage for Vietnamese laborers”. Thanh Nien News. 1 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  13. ^ “Table 1.3: Overseas-born population in the United Kingdom, excluding some residents in communal establishments, by sex, by country of birth, January 2014 to December 2014”. Office for National Statistics. 27 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.  Figures given are the central estimates. See the source for 95 per cent confidence intervals.
  14. ^ “Vietnamese Community in Great Britain”. Runnymede Trust. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008. 
  15. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018. 
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Quê Hương
  17. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2006. 
  18. ^ “Major Figures on Residents from Hong Kong, Macao and Taiwan and Foreigners Covered by 2010 Population Census”. National Bureau of Statistics of China. 29 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2011. 
  19. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017. 
  20. ^ [1][liên kết hỏng]
  21. ^ “Many new Syrian immigrants”. 
  22. ^ “Bevolking; generatie, geslacht, leeftijd en herkomstgroepering, 1 januari” (bằng tiếng Dutch). Statistics Netherlands. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014. 
  23. ^ Vapattanawong, Patama. “ชาวต่างชาติในเมืองไทยเป็นใครบ้าง? (Foreigners in Thailand)” (PDF). Institute for Population and Social Research - Mahidol University (bằng tiếng Thai). Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017. 
  24. ^ [Việt Nam và Thái Lan hợp tác dạy tiếng Việt]. Vietbao.vn (2008-07-14). Retrieved on 2011-05-30.
  25. ^ a ă “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. 
  26. ^ [2]
  27. ^ “Macau Population Census”. Census Bureau of Macau. Tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2016. 
  28. ^ Vietnamese – Facts and figures – Te Ara Encyclopedia of New Zealand. Teara.govt.nz (2009-03-04). Retrieved on 2011-05-30.
  29. ^ Người Việt ở Phần Lan náo nức chuẩn bị Tết Mậu Tý – Tiền Phong Online. Tienphong.vn. Retrieved on 2011-05-30.
  30. ^ All-Ukrainian Population Census 2001: The distribution of the population by nationality and mother tongue State Statistics Committee of Ukraine. Retrieved 4 September 2012
  31. ^ Népszámlálás 2011.Retrieved on 2013-03-28.
  32. ^ Bộ Ngoại giao Việt Nam Lưu trữ May 3, 2007, tại Wayback Machine.
  33. ^ Hữu Ngọc: Phật giáo phù hợp với tư tưởng người Việt
  34. ^ Vietnam Tourism - Tôn giáo và tín ngưỡng Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.
  35. ^ SNIE 53-2-63, "The Situation in South Vietnam, ngày 10 tháng 7 năm 1963, President Diem, his family, and a large proportion of the top leaders of the regime are Roman Catholics, in a population that is 70 to 80 percent Buddhist
  36. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên uscensus
  37. ^ Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc, Xuân Thu, 1971
  38. ^ Madrolle C. L., 1918. Les populations de L’Indochine, Paris
  39. ^ Người Việt ở Tân đảo và hành trình xa xứ, Quang Lễ, Báo Công an nhân dân, 14/02/2010
  40. ^ “Quốc Ngữ”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 
  41. ^ Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Bình dân học vụ, Phạm Hải Yến, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III
  42. ^ Thành tựu về giáo dục trong phát triển quyền con người ở Việt Nam, Báo Nhân dân, Thứ năm, 13/12/2012 - 06:28 PM (GMT+7)
  43. ^ Giật mình! người Việt không đọc nổi 1 cuốn sách/năm, Vietnamnet,
  44. ^ Người Việt Nam chưa có văn hóa đọc!, Vietnamnet
  45. ^ Chiều cao người Việt thấp nhất châu Á, VnExpress, 8.10.2014
  46. ^ “Hôn nhân đồng giới”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 
  47. ^ “Hôn nhân đồng tính ở Việt Nam - Khi nào Nhà nước công nhận?”. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 

Liên kết ngoài


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu