Thịt chó

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm


Thịt chó
Dog meat for sale in a market in Hanoi, Vietnam (6827793370).jpg
Thịt chó được bán tại một chợ ở Hà Nội, Việt Nam
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g thịt chó
Năng lượng1.100 kJ (260 kcal)
0.1 g
19 g
Vitamin
Vitamin A equiv.
(0%)
3.6 μg
Thiamine (B1)
(10%)
0.12 mg
Riboflavin (B2)
(15%)
0.18 mg
Niacin (B3)
(13%)
1.9 mg
Vitamin C
(4%)
3 mg
Chất khoáng
Canxi
(1%)
8 mg
Sắt
(22%)
2.8 mg
Phốt pho
(24%)
168 mg
Kali
(6%)
270 mg
Natri
(5%)
72 mg
Thành phần khác
Nước60.1 g
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (Khuyến cáo của Hoa Kỳ) cho người trưởng thành.

Thịt chóthịt của các loài chó. Trong lịch sử, việc ăn thịt chó đã được ghi nhận tại nhiều vùng trên thế giới, bao gồm Đông Á, Đông Nam Á, Tây Phi, châu Âu, châu Đại Dươngchâu Mỹ.[1] Tại thế kỷ 21, thịt chó vẫn là một món ăn thông thường tại Trung Quốc,[2] Hàn Quốc[3]Việt Nam.[4].

Hiện nay, đối với một số nền văn hóa, thịt chó được coi là một phần của văn hóa ẩm thực hàng ngày, thậm chí đã trở thành một món đặc sản. Nhưng đối với một số nước khác, đặc biệt là phương Tây, việc ăn thịt chó được coi là điều cấm kỵ, mặc dù họ cũng ăn thịt chó trong điều kiện chiến tranh hoặc thiếu lương thực.[5][6] Theo ước tính năm 2014, mỗi năm có 25 triệu con chó bị con người giết lấy thịt.[7]

Phong tục ăn thịt chó tại các quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các nước như Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, thịt chó là món ăn khoái khẩu và được tiêu thụ nhiều, trong khi đó tại nhiều quốc gia Tây phươngHồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó (và mèo) được coi là tàn bạo và bị cấm.[8] Loài người không phải là loài duy nhất thích ăn thịt chó, loài báo hoa mai được biết như là những kẻ thèm thịt chó và sẵn sàng liều lĩnh xông vào nhà dân để giết chó nuôi.

Có 11 vùng lãnh thổ trên thế giới phổ biến việc ăn thịt chó, bao gồm: Trung Quốc, Indonesia, Triều TiênHàn Quốc, México, Philippines, Polynesia, Việt Nam, người Eskimo sống ở Bắc Cực, và Thụy Sĩ.[9]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt chó đã được sơ chế ở ngoại thành Hà Nội
Thịt chó luộc, dồi chó dùng kèm với rau sống & mắm tôm tại một quán thịt chó bình dân ở miền Bắc Việt Nam.

Việt Nam là một trong những nước ăn thịt chó nhiều nhất thế giới với 5 triệu con chó được làm thịt và tiêu thụ mỗi năm.[10][11] Chó ở Việt Nam dùng làm thịt thường là chó cỏ không phải các loại chó kiểng vì được cho là vừa đắt vừa không ngon.

Ở miền Bắc Việt Nam, thịt chó được một số lượng lớn dân cư đặc biệt ưa chuộng. Những vùng thịt chó nổi tiếng (hoặc đã từng nổi tiếng) đến mức được định danh thương hiệu (một cách không chính thức) có thể kể đến "thịt chó Nhật Tân" (Hà Nội), "thịt chó Vân Đình" (Hà Nội), "thịt chó Việt Trì" (Phú Thọ), "thịt chó Tiên Lãng" (Hải Phòng), "thịt chó Cầu Vòi" (Nam Định)[12].

Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Người ăn đầu tiên là thầy cúng, thầy phù thủy mà cũng chỉ ăn lén, ăn vào lúc tối trời, đêm hôm. Do mặc cảm tội lỗi xưa nay chẳng ai nói toạc ra là ăn thịt chó. Do kiêng kỵ nên người ta nói chệch là ăn thịt cầy, mộc tồn ("cây còn" nói lái của "con cầy").[13]

Thịt chó thường được các đầu bếp Việt Nam chế biến thành các món: thịt luộc (biến thể là hấp hoặc phay); dồi nướng; lòng hấp; thịt nướng (biến thể là quay, chả chìa); nhựa mận (biến thể là xào lăn); xáo măng (biến thể là lẩu). Các gia vị chính để chế biến món thịt chó là: sả, riềng, mẻ, mắm tôm, lá mơ trắng. Các đồ ăn và rau thơm đi kèm: bánh đa, húng chó, hành sống, mơ tam thể, củ sả, ớt trái,.. Tuy phổ biến khái niệm "thịt chó bảy món", "cầy tơ bảy món", nhưng đó chỉ là con số có tính giả định, thực tế số lượng các món thịt chó có thể nhiều ít tùy theo người đầu bếp. Ngoài các món thịt chó truyền thống như các món thịt luộc, xáo, rựa mận, xương, dồi, chả nướng, đùi, có nơi người ta đã chế biến thịt chó thành nhiều món mới như giả chuột, giả trâu, giả chim, giả dê, giả bò, gan nướng lá na, v.v... Bên cạnh các món ăn thịt chó truyền thống còn xuất hiện các món ăn mới được phát triển như lẩu chó, chó quay, giò chó, dăm-bông chó... Bằng nhiều cách thức chế biến sáng tạo, người Việt đã tạo nên sự đa dạng các món ăn từ thịt chó. Tuy thịt chó thường đi liền với húng chó, riềng, sả... nhưng đặc biệt nhất vẫn là mắm tôm. Đồ uống thường sử dụng với thịt chó là rượu đế; bia.

Quan niệm người Việt từ trước đến nay vẫn cho rằng: ăn thịt chó đầu năm, đầu tháng thì sẽ không tốt, không gặp may mắn trong cả năm, cả tháng đó; nhưng ăn thịt chó vào cuối năm, cuối tháng hoặc sau khi gặp một chuyện không hay thì lại là xua đuổi cái "vận đen" đi. Thịt chó cũng được sử dụng trong các dịp cỗ bàn, gặp mặt, cảm ơn, hội họp, quà tặng.

Trước đây, phần lớn chó ở Việt Nam bị người nhà tự giết thịt hoặc bán lấy tiền, nhưng gần đây, ngày càng nhiều người Việt Nam coi chó là một thành viên trong gia đình chứ không phải là tài sản để bán, là vật nuôi lấy thịt như trước. Để đáp ứng nhu cầu thịt chó cho các cửa hàng, rộ lên tình trạng câu trộm, bắt trộm chó gây nhiều bức xúc trong dư luận và người dân, nhưng pháp luật Việt Nam lại không có quy định đủ mạnh để răn đe tội phạm bắt trộm chó (các nhà làm luật Việt Nam vẫn giữ lối tư duy coi chó chỉ là một thứ tài sản rẻ tiền, trong khi thực tế nhiều người Việt Nam rất yêu quý và coi chú chó là một thành viên trong gia đình). Kết quả là nhiều vụ bắt trộm chó dẫn tới hậu quả nghiêm trọng (trộm chó bắn chết chủ nhà khi họ cố bảo vệ chó, hoặc kẻ trộm bị người dân bắt được và hành hung đến chết do quá bức xúc).[14]

Tại miền nam Việt Nam, việc ăn thịt chó trước kia không phổ biến (do người Pháp cai trị vùng này rất cấm kỵ việc ăn thịt chó). Chỉ từ sau 1954, khi người Công giáo từ miền Bắc di cư vào thì người miền Nam mới biết đến thịt chó một cách phổ biến. Nhiều vùng có đông người Công giáo di cư như Hố Nai, Biên Hòa... có nhiều quán thịt chó. Tại Sài Gòn, người ta dễ tìm thấy các quán thịt chó ở quận Tân Bình, Gò Vấp...

Ngược dòng lịch sử, năm 247 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc lúc đó có địa giới chủ yếu là phía bắc sông Hoàng Hà và một phần của nước Sở ở lưu vực sông Dương Tử (sông Trường Giang), kết thúc thời Chiến quốc. Năm 218 trước Công nguyên, nhà Tần sai Hiệu úy Đồ Thư cầm 50 vạn quân (nửa triệu quân chưa kể dân phu) chia làm 5 đạo cùng với các tội nhân tiếp vận lương cùng vượt sông Dương Tử tiến về phía Nam đánh chiếm đất của Bách Việt. Chỉ trong khoảng hơn một năm (217 Tr.CN), quân Tần đã chiếm được gần hết vùng đất rộng lớn của Bách Việt từ nam sông Dương Tử ngày nay ở Trung Quốc là các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Chiết Giang, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông… đến Hải Nam. Sau khi chiếm đất Bách Việt, Nhà Tần đưa những người bị tội vào ở lẫn lộn với người Bách Việt 13 năm, thực hiện lần đầu tiên chính sách đồng hóa chủng tộc của người Hoa Hạ – sau gọi là Hán.

Sử sách thời cổ đại ở Trung Quốc viết năm 214 Tr.CN, quân Tần đi xuyên sơn vào đất Lạc Việt, bị khốn gần 10 năm, người Tây Âu và Lạc Việt không chịu hàng bỏ vào rừng, đêm ra đánh, lâu ngày quân Tần hết lương, bèn phá tan quân Tần chết mấy trăm vạn, giết được Đồ Thư. Quân Tần đại bại, đến năm 207 Tr.CN, vua Tần Nhị Thế phải cho quân Tần rút về nước. Mười phần lúc nhà Tần khởi binh xâm lược Bách Việt, khi thua trận tàn quân chạy về chỉ còn 2 ~ 3 phần chạy về Trung Nguyên (Trung Hoa).

Đây chính là một trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầu tiên, vĩ đại nhất thời Cổ đại của người Lạc Việt được ghi rất nhiều trong sử sách Trung Hoa. Những sự kiện lịch sử của người Lạc Việt phần lớn được ghi trong hàng trăm thư tịch cổ Trung Hoa. Vào những năm cuối thập niên 60 và thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, khảo cổ học Trung Quốc đã khai quật được rất nhiều di vật khảo cổ về vũ khí, áo giáp, xe, hài cốt người… có niên đại thời nhà Tần. Trong các di chỉ khảo cổ học của người Việt được khai quật có xương chó, vũ khí in, đúc, khắc hình con chó.

[1] Tượng đồng người dắt hai con chó – Di tích khảo cổ Phú Lương, Hà Đông, Văn hóa Đông Sơn trung kỳ niên đại 2,000 năm Tr.CN.

Dã Sử và truyền thuyết thời cổ nói rằng các đội quân Việt khi đánh quân xâm lược thì trong các Đoàn quân Việt thường nuôi hàng trăm con chó, được huấn luyện để canh gác nơi đóng quân cũng như được đưa ra xung trận đầu tiên làm rối loạn hàng ngũ quân giặc rồi quân Việt mới tiến công. Sự việc nuôi chó trong quân Việt đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí về việc Tướng quân Nguyễn Xí huấn luyện hàng trăm con chó trong quân khởi nghĩa của Lê Lợi chống nhà Minh. Trong các di vật Khảo cổ Văn hóa Hòa Bình đến Văn hóa Đông Sơn có nhiều chứng tích về thuần dưỡng chó và sự quý mến của người Việt với con chó nhà.

Trong bài viết “Quan hệ nhân – khuyển qua minh chứng của khảo cổ học” ngày 7/3/2018 của Học giả – Tiến sỹ Nguyễn Việt đã chứng minh nhiều sự vật minh chứng cho người Việt đã thuần hóa và nuôi chó cách đây vài chục nghìn năm. Xin lược trích có biên tập dưới đây:

“Trong số xương cốt động vật mà E. Patte, nhà khảo cổ học người Pháp khai quật tại cồn sò điệp Đa Bút (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) từ những năm 30 thế kỷ XX, đã có xuất hiện một số mảnh xương hàm chó. Những mảnh xương đó được các nhà khoa học xác nhận thuộc một loài chó nhà gần với loài chó Phú Quốc. Địa điểm khảo cổ học Đa Bút có niên đại carbon phóng xạ C14 có niên đại 7,000 năm cách ngày nay được coi như niên đại sớm nhất thuần dưỡng chó ở Việt Nam. Năm 2004, khai quật khảo cổ mộ bó xương người có niên đại gần 20 ngàn năm tại mái đá Đú Sáng (Kim Bôi, Hòa Bình) thuộc Văn hóa Hòa Bình cũng đã phát hiện một cặp hàm trên và hàm dưới của một loài chó. Cặp hàm này thuộc một cá thể chó trưởng thành được chôn như vật tùy táng trong ngôi mộ, có thể thấy đây phải là vật nuôi thân thiết với con người khi còn sống.

Tại các di chỉ Khảo cổ, xương chó đã được phát hiện rải rác trong các địa điểm khảo cổ học hậu kỳ đá mới và thời đại kim khí. Một số tượng chó, hình chó được người Việt khắc đúc được biết đến nay có niên đại khoảng 3,500 năm Tr.CN. Trong số tượng đất nung cỡ nhỏ phát hiện ở các hố đất đen tại di chỉ Văn hóa Đồng Đậu (Minh Tân, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) hầu hết là xương gia súc, trong đó có những tượng chó bằng đất nung. Dường như chó đã trở thành vật nuôi gắn bó trong đời sống cư dân Việt có nền Văn minh kinh tế trồng trọt, canh tác lúa nước.

[2] Vòng đồng Văn hóa Đông Sơn niên đại 2,500 năm Tr.CN có hình đôi chó.

Trong các di vật đồ đồng Văn hóa Đông Sơn thời kỳ 2,500 năm Tr.CN đến thế kỷ trước và sau Công nguyên. Con chó được thể hiện rất nhiều trong sinh hoạt, chiến trận của người Việt. Hình ảnh chạm khắc, tượng chó giúp người săn hươu là hình ảnh tiêu biểu trên hàng trăm rìu chiến hình mũi hài Đông Sơn. Ở đây, những chú chó luôn chặn đầu đàn hươu đang chạy, đối diện phía bên kia là những thợ săn giương cung, vung rìu trên các con thuyền độc mộc. Trên những tang trống hay thân thạp đồng có trang trí thuyền chúng ta thấy chó còn được đưa lên thuyền chiến đi cùng các chiến binh hóa trang tham dự lễ xuất quân hoặc lễ khải hoàn chiến thắng. Chó cũng từng thấy gắn bó với cảnh sinh hoạt của một nhóm người Đông Sơn hành lễ được đúc trên một cán dao găm bằng đồng và được đúc trên các vật trang trí gắn trên đồ gỗ hay trang phục, đầu tóc quý tộc Đông Sơn. Nhưng có lẽ bức tượng người bằng đồng đứng thẳng trong tư thế hai tay thân thiện đặt trên lưng hai con chó được khai quật trong khu mộ thân cây khoét rỗng Phú Lương (Hà Đông, Hà Nội) là hình ảnh tiêu biểu và sinh động nhất về quan hệ giữa người Đông Sơn và “loài khuyển” đáng quý này. Cho đến nay đã phát hiện được hai khối tượng như vậy. Nghệ nhân đúc đồng đã thể hiện một người đàn ông búi tó cao khoảng 8cm với cặp chó như sinh đôi ở hai bên đứng cao tới trên thắt lưng của người đàn ông đó. Hai tay người đàn ông đặt ngang lưng hai con chó, rất khoan thai, thân thiết.

Trải qua trên 7,000 năm gắn bó Nhân – Khuyển, chó càng trở thành người bạn không thể thiếu trong đời sống người Việt. Chó được trân trọng đặt canh cổng trong các kiến trúc tâm linh như: đền, miếu, lăng mộ… và có lẽ đã được gia nhập linh vật Việt dưới dạng Nghê thần. Thậm chí chó còn được lập đền thờ cúng như một Linh Cẩu. Đặc biệt, từ hơn 2,000 năm trước, chó còn được chọn đặt trong số 12 con vật tượng trưng cho mùa màng, cho số phận của con người và trời đất: Cứ 12 năm lại quay một vòng trở về với Tuất. Năm nay là năm Mậu Tuất”.

[3] Rìu chiến Văn hóa Đông Sơn 2,500 Tr. CN có khắc hình người và chó săn hươu.

Có thể vì thế mà con chó được người Việt tôn thờ làm Linh vật Chó Đá canh giữ cổng đền, chùa hay trước cổng những gia đình khá giả ở xã thôn miền Bắc, ở trước nhiều ngôi mộ cổ, lăng… Nhiều nơi dưới chân tượng chó đá thường có một bát hương để thắp lễ vào các ngày rằm, mùng 1, ngày Tết Nguyên đán… Trong đời sống tâm linh người Việt, đặc biệt là người dân ở vùng Đồng bằng Bắc bộ, ở các tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương thì người ta tin rằng con chó đá để ở ngoài cổng có thể đuổi được tà ma. Dân gian có câu “Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang” là ý coi trọng con chó đã được người Việt thuần hóa, gắn bó từ hàng vạn năm. Con mèo là một gia súc tự thuần hóa vì thấy nơi ở của con người nhiều chuột, sẵn thức ăn, vậy nên bản tính hoang dã của con mèo cao hơn con chó.

Chùa Cầu ở Hội An, Quảng Nam ở miền Trung được xây dựng vào thế kỷ XVII có bảng câu đối chữ Hán có nhắc đến Chó là Thiên Cẩu – là một linh vật, Nhà Văn hóa Dân gian Nguyễn Bội Liên (1911-1996) có dịch và giải nghĩa câu đối chữ Hán ở phía cửa đông cầu:

“Thiên cẩu song tinh an cấn thổ, Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”

Dịch là:

“Hai sao thiên cẩu ở yên nơi đất cấn Hai tướng tử vi định được chốn quẻ khôn”

Đôi câu đối chữ Hán ở cửa phía tây của cầu:

“Ngoạn nguyệt khách du châu vĩ điện, Khán hoa nhân đáo mã đề lôi”

Dịch là:

“Khách ngắm trăng thuyền nhanh như chớp Người xem hoa vó ngựa sấm vang”

Ở Hà Nội, gần sát đoạn lên dốc đường Thanh Niên, trên hồ Trúc Bạch có một gò đất nhỏ nổi lên, xưa có một ngôi miếu nhỏ, hoang phế gọi là Đền Cẩu Nhi. Thời kỳ 1980 – 1990, trong giới học giả Văn hóa đã từng có nhiều tranh luận về có hay không tục thờ chó của người Việt, người phản đối tục thờ chó gay gắt nhất lúc đó là cố Giáo sư Đỗ Văn Ninh, ông là một học giả uyên thâm, rất giỏi Hán văn và Pháp văn lại là một trong những học giả hàng đầu về khảo cổ học, sử học… Tuy nhiên, cuộc tranh luận cũng không phân thắng bại. Sau những năm 1995 – 2005, chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng đã phục hồi nhiều nghi lễ thờ phụng cổ truyền trong dân gian. Sau khi được xã hội hóa cho phép phục dựng lại ngôi miếu hoang phế thành đền đã được khánh thành tháng 8/2017, trên cửa đền có biển là Thủy Trung Tiên. Sách Tây Hồ Chí có ghi lại sự tích đền Cẩu Nhi có liên quan đến cuộc định đô Thăng Long của vua Lý Công Uẩn. Thời Hậu Lê, đền có tên là Thủy Tiên Từ. Theo một số tài liệu và bài viết về lịch sử ngôi đền Cẩu Nhi có dẫn tài liệu của Thư viện Quốc gia về một tấm ảnh chụp ở đây khoảng cuối thế kỷ XIX thấy có tấm hoành của miếu cũ ghi chữ Thủy Tiên Từ.

[4] Tượng con Nghê trước điện Thái Hòa, Huế.

Nghiên cứu Dân tộc học đã cho thấy con chó được coi là Vật Tổ (Totem) trong tín ngưỡng của người Cơ Tu. Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa có một trận đại hồng thủy tiêu diệt muôn loài. Chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, người Tà Oi, người Việt… ra đời.

Truyền thuyết về ông Tổ Chó cũng còn thấy ở nhiều dân tộc khác ở Việt Nam như Chăm, Xê Đăng, Lô Lô, S’tiêng, Giẻ Triêng, Dao… Người Dao có truyền thuyết và phong tục thờ ông Tổ Chó. Truyền thuyết kể rằng: “Xưa kia có ông vua của người Dao không có con trai chỉ sinh được 12 người con gái. Một ngày giặc sang xâm lược, vua liền truyền rằng ai đánh thắng giặc vua sẽ gả cả cho 12 cô con gái, vua cầu khấn Trời để xin. Rồi xuất hiện một Long Khuyển ngũ sắc, đầu Chó, mình Rồng, lông ngũ sắc, lại có 12 cái đuôi, đến xin vua cho đánh giặc. Long Khuyển ra trận diệt hết giặc rồi trở về gặp vua. Nhà vua liền gả các con gái cho Long Khuyển được vua truyền ngôi báu”. Để nhớ ơn con Long Khuyển đã có công dẹp giặc cứu dân nên người Dao thêu hình con chó với 4 chân chó ở sau áo.

Văn học dân gian có tác phẩm Lục súc tranh công (khuyết danh) viết bằng chữ Nôm, xuất hiện khoảng đầu TK XX, con chó có mặt để nói về công trạng của mình:

“Đêm năm canh con mắt như chong: Đứa đạo tặc nép oai khủng động. Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống, Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh. Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh, Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc. Bao quản chui gai, lước góc, Chi này múa mỏ, lòn hang…”

“Khi sống thì giữ gìn của đời, Khi thác xuống giữ cầu âm giải, Người có phước, muông đưa ra khỏi, Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu! Chủ có lòng suy trước, xét sau, Khi lâm tử gạo tiền tống táng. Chủ đã có công dày ngãi rộng, Muông dễ không tiếp rước đãi đưa…”

Trước thời điểm ra đời của Lục súc tranh công, có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. Khi được coi là Linh vật, chó đá được đục khắc một hình hài oai nghiêm tĩnh lặng đặt hai bên trước cổng đền, chùa, miếu. Trong nghệ thuật tín ngưỡng Việt, từ hình ảnh chó – một gia súc, qua sáng tạo, thần hóa thành Chó Đá, rồi để tăng thêm sự linh thiêng, quyền uy trấn giữ ma quỷ nhưng vẫn gần gũi với đời sống người Việt thì Chó Đá biến thành con Nghê, với tư thế 4 chân ngồi canh giữ giống chó đá, nhưng về hình thức lại biến hóa có vây, có vẩy, dáng ngồi như chó, thân hình lại như rồng mà không phải là rồng.

[5] Nghê đá trước lăng Diên Hương, Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Tra chữ Nghê trong Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế, tại trang 1213 có ghi chú giải chữ Nghê là Ráng Trời, viết bộ Võ, nghĩa là “Trời mây sắc đỏ”. Không rõ chữ “Nghê” là một danh từ thuần Việt, không có trong Hán tự, hay là chữ Nôm? Khác chó đá ở hình thái linh vật bên ngoài, con Nghê có lúc được đưa lên cao hơn khi Chó Đá chỉ ngồi ở dưới đất. Nhiều tượng con Nghê được đặt trên đỉnh trụ tam quan, trên mái đền, chùa ở khắp các vùng Bắc bộ Việt Nam. Con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Hình tượng con Nghê được chạm xà bẩy từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài, được gắn trên đầu đao đình, chùa, đền, phủ.

Lược trích một số thông tin về hình tượng con Nghê: Một số cổ vật tượng và hình con Nghê đang lưu giữ tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp: 1/ Chân đèn có tượng Nghê, chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng, Hà Nội. 2/ Đĩa vẽ hình con Nghê. Tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Hà Nội hiện đang lưu giữ 8 cổ vật hình con Nghê được làm qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm cổ như: Tượng con Nghê, bình đốt trầm hương trên bàn thờ, nậm rượu hình con Nghê, chân đèn hình con Nghê, đĩa trang trí hình con Nghê. Còn lưu giữ được các hiện vật con Nghê thời Lý làm bằng gốm ở chùa Cổ Chất, tỉnh Nam Định.

Về chữ “Cẩu” có thể được dùng đầu tiên của Cao Bá Quát làm bài thơ tả hai ông quan chửi nhau vào thời vua Tự Đức (1847-1883). Các danh từ về chó có trong thơ văn như Khuyển mã hay Sài lang, là nói về giống Chó rừng hung dữ, xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh, có hình dáng, lông sắc phong phú như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ “quân cẩu trệ” là muốn m chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đây là mặt trái, xấu bẩn và ác của “Con” chó cũng như phần xấu, ác trong “Con” của Người.

Như vậy con chó là một trong những loài vật được người Việt nuôi từ rất sớm, nếu không nói là một trong những Dân tộc đầu tiên thuần hóa Chó rừng thành Chó nhà trong buổi bình minh Nhân loại. Từ những chứng minh khoa học đã được công bố, xác minh, trong phong tục truyền thống Việt đã không ăn thịt chó. Giáo lý cổ xưa nay còn lưu giữ truyền kỳ của Đạo Thánh Mẫu Việt có trên di tích Thiên Đàn do Vua Việt là Đế Minh lập để tế cáo Trời, Đất, dấu tích hiện vẫn còn trên núi Đại Minh, Quảng Tây, Trung Quốc có niên đại khá chính xác là năm Nhâm Tuất, cách đây 4,879 năm có khắc hàng nghìn chữ Việt cổ về chiêm bói, cúng tế và hình khắc vẽ chim và các biểu tượng khác được giải nghĩa thờ Tam vị là Trời, Đất, Nước… đến nay vẫn còn tồn tại trong tục thờ phụng Gia Tiên của Tam Tòa Thánh Mẫu là cấm kỵ ăn thịt chó, vì ăn thịt chó không khác gì ăn thịt người bạn trung thành. Người Việt gọi Chó là Tuất, được xếp hạng thứ 11 trong Lịch 12 con Giáp, Tuất đứng trước con Lợn – là Hợi.

Về nguồn gốc phong tục ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam hiện vẫn chưa có một tài liệu, chứng cứ khoa học xác thực nào. Sự ăn thịt chó của người Bắc Việt Nam có được một số giáo sĩ người Pháp viết trong bài “Bản tường trình về xứ Đàng Ngoài của cha Baladinotti” được dịch theo bản tiếng Pháp: “La relation sur le Tonkin du P. Buldinotti. BEFEO. 1903. tr. 71 -78, được viết từ Ma Cao, ngày 12-11-1626 và chuyện người Việt ăn thịt chó trong bài “Những ghi chép về xứ Bắc kỳ của đức ông De la Bissachère” được ghi như sau: “Thịt chó được xem là tuyệt hảo hơn cả và giá bán là rất đắt. Lần đầu tiên 1 người châu Âu ăn thịt chó cần phải dằn lòng và cảm thấy bị cứa nát trái tim song đã qua rồi thì chẳng còn thấy khổ đau chi nữa”. Tiếp nữa là cuốn “Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài” của tác giả người Anh là Richard, ông này cũng là thầy tu. Về tục ăn thịt chó thì ông ta viết như sau: “Tôi đã chứng kiến họ mổ thịt con chó, sau đó họ chế biến ra các món”, cho thấy người dân Đàng Ngoài (miền Bắc Việt Nam) đã ăn thịt chó từ thế kỷ XVIII, các thư tịch trước đó hiện chưa tra cứu được tục ăn thịt chó của người Việt. Ông Horcacs có viết trong sách “Một chiến dịch ở Bắc kỳ”. Tác giả là bác sĩ trong đội quân Pháp đánh thành Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX. Horcacs viết chuyện khi ở Thăng Long – Hà Nội có kể bán thịt chó: “Năm 1883, tôi từ trong thành Hà Nội đi ra chợ Cửa Đông chơi, tôi thấy có quá nhiều người bày bán thịt chó, họ để cả con vàng ươm. Nó được mang từ ngoại ô vào…”.

Tác giả Tôn Thất Thọ viết trong bài “Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt” đăng trên Web nghiencuulich sư – This entry was posted on Tháng Sáu 8, 2017, in Kho tàng văn hóa and tagged âm thực, Tôn Thất Thọ, thịt cầy, thịt chó. Bookmark the permalink có nhận xét (lược trích):

“Khoảng thập niên 1930, Hà Nội chỉ mới có 4 hay 5 quán thịt chó. Trong khi đó ở Nam bộ Việt Nam không có quán nào, gần như không mấy người biết ăn. Nguyên nhân là vì miền Nam lệ thuộc nhiều vào văn hóa Pháp, họ rất thương chó, dĩ nhiên là họ có đủ mọi phương tiện luật pháp để ngăn cấm. (Nhưng cũng có thể là do chưa có ai bày cách làm thịt chó, nhất là cách dùng các thứ gia vị!). Cũng theo nhà văn này, ở trong Nam, tương tự như món phở, chỉ biết thưởng thức món thịt chó từ sau phong trào “di cư” 1954 của dân miền Bắc. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.

Như vậy có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam, Trung Quốc, thì thế nào cũng lan truyền qua Việt Nam theo đường biên giới. Điều này có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện cho thấy, đa số cư dân ở các vùng ven biển từ Móng Cái – Lạng Sơn chạy dọc theo bờ biển về đến Hải Phòng đều biết ăn và làm thịt Cầy (có người cho rằng, từ Cầy có lẽ xuất phát từ chữ Cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ, sợ nói thành “thịt Cậu” chăng?)…”.

Như vậy, việc ăn thịt chó tại miền Bắc Việt Nam xuất hiện khi người Trung Quốc chạy sang cư ngụ ở Bắc bộ Việt Nam từ loạn Bạch Liên giáo ở Trung Quốc thời kỳ vua Gia Khánh (1796-1820) đến các triều đại Hàm Phong, Đồng trị Nhà Thanh đến loạn Thái Bình Thiên quốc, Thiên địa Hội, loạn Người Mèo và Giáo phái ở Quý Châu, lại còn có Hồng Hiệu, Thanh Hiệu, Bạch Hiệu,… mỗi cuộc biến loạn tập hợp được từ vài vạn đến hàng mấy chục vạn quân vì “ Dân thù quan binh hơn thù giặc” .

Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Kết quả khảo cứu thực tiễn hơn 37 năm lại cho thấy trong tất cả các Lễ hội dân gian cũng như thư tịch cổ ở miền Bắc Việt Nam chưa từng có mâm Lễ nào có món thịt chó, đến ngay mâm cúng giỗ Gia tiên cũng tuyệt đối không có thịt chó. Tra cứu các Giáo lý truyền kỳ mấy nghìn năm thì thịt chó là một trong các điều cấm kỵ của Đạo Thánh Mẫu Việt. Khi tra cứu về khảo sát Dân tộc học cũng như thư tịch cổ đều không rõ GS Trần Quốc Vượng căn cứ vào đâu để đưa ra nhận định như vậy? Sau này có nhiều báo chí, bài viết chỉ copy một cách vô thức, đã không đối chiếu khoa học cứ chép nguyên như vậy là một sai lầm tai hại.

Học giả Hoàng Xuân Hãn khi phát hiện sách cổ có ghi các món ăn xưa của người Việt được viết bằng chữ Nôm gọi là Cảo. Cảo ghi chép những món ăn cùng với cách làm các món ăn cách đây hơn 250 năm. Sách được viết vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng nhà Lê (1744). Cảo ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường kí lục”, nghĩa là “Sách ghi rõ những phép phải khảo khi làm các món ăn”. Nội dung sách cổ này không thấy đề cập gì đến món thịt chó. Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia, hiện nay vẫn có 11 vùng lãnh thổ trên thế giới ăn thịt chó, bao gồm: Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, México, Philippines, Polynesia, Đài Loan, Việt Nam, Bắc Cực, Nam Cực, và Thụy Sĩ. Hy vọng trong tương lai gần sẽ tìm thêm được những ghi chép cổ sử về thời gian, nguyên nhân xuất hiện tục ăn thịt chó ở miền Bắc Việt Nam được ghi trong thư tịch cổ của người Việt, của Trung Quốc hoặc của các nhà truyền giáo phương Tây hiện lưu giữ tại các thư viện nước ngoài.

Đến đây, tôi nhận thức rằng: “Lịch sử Dân tộc Việt rất coi trọng con chó, vì thế căn cứ vào Sử liệu thì tục ăn thịt chó mới chỉ xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam khoảng những năm 1780 thế kỷ XVIII, do một bộ phận người Hán ở phía Nam Trung Quốc chạy loạn đưa vào”. Vì thế, đề xuất cấm mua bán, chế biến, ăn thịt chó, mèo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội là phục hồi truyền thống Nhân văn của Dân tộc Việt.

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Người Triều Tiên cũng rất thích món thịt chó. Seoul (Hàn Quốc) từng có cả một "phố thịt chó". Từng có thời điểm trên toàn nước Hàn Quốc có tới khoảng 17.000 trang trại chó, chuyên nuôi để giết thịt.

Đầu thập niên 2000, khoảng hơn 2 triệu con chó ở Hàn Quốc bị giết thịt mỗi năm, mang lại doanh thu hơn 2 tỷ USD. Đối với người dân Hàn Quốc, thịt chó là một món ngon khó cưỡng. Tuy nhiên các món thịt chó Triều Tiên có phương thức chế biến khác Việt Nam. Thường thường thịt chó được người Triều Tiên rất quý, khi mổ chó họ hay cất giữ tủ lạnh và lấy ra dùng dần bằng cách cho vào nồi cùng với các loại rau, nấm nấu dưới dạng lẩu.

Tuy nhiên, cùng với sự phản đối ngày càng nhiều của các tổ chức bảo vệ động vật và dư luận quốc tế, người Hàn Quốc đang dần thay đổi thói quen và phong tục ăn thịt chó. Tại Thế vận hội năm 1988 tại Seoul, Giải bóng đá vô địch thế giới 2002Thế vận hội Mùa đông 2018, chính phủ Hàn Quốc phải cho đóng cửa các nhà hàng bán món này để tránh bị những người phương Tây yêu động vật kêu gọi tẩy chay.

Năm 2007, Quốc hội Hàn Quốc thông qua Luật Bảo vệ Động vật, quy định hành vi buôn bán, giết mổ chó một cách dã man là bất hợp pháp. Sau khi đạo luật này được thông qua, nhà chức trách Hàn Quốc đã bắt đầu xử lý, trừng phạt những người hành hạ, ngược đãi và sát hại dã man các loài động vật nuôi, nhất là loài chó. Năm 2016, Chính phủ Hàn Quốc đã ra lệnh cấm tự giết mổ chó và di dời các lò mổ tại chợ Moran, chợ thịt chó lớn nhất nước này. Đây được xem là một bước đi mới trong việc chấm dứt truyền thống ăn thịt chó tại nước này. Theo BBC, trước kia Seoul từng có 1.500 cửa hàng thịt chó thì nay đã giảm xuống chỉ còn 700 cửa hàng.

Hàn Quốc cũng đẩy mạnh chiến dịch vận động nhằm kêu gọi mọi người không ăn thịt chó. Dưới sức ép mạnh mẽ và những chiến dịch vận động quyết liệt, thói quen ăn thịt chó trong xã hội Hàn Quốc đã có những thay đổi. Năm 2015, chỉ còn khoảng 30% người Hàn Quốc còn ăn thịt chó và 59% người trẻ Hàn Quốc dưới 30 tuổi hoàn toàn chưa từng ăn thịt chó. Trong đó, 62% số người nói rằng chó là vật nuôi chứ không phải thực phẩm, và việc ăn thịt chó là một “nét văn hóa lỗi thời” cần được loại bỏ [cần dẫn nguồn].

Hồi tháng 11/2018, chính quyền TP Seongnam đã đóng cửa Taepyeong, lò giết mổ chó lớn nhất Hàn Quốc. Đây là thông điệp cho thấy xã hội Hàn Quốc ngày càng không hoan nghênh thịt chó. Vào tháng 6/2018, khoảng 70% người dân Hàn Quốc khẳng định họ sẽ không ăn thịt chó, so với mức 44% hồi 2015. Đầu năm 2019, hai dự luật được trình lên quốc hội Hàn Quốc với nội dung loại trừ chó khỏi danh mục gia súc và cấm dùng thức ăn thừa nuôi chó trong trang trại, nếu được thông qua thì sẽ mở đường cho việc cấm thịt chó[15]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Xẻ thịt chó ở Quảng Đông, Trung Quốc
Một đĩa thịt chó tại Quế Lâm, Trung Quốc

Món thịt chó rất phổ biến ở Trung Quốc với số lượng 20 triệu con mỗi năm, đưa nước này thành nước tiêu thụ thịt chó nhiều nhất thế giới.[16] Tiêu thụ thịt chó là hợp pháp ở Trung Quốc đại lục và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc chưa bao giờ ban hành quy trình kiểm dịch giết mổ chó.[17][18] Bán thịt chó như thực phẩm là vi phạm Luật An toàn Thực phẩm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Theo Luật phòng chống dịch bệnh động vật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Sửa đổi 2013), chó cần được tiêm phòng. Chó để ăn không được tiêm phòng, vì vậy vận chuyển hoặc bán thịt chó là bất hợp pháp.[19][20]

Việc ăn thịt chó ở Trung Quốc có từ hàng ngàn năm trước. Thịt chó (tiếng Trung: 狗肉; bính âm: gǒu ròu) là nguồn thức ăn ở một số vùng từ khoảng 500 TCN và thậm chí có thể sớm hơn. Có ý kiến cho rằng chó sói ở miền nam Trung Quốc có thể đã được thuần hóa để dùng như một nguồn thịt[21]. Nhà triết học Mạnh Tử, đã nói về thịt chó như là một loại thịt ăn được.[22] Nó được cho là có đặc tính dược liệu, và đặc biệt phổ biến trong những tháng mùa đông ở miền bắc Trung Quốc, vì nó được cho là làm tăng nhiệt độ cơ thể sau khi ăn và làm ấm người.[23][24][25] Các ghi chép lịch sử đã cho thấy trong thời kỳ khan hiếm thực phẩm (như trong các tình huống chiến tranh), thịt chó cũng được dùng như một nguồn thực phẩm khẩn cấp.[26]

Tại Trung Quốc, có những vùng hàng năm có hẳn một lễ hội giết chó, khoảng 5000 tới 15000 con chó bị giết trong các ngày lễ này.[27] Thịt chó cũng là một thực phẩm bổ dưỡng cho các phi công lái tàu vũ trụ của Trung Quốc [28]

Trung Quốc đã tổ chức lễ hội thịt chó ở thành phố Ngọc Lâm (tỉnh Quảng Tây) và gặp phải phản ứng dữ dội của các nhà hoạt động vì quyền động vật.[29]

Trước khi Thế vận hội Bắc Kinh 2008 diễn ra, chính phủ nước này đã yêu cầu bỏ thịt chó ra khỏi thực đơn của các nhà hàng để không gây khó chịu cho du khách nước ngoài.

Hồng Kông[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hồng Kông, Pháp lệnh Chó và Mèo được Chính phủ Hồng Kông thuộc Anh đưa ra vào ngày 6 tháng 1 năm 1950.[30] Pháp lệnh này nghiêm cấm việc giết mổ bất kỳ con chó hay con mèo nào để sử dụng làm thức ăn và án tù cho việc này.[31][32] Vào tháng 2 năm 1998, một người Hồng Kông đã bị kết án một tháng tù giam và phạt hai nghìn đô la Hồng Kông vì đã săn chó đường phố để làm thức ăn.[33] Bốn người đàn ông địa phương đã bị kết án 30 ngày tù vào tháng 12 năm 2006 vì đã giết hai con chó.[34]

Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt chó được một số người dân Đài Loan tin rằng có lợi cho sức khoẻ, bao gồm việc cải thiện tuần hoàn và tăng nhiệt độ cơ thể.[35] Năm 2001, chính phủ Đài Loan áp đặt một lệnh cấm bán thịt chó, do áp lực của các nhóm phúc lợi động vật trong nước đồng thời mong muốn nâng cao nhận thức quốc tế, mặc dù có một số phản đối.[36] Năm 2007, một luật khác đã được thông qua, tăng đáng kể tiền phạt dành cho người bán thịt chó.[35] Tuy nhiên, các nhà vận động nhân quyền đã cáo buộc chính phủ Đài Loan không truy tố những người tiếp tục giết mổ và phục vụ thịt chó ở các nhà hàng.

Vào tháng 4 năm 2017, Đài Loan trở thành nước Đông Á đầu tiên chính thức cấm tiêu dùng thịt chó và thịt mèo cũng như phạt tù đối với những người giết và tra tấn thú vật. Đạo luật Bảo vệ Động vật được luật pháp thông qua nhằm mục đích trừng phạt việc bán, mua hoặc tiêu thụ thịt chó hoặc thịt mèo với mức phạt từ 50.000 Đài tệ đến 2 triệu Đài tệ. Những sửa đổi luật cũng tăng cường trừng phạt đối với những người cố tình làm hại động vật đến mức tối đa là 2 năm tù giam và phạt tiền từ 200.000 Đài tệ đến 2 triệu Đài tệ.[37]

Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Philippines, thịt chó được bán với giá 1,3 đô la/kg. Việc kinh doanh, bán thịt chó mang lại cho nước này khoản doanh thu gần 3,8 triệu đô la, và gần 500.000 con chó bị giết mỗi năm.[9]

Nigeria[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt chó được tiêu thụ tại nhiều cộng đồng khác nhau ở một số bang của Nigeria, bao gồm các bang Ondo, Akwa Ibom, Cross River, Plateau, Kalaba, Taraba và Gombe của Nigeria.[38] Chúng được cho là có sức mạnh dược liệu tốt cho người ăn.[39][40]

Vào cuối năm 2014, nỗi sợ mắc bệnh virus Ebola từ thịt rừng đã khiến ít nhất một tờ báo lớn ở Nigeria đã ám chỉ rằng ăn thịt chó là một lựa chọn tốt cho sức khỏe.[41] Bài báo đó ghi nhận thịt chó được mua bán với số lượng rất lớn trong khi doanh số thịt rừng hun khói sụt giảm.

Các quốc gia Tây phương[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng thân Henrik của Đan Mạch, người từng có thời gian dài sống ở Việt Nam đã từng phát biểu rằng thịt chó là món khoái khẩu của ông [42]

Thụy Sỹ, có khoảng 250 nghìn người - tức 3% dân số - vẫn ăn thịt chó thường xuyên [43].

Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia Tây phương khác, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó được coi là tàn bạo và bị cấm.[44][45] Đã từng có nhiều phong trào trên thế giới chống lại việc giết chó làm thịt tại Hàn Quốc, Việt Nam [46] và có đưa thành nghị quyết Liên Hiệp Quốc.[47]

Các quốc gia Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tại một số quốc gia theo Hồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó bị coi là kinh tởm và bị cấm.[48] Tuy vậy giáo lý Hồi giáo chỉ cấm tín đồ ăn thịt lợn, vì vậy trên lý thuyết những người theo đạo Hồi vẫn có thể ăn thịt chó.

Tại Syria, do chiến tranh, nhiều người bị đói, vì thế người dân ở đây được phép ăn thịt chó để khỏi chết đói.[49]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

NGUY CƠ BỆNH TẬT, NHIỄM KHUẨN, HẠI GAN THẬN TỪ THỊT CHÓ

Ở góc độ khoa học, bác sĩ Nguyễn Thị Bích Ngọc, Bệnh viện 198 (Bộ Công an) thông tin: Cơ thể chó chứa nhiều loại sán, giun, ấu trùng có thể nhiễm bệnh cho người. Lây nhiễm sán dãi chó và ấu trùng sán dãi chó có thể gây mù mắt, chứng điên loạn hoặc suy yếu các bộ phận nơi sán trú ngụ khác như gan, lách, phổi. Nước dãi của chó chứa vi rút dại, dễ rơi rớt sang các chỗ khác như quần áo của người giết thịt chó, rơi vào dao, thớt... gây hiện tượng nhiễm chéo. Do bệnh dại có thời gian ủ bệnh trung bình từ 10 ngày đến 2 năm nên việc điều trị rất khó khăn. Một nguy cơ khác rất dễ xảy ra với những người thích ăn thịt chó, mèo là bị ngộ độc do ăn phải thịt chó bị đánh bả bắt trộm, do dư lượng chất độc còn trong máu, thịt của con vật.

𝐍𝐡𝐢𝐞̂̃𝐦 𝐜𝐚́𝐜 𝐯𝐢 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐯𝐚̣̂𝐭 𝐠𝐚̂𝐲 𝐛𝐞̣̂𝐧𝐡, đ𝐚̣̆𝐜 𝐛𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐥𝐚̀ 𝐯𝐢𝐫𝐮𝐬 𝐠𝐚̂𝐲 𝐛𝐞̣̂𝐧𝐡 𝐝𝐚̣𝐢

Nhiễm kí sinh trùng, đặc biệt là trứng và ấu trùng không phát triển thành giun trong ruột mà xâm nhập vào gan, phổi, các phủ tạng khác, thậm chí có thể xâm nhập vào cả não và mắt. Hiện tượng này được gọi là hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng (larva migrans) gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho con người.

𝐀̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̃𝐦 𝐡𝐨́𝐚 𝐜𝐡𝐚̂́𝐭 𝐝𝐮̀𝐧𝐠 đ𝐞̂̉ đ𝐚́𝐧𝐡 𝐛𝐚̉

Nhiễm hóa chất tồn dư trong thịt chó, đặc biệt là các hóa chất dùng để đánh bả chó, những hóa chất này thường rất độc và có thể gây chết người.

𝐀̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐦𝐚̆́𝐜 𝐛𝐞̣̂𝐧𝐡 𝐝𝐚̣𝐢

PGS.TS Bùi Vũ Huy - Giảng viên khoa Truyền Nhiễm (Đại học Y Hà Nội) cũng cho biết, những người có thói quen ăn tiết canh chó, thịt chưa nấu chín kĩ, vệ sinh dao thớt giết thịt chó không sạch sẽ và còn dính dãi của chó mang bệnh, hoàn toàn có thể mắc bệnh dại.

𝐀̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́ 𝐧𝐠𝐮𝐲 𝐜𝐨̛ 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̃𝐦 𝐥𝐢𝐞̂𝐧 𝐜𝐚̂̀𝐮 𝐤𝐡𝐮𝐚̂̉𝐧 𝐥𝐨̛̣𝐧

Bên cạnh đó người ăn thịt chó cũng có nguy cơ bị lây nhiễm các loại vi khuẩn đường tiêu hóa, nguy hiểm hơn là nhiễm liên cầu lợn gây viêm màng não, sốc nhiễm trùng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

𝐀̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́ 𝐭𝐫𝐮́𝐧𝐠 𝐛𝐚̉ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐠𝐚̂𝐲 𝐫𝐨̂́𝐢 𝐥𝐨𝐚̣𝐧 đ𝐨̂𝐧𝐠 𝐦𝐚́𝐮

Người ăn phải thịt chó bị trúng bả dễ bị nhiễm độc trong bả chó, dẫn tới rối loạn đông máu, xơ gan, suy thận…

𝐀̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐠𝐚̂𝐲 𝐤𝐡𝐨́ 𝐭𝐢𝐞̂𝐮, 𝐜𝐡𝐮̛𝐨̛́𝐧𝐠 𝐛𝐮̣𝐧𝐠

Thịt chó có chứa nhiều chất dinh dưỡng, lại giàu chất đạm. Nếu ăn thịt chó quá nhiều bạn sẽ bị nóng trong, chướng bụng, khó tiêu và ậm ạch do cơ thể phải hấp thụ một lượng đạm quá nhiều nhưng chưa kịp tiêu hóa.

𝐀̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́ 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐚̉𝐧𝐡 𝐡𝐮̛𝐨̛̉𝐧𝐠 𝐭𝐨̛́𝐢 𝐠𝐚𝐧, 𝐭𝐡𝐚̣̂𝐧

Nguy hiểm hơn, gan và thận của bạn sẽ phải làm việc hết công suất, dẫn đến quá tải, ảnh hướng xấu tới chức năng gan, thận.

𝐐𝐮𝐚̉𝐧 𝐥𝐲́ 𝐯𝐢𝐞̣̂𝐜 𝐠𝐢𝐞̂́𝐭 𝐦𝐨̂̉ 𝐤𝐢𝐧𝐡 𝐝𝐨𝐚𝐧𝐡 𝐯𝐚̀ 𝐬𝐮̛̉ 𝐝𝐮̣𝐧𝐠 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́

Liên quan tới tác hại khi ăn thịt chó, UBND Hà Nội đã ban hành văn bản tăng cường công tác quản lý nuôi, giết mổ, kinh doanh và sử dụng thịt chó, mèo trên địa bàn thành phố.

𝐂𝐡𝐨́ 𝐦𝐞̀𝐨 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ 𝐥𝐚̀ 𝐧𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧 𝐥𝐚̂𝐲 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̃𝐦 𝐝𝐢̣𝐜𝐡 𝐂𝐨𝐯𝐢𝐝-𝟏𝟗 𝐯𝐚̀𝐨 𝐇𝐚̀ 𝐍𝐨̣̂𝐢. 𝐓𝐨̂𝐢 𝐤𝐞̂𝐮 𝐠𝐨̣𝐢 𝐜𝐨̣̂𝐧𝐠 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐚̂́𝐦 𝐝𝐮̛́𝐭 𝐚̆𝐧 𝐭𝐡𝐢̣𝐭 𝐜𝐡𝐨́, đ𝐨̣̂𝐧𝐠 𝐯𝐚̣̂𝐭 𝐡𝐨𝐚𝐧𝐠 𝐝𝐚̃ - 𝐨̂𝐧𝐠 𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂̃𝐧 Đ𝐮̛́𝐜 𝐂𝐡𝐮𝐧𝐠 𝐧𝐨́𝐢. "Được biết động vật hoang dã và thịt chó, mèo dễ là nguồn lây nhiễm nhiều loại bệnh tật không kiểm soát được, dịch covid-19 vừa qua là một ví dụ rõ rệt."

UBND TP yêu cầu Sở Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan truyền thông phổ biến về tính chất nguy hiểm của bệnh dại để người dân chủ động phòng, chống. Sở này cũng cần tuyên truyền về nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm khi sử dụng thịt chó, mèo làm thực phẩm; ý nghĩa nhân văn của việc đối xử nhân đạo với súc vật để dần thay đối thói quen và nhận thức khi sử dụng thit chó, mèo làm thực phẩm, đảm bảo văn minh đô thị.

Theo UBND Hà Nội, việc kinh doanh, giết mổ và sử dụng thịt chó, mèo đã tạo ra những phản cảm đối với khách tham quan du lịch, du khách quốc tế sinh sống, làm việc tại Hà Nội, làm ảnh hưởng đến hình ảnh của một Thủ đô văn minh, hiện đại. Ngoài ra, việc này còn tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh các bệnh truyền nhiễm như dại, xoắn khuẩn, tả... cho những người tham gia quá trình kinh doanh, giết mổ và sử dụng thịt chó, mèo. Về lâu dài, Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội sẽ tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội xây dựng quy định liên quan đến việc dừng kinh doanh thịt chó, mèo, trình UBND thành phố phê duyệt, theo đó dự kiến khoảng năm 2021, các quận nội thành Hà Nội sẽ thực hiện cấm bán thịt chó, mèo.

Hiện nay Việt Nam không thừa nhận việc giết mổ chó với mục đích thực phẩm. Tại khoản 2 Điều 36 Thông tư số 09 cũng không quy định việc kiểm tra vệ sinh thú y, cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm đối với cơ sở giết mổ chó và kinh doanh thịt chó.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schwabe, Calvin W. (1979). Unmentionable cuisine. University of Virginia Press. tr. 168. ISBN 978-0-8139-1162-5.Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  2. ^ Rupert Wingfield-Hayes (ngày 29 tháng 6 năm 2002). “China's taste for the exotic”. BBC News. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
  3. ^ Anthony L. Podberscek (2009). “Good to Pet and Eat: The Keeping and Consuming of Dogs and in South Korea” (PDF). Journal of Social Issues. 65 (3): 615–632. doi:10.1111/j.1540-4560.2009.01616.x. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2011. 'Dog meat is eaten nationwide and all year round, although it is most commonly eaten during summer, especially on the (supposedly) three hottest days.
  4. ^ “Vietnam's dog meat tradition”. BBC News. ngày 31 tháng 12 năm 2001. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
  5. ^ “Dachshunds Are Tenderer”. Time Magazine. ngày 25 tháng 11 năm 1940. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  6. ^ Mawson, Douglas. “The Home of the Blizzard”.
  7. ^ Czajkowski, C. (2014). “Dog meat trade in South Korea: A report on the current state of the trade and efforts to eliminate it”. Animal Law. 21: 29–151.
  8. ^ William Saletan (ngày 16 tháng 1 năm 2002). “Wok The Dog -- What's wrong with eating man's best friend?”. slate.com. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2007.
  9. ^ a ă “Nhà hàng đầu tiên ở Mỹ được bán thịt chó?”. VietNamNet. Truy cập 28 tháng 11 năm 2019.
  10. ^ “Người Việt yêu vàng, uống bia, ăn mỳ tôm hàng top”. Báo Đất Việt. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ “Mỗi năm 5 triệu con chó và 1 triệu con mèo bị giết lấy thịt tại Việt Nam”. Đài Á Châu Tự do. Truy cập 26 tháng 3 năm 2020.
  12. ^ Những thương hiệu thịt chó đất Bắc mềm lòng dân nhậu
  13. ^ “Tản mạn về một thú ẩm thực”. Báo Hànộimới. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
  14. ^ “800 dân giết trộm chó:Người khởi tố liên quan tới án oan!”. Báo Đất Việt. Truy cập 10 tháng 3 năm 2017.
  15. ^ https://thanhnien.vn/the-gioi/han-quoc-huong-den-xa-hoi-khong-thit-cho-1039910.html
  16. ^ Hong Tuyet (ngày 24 tháng 12 năm 2016). “47 dogs seized as police bust dog meat ring in southern Vietnam”. VnExpress. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2017.
  17. ^ “农业部关于印发《生猪屠宰检疫规程》等4个动物检疫规程的通知”. Ministry of Agriculture. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017.
  18. ^ Chinese Ministry of Agriculture (2001). 畜禽屠宰卫生检疫规范(NY 467-2001). China Standard Pres. tr. 3–4. ISBN 155066213877 Kiểm tra giá trị |isbn=: số con số (trợ giúp). Đã bỏ qua tham số không rõ |ignore-isbn-error= (gợi ý |isbn=) (trợ giúp)
  19. ^ Fullerton, J. (ngày 17 tháng 6 năm 2015). “Yulin Dog Meat Festival: Netizens rally in defence of event that will see 10,000 cats and dogs slaughtered”. The Independent. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  20. ^ Fullerton, J. (ngày 22 tháng 6 năm 2015). “Yulin dog meat festival: Chinese city retains its appetite despite months of protests”. The Independent. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  21. ^ Wade, Nicholas (ngày 7 tháng 9 năm 2009). “In Taming Dogs, Humans May Have Sought a Meal”. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012.
  22. ^ Liang Shih-chiu (2005). Ya she xiao pin xuan ji. Chinese University Press. tr. 144. ISBN 978-962-996-219-7. Translated by Ta-tsun Chen.
  23. ^ Simoons, Frederick J. (1991). Food in China: a cultural and historical inquiry. CRC Press. tr. 24, 38, 149, 305, 309–315, 317, 332. ISBN 978-0-8493-8804-0.
  24. ^ Jeffries, Stuart (ngày 29 tháng 12 năm 2004). “Fang shui”. Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2006.
  25. ^ “Dog meat row hits HK chain”. BBC News. ngày 4 tháng 8 năm 2002.
  26. ^ Wakabayashi, Bob Tadashi (2007). The Nanking atrocity, 1937–38: complicating the picture . Berghahn Books. tr. 235. ISBN 978-1-84545-180-6.
  27. ^ “陝西榆林10天美食節 1萬5千隻狗慘遭下肚 NOWnews 今日新聞”. NOWnews 今日新聞. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
  28. ^ “China Astronauts Eat Dog Meat In Space”. The Huffington Post. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
  29. ^ “Phản ứng dữ dội lễ hội thịt chó”. Thanh Niên Online. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
  30. ^ “Dogs and cats ordinance”. Department of Justice (Hong Kong). ngày 6 tháng 1 năm 1950. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2009.
  31. ^ “Slaughter of dog or cat for food prohibited”. Department of Justice (Hong Kong). ngày 30 tháng 6 năm 1997. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2006.
  32. ^ “Slaughter of dog or cat for food – Penalty”. Department of Justice (Hong Kong). ngày 30 tháng 6 năm 1997. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2006.
  33. ^ “First Case Imprisonment in HK for Dog Meal”. ngày 29 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2006.[liên kết hỏng]
  34. ^ Cheng, Jonathan (ngày 23 tháng 12 năm 2006). “Dog-for-food butchers jailed (DUBIOUS first case)”. The Standard – China's Business Newspaper. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2007.
  35. ^ a ă “Taiwan law takes bite out of dog meat sales”. ngày 17 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  36. ^ “Taiwan bans dog meat”. BBC News. ngày 2 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
  37. ^ “Taiwan becomes first country in Asia to ban eating of cat and dog meat”. ngày 10 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2017.
  38. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên simoons1994p229
  39. ^ Murray, Senan (7 tháng 3 năm 2007). “Dog's dinners prove popular in Nigeria”. BBC News. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2006.
  40. ^ Volk, Willy (ngày 7 tháng 3 năm 2007). "Man bites dog": Dining on dog meat in Nigeria”. gadling.com.
  41. ^ Shobayo, Isaac. “EBOLA: Jos residents shun bush meat, stick to dog meat”. tribune.com.ng. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2014.
  42. ^ Prince's taste for dog, The Sydney Morning Herald
  43. ^ Chuyện ăn thịt chó ở đất nước giàu có bậc nhất thế giới
  44. ^ “Withdraw The "Hygienic Control of Dog Meat". Korean Animal Protection Society. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  45. ^ “Koreans At Their Worst - Killing & Eating Dogs and Cats”. dogbiz.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  46. ^ “Comments on action 'Stop the dog-meat trade in Korea'. AnimalFreedom.org. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  47. ^ Sirius Global Animal Organisation UN recognised charity campaigning to end the use of dogs for meat
  48. ^ “Translation of Sahih Muslim, Book 21: The Book of Games and the Animals which May be Slaughtered and the Animals that Are to be Eaten”. USC-MSA Compendium of Muslim Texts. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. Chapter 3: It is unlawful to eat fanged beasts of prey and birds with talons
  49. ^ “Người dân Syria được phép ăn thịt chó để khỏi chết đói”. Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]